PDA

View Full Version : ĐẠI HỘI TRUYỀN GIÁO TOÀN QUỐC



gioanha
04-10-2010, 09:15 PM
ĐẠI HỘI TRUYỀN GIÁO TOÀN QUỐC

http://thanhcavietnam.info/gioanha/PICTURE/daihoitruyengiao/image002.jpg

Kính thưa quý vị,

Năm thánh 2010, kỷ niệm 350 năm thiết lập hai giáo phận đầu tiên tại việt Nam và 50 năm thành lập hàng Giáo phẩm, là dịp thuận tiện để GHVN tạ ơn Thiên Chúa và nhìn lại chặng đường truyền giáo đã qua. Có nhiều hoạt động đã, đang và sẽ diễn ra trong Năm Thánh như: lễ khai mạc, các cuộc học hỏi về Giáo Hội, hành hương, Đại Hội Dân Chúa… nhằm thúc đẩy người tín hữu ý thức hơn vai trò và sứ mạng loan báo Tin Mừng của mình trong thế giới hôm nay. Trong tinh thần đó, Uỷ Ban Loan Báo Tin Mừng (UBLBTM) trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (HĐGMVN) sẽ tổ chức Đại Hội Truyền Giáo Toàn Quốc tại giáo xứ Hà Nội, giáo phận Xuân Lộc từ ngày 30/9 – 2/10/2010 với chủ đề: “Kitô Hữu Chứng Nhân và Khí Cụ Loan Báo Tin Mừng”.

Mục đích của Đại Hội nhằm rút tỉa kinh nghiệm truyền giáo của GHVN trong thời gian qua, đồng thời thúc đẩy công cuộc loan báo Tin Mừng trong bối cảnh xã hội hôm nay, nhất là nhấn mạnh và cổ võ vai trò người giáo dân trong công tác loan báo Tin Mừng như tinh thần của công đồng Vaticano II.

Đại Hội diễn ra với các bài tham luận của nhiều giám mục và thuyết trình viên: ĐC. Micae Hoàng Đức Oanh, giám mục giáo phận Kontum, trưởng ban Loan Báo Tin Mừng HĐGMVN; ĐC. Phaolô Nguyễn Thái Hợp, giám mục giáo phận Vinh; ĐC. Đaminh Nguyễn Chu Trinh, giám mục giáo phận Xuân Lộc; ĐC. Tôma Vũ Đình Hiệu, giám mục phụ tá giáo phận Xuân Lộc và một số các Đức Cha khác; Lm. Augustinô Nguyễn Văn Trinh, giáo sư ĐCV thánh Giuse thành phố HCM; Lm. Đaminh Ngô Quang Tuyên, tổng thư ký UBLBTM; Lm. Giuse Trịnh Tín Ý, Lm. Vinhsơn Vũ Ngọc Đồng; Lm. Đaminh Trần Xuân Thảo; Nt. Maria Trần Thị Kim Loan (OP); chị Anna Phạm Thị Lưu Khánh, giáo phận Xuân Lộc và một số các chứng từ truyền giáo do các tu sỹ nam nữ và giáo dân đóng góp.

Chúng tôi sẽ cập nhật chi tiết diễn tiến các ngày Đại Hội để phục vụ quý vị trong những ngày này. Xin mọi người cùng hiệp ý cầu nguyện cho Đại Hội và đồng thời cộng tác vào sứ vụ loan báo Tin Mừng của Hội Thánh, vì đó là bổn phận và bản chất của mỗi Kitô hữu.


Ban Thư Ký Đại Hội 2010


xxxxx



GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VIỆT NAM

ĐẠI HỘI LOAN BÁO TIN MỪNG TOÀN QUỐC


http://thanhcavietnam.info/gioanha/PICTURE/daihoitruyengiao/image001.jpg

Trong ba ngày, từ ngày 30.09.2010 đến hết ngày mùng 02.10.2010, Ủy Ban Loan Báo Tin Mừng trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam tổ chức Đại Hội Loan Báo Tin Mừng Toàn Quốc, với chủ đề: KITO HỮU “CHÚNG NHÂN VÀ KHÍ CỤ SỐNG ĐỘNG” CỦA SỨ VỤ LOAN BÁO TIN MỪNG. ( AG 41), được tổ chức tại Giáo xứ Hà Nội, hạt Hố Nai, Giáo phận Xuân Lộc.

Buổi sáng bầu trời vùng Hố Nai, Biên Hòa đẹp quá! Hòa với không khí những ngày chuẩn bị mừng lễ đạo đời, gần 300 đại biểu trên toàn quốc về tham dự Đại Hội.

Khai mạc Đại Hội có Đức Cha Micae Hoàng Đức Oanh- Đặc trách Uỷ Ban Loan Báo Tin Mừng của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Đức Cha Đaminh Nguyễn Chu Trinh - Giám Mục Xuân Lộc, Đức Cha Phaolo Bùi Văn Đọc – Giám Mục Mỹ Tho, Đức Cha Phaolo Nguyễn Thái Hợp – Giám Mục Vinh, và gần 300 đại biểu là Qúy Linh Mục, Tu Sĩ, và Giáo Dân đại diện cho các Ủy Ban Loan Báo Tin Mừng của các giáo phận trên toàn quốc.

Trong ngày đầu Đại Hội, buổi sáng các đại biểu đã được nghe quý cha: Augustino Nguyễn Văn Trinh, giáo sư, trình bày đề tại Lịch sử Truyền giáo, và cha Đaminh Ngô Quang Tuyên, Tổng Thư Ký UBLBTM trình bày đề tài Loan báo Tin mừng theo chỉ dẫn của Công Đồng Vatican II.

Buổi chiều, các Đại biểu được nghe các Bản Báo cáo của Dòng Don Bosco, Dòng Mến Thánh Gía Thủ Thiêm, báo cáo của giáo dân Sài Gòn, giáo dân Xuân Lộc

Trước khi kết thúc ngày Đại Hội thứ nhất, các đại biểu đã di chuyển đến các điểm hội thảo.

Các đại biểu đã làm việc trong tinh thần nghiêm túc, diễn tiến đúng chương trình đã đề ra. Được biết, “Đây là việc hệ trọng và cấp thiết cho công cuộc loan báo Tin Mừng, và đồng thời còn là vinh dự lớn cho giáo xứ Hà Nội, giáo hạt Hố Nai nói chung”.

Cha Đaminh Trần Xuân Thảo, chánh xứ Hà Nội, kiêm quản hạt đã lưu ý đến từng chi tiết nhỏ cho chương trình đại hội này, Ngài đã lo lắng chuẩn bị chu đáo nơi ăn chốn nghỉ ngơi cho các đại biểu về tham dự ba ngày đại hội một cách tốt đẹp.

Chúng con xin được cung cấp thông tin sinh hoạt đại hội trong từng ngày để Quý cha và quý vị tiện theo dõi và cầu nguyện.


Ban Biên tập



xxxxx



ĐẠI HỘI TRUYỀN GIÁO TOÀN QUỐC LẦN I


Chủ đề: Ki-tô hữu chứng nhân và khí cụ loan báo Tin Mừng


http://thanhcavietnam.info/gioanha/PICTURE/daihoitruyengiao/imageNT.jpg

Xuân Lộc: Giáo xứ Hà Nội ngày 30.09.2010. Ngay từ sáng sớm, bầu không khí của giáo xứ đã trở nên nhộn nhịp bởi những bước chân vội vã của các nhà truyền giáo từ khắp cả nước đổ về trung tâm giáo xứ Hà Nội, nơi đăng cai tổ chức đại hội truyền giáo lần thứ nhất.

Tham dự đại hội có Đức Cha Micae Hoàng Đức Oanh, Giám mục Giáo phận Kontum, Chủ tịch UB.LBTM; Đức Cha Đa Minh Nguyễn Chu Trinh, Giám mục Giáo phận Xuân Lộc; Đức Cha Phaolo Bùi Văn Đọc, Giám mục Giáo phận Mỹ Tho; Đức Cha Phaolo Nguyễn Thái Hợp, Giám mục Giáo phận Vinh; Cha Đa Minh Ngô Quang Tuyên, Tổng thơ ký UB.LBTM; Cha Đa Minh Trần Xuân Thảo, Cha xứ Giáo xứ Hà Nội, thành viên BTC; quý cha Trưởng ban LBTM của 26 giáo phận; quý bề trên các dòng tu; quý nam nữ tu sĩ và quý đại biểu giáo dân các giáo phận.

Đến tham dự đại hội còn có ông Dương Ngọc Tấn, Vụ trưởng Vụ Công giáo Ban Tôn Giáo Chính Phủ; bà Đào Thị Đượm, bà Phạm Phương Hoa, Ủy viên vụ Công giáo. Đại diện Ban Tôn Giáo tỉnh Đồng Nai có ông Nguyễn Quốc Vũ, Chánh văn phòng BTG tình Đồng Nai; bà Đinh Thị Xuân Trang, Trưởng phòng Kito Giáo và ông Nguyễn Xuân Chiến, Phó chủ tịch UBMT tỉnh Đồng Nai.


http://thanhcavietnam.info/gioanha/PICTURE/daihoitruyengiao/imageDC.jpgBước chân vào cổng giáo xứ, quý đại biểu đã được đón tiếp một cách nồng hậu bằng hai hàng rào danh dự của những giáo dân trong xứ. Không khí còn trở nên ấm cúng và thân thương hơn nữa, khi quý đại biểu còn được đón chào bằng những tiếng cồng chiêng của anh chị em thiểu số.
Tiếng cồng chiêng ấy như mời gọi mọi người bước chân nhanh hơn đến với Thầy Giêsu nhà truyền giáo vĩ đại nhất; tiếng cồng chiêng ấy cũng như muốn mời gọi mọi người hãy cùng nhau rảo bước trên cánh đồng truyền giáo bao la.

Đúng 8.20 phút, đoàn rước bắt đầu từ từ tiến bước vào nhà thờ Hà Nội, nơi đại hội diễn ra. Dẫn đầu là Thánh Giá nến cao, Kèn Tây, các em thiếu nhi, các đệ tử Dòng Đa Minh Rosa Lima trong trang phục áo dài Việt Nam. Các em cầm cờ và bảng hiệu ghi tên từng giáo phận. Thứ tự các đại biểu như sau: Giáo tỉnh Hà Nội, Giáo tỉnh Huế, Giáo tỉnh Sài Gòn và cuối cùng là quý Đức Cha trên chiếc thuyền ra khơi.


http://thanhcavietnam.info/gioanha/PICTURE/daihoitruyengiao/imageCH.jpg

Sau khi đoàn rước vào nhà thờ và ổn định chỗ ngối, Tin Mừng và nến Phục sinh được rước lên lễ đài. Kế đến là nghi thức tưởng niệm các vị tử đạo. Sau nghi thức tưởng niệm các vị tử đạo, Đức Cha Micae Hoàng Đức Oanh phát biểu khai mạc đại hội.

Trong tinh thần đối thoại hiểu biết lẫn nhau, ông Dương Ngọc Tấn, thay mặt Ban tôn giáo Trung Ương đã có lời phát biểu chúc đại hội thành công tốt đẹp. Và cuối cùng, trước khi vào phần thuyết trình, Cha Đa Minh Trần Xuân Thảo đã đọc thư của Đức Tổng Giám Mục Hà Nội gửi cho đại hội.

Phần Thuyết Trình: Buổi sáng hôm nay có hai bài thuyết trình. Bài thứ nhất: Lược Duyệt Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng Tại Việt Nam Trong Lịch Sử, do giáo sư Augustinô Nguyễn Văn Trinh trình bày. Sau 15 phút giải lao, các đại biểu tiếp tục được nghe bài thuyết trình thứ hai: Loan Báo Tin Mừng Theo Chỉ Dẫn Của Công Đồng Vaticano II, do Cha Đa Minh Ngô Quang Tuyên, Tổng thư ký UB. LBTM trình bày. Đúng 11 giờ đại hội tạm nghỉ. Đại hội sẽ bắt đầu lại lúc 13.30 phút.


Ban thư ký.


XXX


Đại Hội Truyền Giáo Toàn Quốc Lần I

Chủ đề: Ki-tô hữu chứng nhân và khí

cụ loan báo Tin Mừng

Sau một giờ ba mươi phút nghỉ trưa, đại hội trở lại bằng những bài thuyết trình và chia sẻ kinh nghiệm thực tế của một số dòng tu và nhóm tông đồ giáo dân. Cha dẫn chương trình Nguyễn Đình Công đã mời gọi quý đại biểu cùng nhau hát vang lời bài hát ‘I offer my life’ (Dâng Chúa đời con) để tạo bầu khí mới cho đại hội. Lời bài hát: ‘Lord, I offer my life to You’ (Lạy Chúa, xin dâng Ngài cuộc sống con) như đang nói lên tinh thần của mỗi đại biểu đang tham dự đại hội vậy.

Các đề tài thuyết trình và chia sẻ chiều ngày thứ nhất (30/09/2010)

Đề tài thứ nhất: Hội Dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm Truyền Giáo, do Dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm trình bày. Qua phần trình bày, hội Dòng Mến Thánh Giá không những cho thấy sứ vụ LBTM của mình mà còn nói lên tất cả những hoạt động truyền giáo cụ thể đang làm.

Cuối cùng, chị em cũng đưa ra nhận định rằng: Trong các lãnh vực của đời sống tông đồ, mỗi giai đoạn có những hình thức và đối tượng cụ thể, từ đó nảy sinh nhiều khó khăn hàm ẩn trong chính công việc phục vụ của mình, đòi hỏi chị em không ngừng phấn đấu, cập nhật và thích ứng.

Đề tài thứ 2: LBTM cho người di dân, do cha Phanxico Nguyễn Văn Thiệu dòng Bosco trình bày. Có thể nói, bài nói chuyện của cha Thiệu là một kinh nghiệm thực tế mà cha đã đúc kết được sau bảy năm ngài làm việc với anh chị em di dân. Sau phần trình bày cụ thể về những việc đã làm cũng như những vấn nạn của di dân, cha Thiện đã đúc kết như sau: Di dân là một thách đố mới cho sứ vụ LBTM của Giáo hội. Nhưng di dân cũng là một môi trường tốt để LBTM.

Đề tài thứ 3 là một bài chia sẻ kinh nghiệm thực tế về công việc LBTM của chị Anna Phạm Thị Lưu Khánh, thành viên của nhóm Tác Viên Tin Mừng Hạt Phương Lâm, Giáo phận Xuân Lộc hay còn gọi là nhóm Ba Lô. Trong bài chia sẻ, chị đã nói lên được những thành công mà nhóm làm được cũng như những khó khăn mà nhóm gặp phải trong khi làm việc. Đặc biệt, chị đã nói lên được kinh nghiệm để vượt khó mỗi khi gặp phải đó là: chạy đến với Chúa và đến với chị em.

Sau 15 phút giải lao, đại hội tiếp tục qua phần hội thảo nhóm. Các đại biểu tham dự đại hội được chia làm ba nhóm để thảo luận, trong đó mỗi đức cha tham dự ở một nhóm. Các nhóm hội thảo do giáo dân chủ trì.

16.45 phút, đại hội tạm nghỉ và chuẩn bị ăn tối. Sau khi ăn tối, một số đại biểu được xe đưa rước đưa về khách sạn nghỉ.

19 giờ, chương trình văn nghệ chào mừng đại hội bắt đầu. Chương trình diễn ra với các tiết mục thật sống động, hào hứng và ý nghĩa theo chủ đề của đại hội.

Những ánh nến được thắp lên khi kết thúc chương trình của ngày thứ nhất như sự nhắc nhở, như khơi dậy trong lòng các đại biểu tham dự Đại Hội và thành phần dân Chúa Việt Nam cần đốt nóng lên lửa yêu thương và lòng nhiệt thành trong công cuộc loan báo tin mừng.


XXX



ĐẠI HỘI TRUYỀN GIÁO TOÀN QUỐC LẦN I

Chủ đề: Ki-tô hữu chứng nhân và khí cụ loan báo Tin Mừng

Xuân Lộc: 01/10/2010, ngày thứ hai của đại hội: Sau giờ ăn sáng, 26 cha đặc trách truyền giáo của 26 giáo phận đã ngồi lại cùng Đức Cha Micae Hoàng Đức Oanh, Cha Đa Minh Ngô Quang Tuyên, Tổng thơ ký UB. LBTM, Cha Đa Minh Trần Xuân Thảo và một số cha giáo. Cuộc họp bất thường đã diễn ra trong bầu không khí chân tình và cởi mở. Quý cha đã đưa ra những ý kiến đóng góp xây dựng cho đại hội hôm qua cũng như rút kinh nghiệm cho hai ngày còn lại và nhất là cho những đại hội tiếp theo.

Các bài thuyết trình buổi sáng nay:

Đề tài 1: Hội Nhập Văn Hóa Trong Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng, do Đức Giám Mục Phaolo Nguyễn Thái Hợp, Giám Mục Giáo phận Vinh trình bày. Mở đầu bài thuyết trình ngài nói: “Đức Giesu đã LBTM cách đây hai ngàn năm trong một khung cảnh địa lý, không gian, thời gian, văn hóa và xã hội nhất định. Sau hai ngàn năm, nội dung căn bản của sứ điệp Tin Mừng vẫn là một, nhưng khung cảnh và bối cảnh đã hoàn toàn đổi khác. Nếu việc thay đổi về lịch sử, văn hóa và xã hội không ảnh hưởng đến nội dung Tin Mừng, thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng sâu xa đến phương pháp loan báo Tin Mừng.”

Trong bài thuyết trình ngài đã đề cập đến định nghĩa về văn hóa; tiếp đó là Giáo hội quan niệm thế nào về văn hóa; tương quan giữa văn hóa và LBTM; chiều kích văn hóa của LBTM và cuối cùng là tản mạn chung quanh vấn đề hội nhập văn hóa.

Cuối bài thuyết trình, ngài cũng đưa ra đề nghị với đại hội lần tới nếu có: nên đặt nặng nội dung hơn nữa, xin nêu rõ sợi chỉ đỏ của đại hội, mục tiêu gần muốn nhắm tới và dự phóng trong tương lai.

Đề tài 2: Báo Cáo Về Chương Trình Kể Chuyện Chúa Giesu Tại Giáo Phận Long Xuyên, do Lm. Isid. Bùi Văn Tăng trình bày. Với 45 phút trình bày, ngài đã phác họa cho quý hội thảo viên thấy được toàn bộ chương trình kể chuyện Chúa Giesu đã và đang thực hiện tại Giáo phận Long Xuyên từ 2007 cho đến nay.

Đề tài 3 và cũng là đề tài cuối cùng của buổi sáng hôm nay: Hội Nhập Tin Mừng Vào Văn Hóa: con đường khổ ải, do Lm. Giuse Trịnh Tín Ý trình bày. Bài thuyết trình được chia làm ba phần: Loan báo Tin Mừng cho các nền văn hóa; Bi kịch hội nhập và Loan báo Tin Mừng trong nền văn hóa Việt Nam.

Để kết thúc cho bài thuyết trình, ngài đã dùng hình ảnh của Procusto, một tên cướp ác độc và ngang ngược để nói lên thái độ khép kín đời người vào một khuôn mẫu tạo ra từ một lối nhìn, một quan điểm, một lập trường tù túng nào đó.

Đại hội sẽ bắt đầu lại lúc 13.30 sau giờ nghỉ trưa.


XXX


ĐẠI HỘI TRUYỀN GIÁO TOÀN QUỐC LẦN I

Tối qua, 1/10/2010 là ngày thứ 2 trong 3 ngày của đại hội truyền giáo tòan quốc và cũng là ngày lễ kính thánh Têrêsa Hài Đồng GiêSu, vị đại thánh của truyền giáo. Người đã làm những việc tầm thường cho công việc truyền giáo một cách phi thường.

Thánh lễ Đại triều được diễn ra một cách long trọng.

Trước khi Thánh Lễ, một lần nữa con tàu mang Lời Chúa, đựơc rước quanh giáo đường Hà Nội, giáo phận Xuân Lộc. Những ánh nến lung linh được thắp lên, những tiếng cồng chiêng, hội kèn đồng vang lên, tô thêm vẻ trang nghiêm và mang đậm nét văn hóa Việt Nam.

Các đai biểu cùng con chiên giáo hạt Hố Nai cùng tham dự thánh lễ cách sốt sắng.

Bằng lối diễn đạt rất thực tế và sâu sắc. Bài giảng của Đc Micae đã thổi bùng lên ngọn lửa truyền giáo trong lòng các đại biểu và con chiên hạt Hố Nai “ Truyền giáo đang là nhu cầu cấp thiết cho giáo hội Việt Nam, mỗi Ki tô hữu phải thực sự là chứng nhân và là khí cụ loan báo tin mừng”


XXX



KẾT THÚC ĐẠI HỘI LOAN BÁO TIN MỪNG

Xuân lộc: 2/10/2010, Đaị Hội Loan Báo Tin Mừng Toàn Quốc bước sang ngày làm việc cuối cùng của ba ngày đại hội. Trong ngày làm việc thứ nhất, các đại biểu được quý Đức Cha và thuyết trình viên hướng dẫn nhìn lại hành trình Loan Báo Tin Mừng của Giáo Hội Việt Nam trong thời gian qua, đồng thời điểm qua những giáo huấn quan trọng về việc Loan Báo Tin Mừng mà công đồng Vatican II đã đề cập. Từ những tiêu chí cơ bản đó, ngày thứ hai, các đại biểu được hướng dẫn đào sâu khía cạnh đưa Tin Mừng Chúa Kito vào bối cảnh xã hội Việt Nam hôm nay.

Bước qua ngày thứ ba và cũng là ngày làm việc cuối cùng của đại hội, các đại biểu được mời gọi suy tư sâu hơn cho định hướng Loan Báo Tin Mừng của GHVN. Dựa vào hoàn cảnh xã hội hôm nay, các thuyết trình viên chia sẻ những gợi ý cho việc Loan Báo Tin Mừng dựa vào công tác bác ái xã hội. Các bài tham luận như: “Thử Đưa Ra Chương Trình Truyền Giáo 10 Năm Tới Tại Việt Nam”do linh muc J.B. Trần Thanh Công, giáo phận Cần Thơ; “Loan báo Tin Mừng và Thi Hành Bác Ái” linh mục Vinhsơn Vũ Ngọc Đồng, SDB, giám đốc Caritas tổng giáo phận TP HCM và “Trao Cây Gậy Truyền Giáo Cho Người Giáo Dân”do Cha Đaminh Trần Xuân Thảo, đặc trách UBLBTM giáo phận Xuân Lộc… được xem như những gợi ý để đại biểu tiếp tục suy tư.

Buổi chiều, các đại biểu trao đổi và thông qua một bản ghi nhớ trong đó đúc kết những ý kiến, ưu tư đóng góp cho công tác Loan Báo Tin Mừng. Bản ghi nhớ này được công bố trước các đại biểu và trao cho Đức Cha Chủ Tịch UBLBTM để trình lên HĐGMVN. Tiếp đến là phần bế mạc Đại Hội.

Hiện diện trong nghi thức bế mạc còn có Đức Cha Đaminh Nguyễn Chu Trinh, giám muc giáo phận Xuân Lộc, Đức Cha Tôma Vũ Đình Hiệu, giám mục phụ tá giáo phận Xuân Lộc, Đức ông Vicent Đặng Văn Tú, tổng đại diện giáo phận Xuân Lộc, Đức ông Phêrô Đinh Đức Đạo, giám đốc ĐCV thánh Giuse cơ sở 2 tại Xuân Lộc và nhiều quý quan khách khác. Sau phần diễn từ bế mạc của Đức Cha Đaminh Nguyễn Chu Trinh, các đại biểu cùng tham dự giờ chầu bế mạc do Đức Cha Micae Hoàng Đức Oanh chủ sự.

Ba ngày làm việc của Đại Hội Loan Báo Tin Mừng Toàn Quốc đã kết thúc. Tuy nhiên công cuộc Loan Báo Tin Mừng không kết thúc ở đó mà có thể nói là mới bắt đầu. Xin mọi người tiếp tục cầu nguyện, cộng tác vào công tác Loan Báo Tin Mừng của Hội Thánh vì bản chất Kito hữu là truyền giáo và như lời Thánh Phaolo đã nói khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng.


Ban Thư Ký Đại Hội 2010

gioanha
04-10-2010, 09:38 PM
HỘI NHẬP TIN MỪNG VÀO VĂN HÓA

CON ĐƯỜNG KHỔ ẢI


Linh Mục Giuse Trịnh Tín Ý

http://thanhcavietnam.info/gioanha/PICTURE/daihoitruyengiao/tinhtiny.jpg

Con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và giống Thiên Chúa”[1]. Và do những gãy đổ trong tương quan giữa con người với Thiên Chúa và với nhau, hình ảnh Thiên Chúa nơi con người bị méo mó. Nhưng dù phai lạt hình ảnh Thiên Chúa, con người vẫn còn đó nét cao đẹp phản ảnh Thiên Chúa. Nét cao đẹp này là tâm chất, thiện căn của con người hòa nhập với nhau, toát ra phong cách sống, hình thành nề nếp, phong tục, trở nên các giá trị được xã hội chọn lựa. Đó là văn hóa. Đức Giêsu làm người đã nhận lấy một gia đình, làm con cháu trong một dòng họ, hòa mình giữa dân tộc, tháp nhập vào một nền văn hóa. Nói khác Đức Giêsu đã hội nhập vào một nền văn hóa và giảng dạy Tin Mừng Cứu Độ qua một nền văn hóa. Theo mẫu hội nhập văn hóa của Người, Giáo Hội đòi chúng ta hội nhập văn hóa để loan báo Tin Mừng đến các nền văn hóa.

Ngay từ thời Giáo Hội sơ khai, khi dọc ngang khắp những nẻo đường truyền giáo, Thánh Phaolô đã xác nhận, “Với người Do Thái, tôi đã trở nên Do Thái, để chinh phục người Do Thái. Với những ai sống theo Lề Luật, tôi đã trở nên người sống theo Lề Luật... Để chinh phục những người sống theo Lề Luật”[2]. Không phải vì lợi ích rao giảng, Phaolô chỉ muốn cải trang để thay đổi hời hợt một nếp sống kiểu đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy! Nhưng Phaolô muốn hội nhập tận căn như Huấn Thị Đi Tìm Đường Hướng Mục Vụ Cho Văn Hoá (ĐTHMV) của Hội Đồng Giáo Hoàng Về Văn Hóa giải thích: “Vấn đề là Phúc Âm hóa Văn hóa và các nền văn hóa của con người (không phải chỉ hời hợt theo kiểu trang trí hoặc như một lớp dầu bóng bên ngoài, nhưng còn sống chết biến đổi tận gốc rễ)”. Theo nghĩa rộng và phong phú của từ ngữ Phúc Âm hóa được đề cập trong Hiến chế Gaudium et Spes, Phúc Âm hóa bao giờ cũng lấy con người làm khởi điểm và luôn trở về với các mối tương quan của con người với nhau và với Thiên Chúa. Trong Thông Điệp Redemptoris Missio, Đức Gioan Phaolô II cũng xác định, hội nhập văn hóa là “biến đổi sâu đậm những giá trị văn hóa chân thực nhờ hội nhập các giá trị. Trong đường hướng mục vụ về văn hóa, quan trọng là làm sao khôi phục con người toàn vẹn vì họ được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và giống Thiên Chúa[3] bằng cách kéo họ ra khỏi cơn cám dỗ lấy mình làm tâm, khi thấy mình hoàn toàn độc lập với Đấng Tạo Dựng”. Lời khẳng định này như đã tiên đoán những thách thức cam go của cuộc loan báo Tin Mừng giữa dòng hội nhập khi đối diện với những nền văn hóa.

Có thể nói, đường đi loan báo Tin Mừng đúng là đường vào hội nhập văn hóa. Trên đường hội nhập, Tin Mừng có thể gặp những con người lấy mình làm tâm, thấy mình hoàn toàn độc lập với Đấng Tạo Dựng[4]. Giữa môi trường văn hóa, người loan báo Tin Mừng có thể nóng lòng hội nhập, muốn tránh va vấp, sợ mích lòng người nên đành nhượng bộ nề nếp văn hóa, chịu sứt mẻ bản chất Kitô Giáo. Nhiều trường hợp người rao giảng còn thừa nhận chủ trương tương đối hóa Tin Mừng, hoài nghi quyền năng và nội dung Lời Chúa. Như thế “cần chuẩn bị kỹ để cuộc đối thoại (với văn hóa) không làm suy yếu lòng mình gắn bó với Đức Tin”[5]. Khởi từ Lời Chúa, từ giáo huấn của Giáo Hội và kinh nghiệm của các nhà loan báo Tin Mừng, chúng ta đi tìm một nẻo hội nhập trong môi trường văn hóa Việt Nam hôm nay.

I/ Loan báo Tin Mừng cho các nền văn hóa

“Hãy đi khỏi xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất ta sẽ chỉ cho ngươi”[6]. Abraham được lệnh ra đi đến một vùng trời khác, một mảnh đất khác, nghĩa là Thiên Chúa muốn ông đoạn giao với nền văn hóa xưa cũ đã băng hoại do lầm lỗi của con người, “Họ dùng gạch thay vì đá và lấy nhựa đen làm hồ. Họ nói, ‘Ta hãy xây cho mình một thành phố và một tháp có đỉnh cao chọc trời. Ta phải làm cho danh ta lẫy lừng, để khỏi bị phân tán trên khắp mặt đất’”. Đây là nền văn hóa “tường gạch” (St 11,3) lấy mình làm tâm, thấy mình hoàn toàn độc lập với Đấng Tạo Dựng[7]. Sáng Thế đã dùng kiểu nói rất tượng hình ‘làm xáo trộn tiếng nói’ để làm dở dang kế hoạch của xã hội loài người tự mãn, chối từ Chúa. Nói khác, Thiên Chúa đã hội nhập văn hóa để giáo hóa con người. “Đây tất cả chúng nó họp thành một dân, nói một thứ tiếng... Nào ta xuống và làm cho tiếng nói của chúng phải xáo trộn, khiến chúng không ai hiểu ai nữa”[8].

Và suốt dòng lịch sử Dân Chúa “Lịch sử Giao Ước cũng chính là lịch sử của việc khai sinh một nền văn hóa mà chính Thiên Chúa đã khơi nguồn trong Dân Ngài”[9]. Thuở đầu, với trình độ chẳng hơn gì dân Ninivê ‘không phân biệt tay trái với tay phải’[10], nhóm dân bé nhỏ lang thang đi tìm “Đất Hứa”, dân sống nền văn hóa du mục, nền văn hóa mang tính bảo tồn nòi giống trước kẻ thù là bệnh tật, hoàn cảnh khắc nghiệt của thiên nhiên và những bất trắc trên đường hành trình, nên bàng bạc trong sách Lêvi, Đệ Nhị Luật những hướng dẫn trần trụi về vệ sinh, y tế, trao đổi hàng hóa, lương thực. Sau nền văn hóa du mục là văn hóa chiến tranh với nét đặc trưng “mắt thay mắt, răng đền răng”. Những năm tháng thời chiến còn để dấu vết tương tàn không chỉ về cơ sở vật chất nhưng còn ngay trên tương giao con người. Trong một hoàn cảnh chinh chiến cụ thể, với tầm hiểu thiển cận, luật tương giao đành dừng lại mức độ “mắt thay mắt, răng đền răng”. Nghĩa là đạo lý tình thương còn bị bó hẹp trong nền văn hóa không cao hơn ngọn lau! Dần dần nền văn hóa tình thương tỏ dạng như một bình minh mới cho Dân Chúa. Nền văn hóa tình thương được khẳng định từ ngày người dân đủ tầm với tới mức “yêu anh em như chính mình”. Nền văn hóa này sẽ nở hoa với Tin Mừng của Đức Kitô: “Anh em hãy yêu nhau như Thày yêu thương anh em” và Thày đã liều mạng vì anh em.

1/ Thánh Kinh, con đường hội nhập văn hóa

Kinh Thánh là phương tiện Thiên Chúa muốn và đã sử dụng để tự mạc khải mình, nên đã được nâng lên một bình diện vượt trên cả văn hóa[11]. Nếu ngôn ngữ được coi là sản phẩm đắc dụng của mọi nền văn hóa, Thánh Kinh chuyển tải Lời Chúa qua ngôn ngữ trong văn hóa. “Để biên soạn các Sách Thánh, Thiên Chúa đã chọn một số người, nhưng khi được Thiên Chúa dùng để làm công việc này, họ vẫn được tận dụng mọi khả năng và tài sức của họ”[12]. “Lời Thiên Chúa được diễn tả trong lời con người, hoàn toàn giống như ngôn ngữ của loài người”[13]. Trong một nền văn hóa, ngôn ngữ không chỉ mang ý nghĩa văn từ nhưng qua văn từ, kiểu thức diễn tả, bối cảnh văn hóa, xã hội, người đọc còn khám phá thấy nội dung người viết muốn diễn đạt theo ánh sáng Thiên Chúa soi dẫn. Ở đây văn hóa trở thành chiếc đò độ người vượt bến mê về cõi giác.

Thực tế với công trình chuyển dịch Thánh Kinh sang Việt Ngữ, tại Việt Nam trước khi Dei Verbum ra đời, đã có hai bản dịch Thánh Kinh trọn bộ do các tác giả Công Giáo thực hiện: Bản dịch của Cố Chính Linh xuất bản năm 1913 và bản phỏng dịch Thánh Kinh của Linh Mục Gérard Gagnon (CSsR) xuất bản năm 1963... Ngoài hai bản dịch toàn bộ Thánh Kinh này còn có những bản dịch một vài phần trong bộ Kinh Thánh của ông Mai Lâm Đoàn Văn Thăng, của Linh Mục An Sơn Vị, Linh Mục Trần Văn Kiệm; chưa kể những bản dịch của anh em Tin Lành. Trong vòng bốn mươi năm nay, sau khi Dei Verbum ra đời, có bốn bản dịch toàn bộ Thánh Kinh: Bản dịch của Linh Mục Đaminh Trần Đức Huân, dịch từ bản Phổ Thông (La Tinh), xuất bản năm 1970; của Linh Mục Giuse Nguyễn Thế Thuấn CSsR, dịch từ nguyên bản Do Thái, Hy Lạp, Aram, xuất bản năm 1976; của Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn xuất bản năm 1985; của nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ dịch từ nguyên bản tiếng Do Thái, Hy Lạp, Aram, xuất bản năm 1998. Ngoài ra Ủy Ban Phụng Vụ, Mỹ Thuật và Thánh Nhạc cũng đã dịch các bài đọc trong Phụng Vụ được sử dụng trước 1975[14]. Nhờ những công trình dày công sức đó tín hữu Việt Nam đã quen đọc và thấm nhuần Lời Chúa trong cuộc sống.

Ngoài ra tại Giáo Phận Kon Tum, ngay từ thuở các Linh Mục Thừa Sai, Giáo Phận đã nỗ lực chuyển dịch bản văn Thánh Kinh sang tiếng bản địa. Đáng chú ý nhất là bộ Cựu Ước bằng tiếng Bahnar dày 640 trang và bộ Tân Ước Bahnar 603 trang. Cả hai bộ sách này do công sức của Linh Mục Den (người Bahnar), Cha Marty, Rannou, Bonnet, Clément và được năm yao phu Bahnar cộng tác. Và Giáo Phận còn xuất bản một sách lễ thường ngày (tiếng Bahnar) và bốn Kinh Nguyện Thánh Thể[15]. Nhờ những bộ Thánh Kinh này bằng tiếng bản địa, Lời Chúa thấm đẫm văn hóa Bahnar và in dấu trong lòng người dân bản địa.

Chúng ta thấm cảm “Lời Thiên Chúa được diễn tả trong lời con người, hoàn toàn giống như ngôn ngữ của loài người”[16]. “Sứ điệp Mạc Khải, được khắc ghi trong lịch sử thánh, bao giờ cũng được diễn tả trong phong cách của nền văn hóa, luôn gắn kết với, và trở thành một thành phần trong toàn bộ nền văn hóa ấy. Kinh Thánh, Lời Thiên Chúa được diễn tả trong lời con người, tạo nên một nguyên mẫu cho việc gặp gỡ hiệu quả giữa Lời Thiên Chúa và nền văn hóa”[17]. “Niềm vui và hãnh diện được lắng nghe Lời Chúa trực tiếp bằng tiếng mẹ đẻ và đáp trả Lời Chúa bằng những lời kinh tiếng hát phù hợp với tinh thần của nền văn hóa chúng ta đã củng cố thêm chân tính của nền văn hóa này, và góp phần thật sự vào cuộc phát triển con người toàn diện. Chúng ta đang đi lại con đường tổ tiên đã đi cách nay ba bốn trăm năm. Là Dân Thiên Chúa trong lòng dân tộc Việt Nam, Giáo Hội Việt Nam cảm tạ Thiên Chúa vì từ bao đời nay đã được nuôi dưỡng bằng Lời Ban Sự Sống và hằng được nhìn thấy Lời ấy không ngừng trổ sinh hoa trái, đem lại những mùa gặt phong phú dồi dào”[18].

2/ Loan Báo Tin Mừng Cho Các Nền Văn Hóa

Khi Thày lên trời, Thày đã lệnh cho môn đệ lên đường, “Thày đã được trao quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ...”[19]. Thày đã không lệnh cho anh em đến với những con người vô gia đình, vô tổ quốc nhưng đến với “muôn dân”, nói khác đến với những con người cụ thể thuộc về một sắc dân, một nền văn hóa nào đó. Thuở đầu tiếp cận với các nền văn hóa, có vẻ anh em môn đệ bối rối thấy Giáo Hội Sơ Khai trăm hoa đua nở các sắc thái văn hóa: có nơi nam giới nhập Kitô Giáo vẫn phải làm nghi thức cắt bì[20], có giáo đoàn phụ nữ vào giữa cộng đoàn phải mang mạng che mặt. Có nơi anh em nan giải về chế độ nô lệ (Phaolô đã khuyên nô lệ Onêsimo về lại với ông chủ Philêmon) và khắt khe với tương quan vợ chồng: vẫn một xương một thịt như Thày dạy nhưng người vợ xuất giá cứ phải tòng phu: người chồng là đầu của vợ![21]. Nhưng để hoạt động loan báo Tin Mừng hội nhập vào văn hóa nơi môi trường rao giảng, anh em đã nỗ lực vượt qua những khó khăn về ngôn ngữ, nề nếp gia đình, thói tục xã hội, lập trường chính trị, niềm tin tôn giáo để hòa nhập vào cuộc sống người dân địa phương, để biết “ăn những thứ người ta dọn cho, vào nhà nào hãy ở lại cho tới lúc ra đi...”. Dần dà các môn đệ Đức Kitô với kinh nghiệm dầy dạn, anh em nhìn nhận, “Nhờ hội nhập văn hóa, Giáo Hội làm cho Tin Mừng nhập thể trong các nền văn hóa khác nhau đồng thời cũng đưa các dân tộc cùng với nền văn hóa của họ vào trong cộng đoàn Giáo Hội. Giáo Hội chuyển giao cho họ những giá trị riêng của mình, đồng thời cũng thu nhận những yếu tố tốt đẹp đã tồn tại trong các nền văn hóa đó và đổi mới chúng từ bên trong. Về phần mình, nhờ hội nhập văn hóa, Giáo Hội trở nên dấu chỉ sáng tỏ hơn về bản chất của mình, và thành khí cụ thích ứng hơn cho sứ mạng”[22].

Giáo Hội Việt Nam mấy trăm năm hành trình truyền giáo đã không ngừng nỗ lực hội nhập vào nền văn hóa Việt Nam. Chỉ nói riêng trong lãnh vực ngôn ngữ như biểu tượng cuộc hội nhập văn hóa, chúng ta ngưỡng phục các nhà truyền giáo ban đầu, các ngài cố công khai thông trở ngại lớn nhất cho công trình loan báo Tin Mừng: sự khác biệt ngôn ngữ. Trong những năm đầu tiếp xúc với văn hóa Việt Nam, Linh Mục Thừa Sai Girolomo Majorica (1591-1656) là người đầu tiên có sáng kiến quy tụ xung quanh mình một số giáo dân người Việt giúp ngài biên soạn tài liệu bằng Hán-Nôm để truyền giáo... Thường những người giúp cũng có một số vị am tường nho học. Trong số đó có Thày Phanxicô (-1640)... Một trong những sáng tác chữ Nôm của ông là Phục Dĩ Chí Tôn, giúp cộng đoàn giáo dân ban đầu biết nguyện kinh chung... Trong số những tác phẩm chữ Nôm đáng chú ý nhất Linh Mục Majorica biên soạn là cuốn Các Thánh Truyện Khải Mông. Ngoài ra người ta còn chú ý tới một số tác phẩm chữ Nôm như Sấm Truyền Ca của Lữ Y Đoan (1670), năm bia tích tử đạo Hán Nôm (1794-1860) tại Phát Diệm, Tự Vị của Taberd (1838). Đặc biệt Sấm Truyền Ca là cuốn giáo lý Kinh Thánh Cựu Ước được viết tay truyền miệng thể hiện hội nhập tinh thần văn hóa Á Đông”[23]. Về chữ Quốc Ngữ La Tinh hóa. “Trong những nước thuộc khối chữ vuông ngoại vi Trung Hoa, chỉ có Việt Nam là quốc gia duy nhất sáng lập và duy trì chữ Quốc Ngữ La Tinh Hóa... Khi tiếp xúc với Tây Phương qua nhân tố Công Giáo, các nhà truyền giáo sáng tạo chữ Quốc Ngữ La Tinh Hóa và phát triển có phần âm thầm, lẻ loi, xa lánh xã hội, giới hạn trong hoàn cảnh Công Giáo thời cấm cách, đã được phổ cập cho toàn dân qua giáo dục và hành chính, ...”[24]. Những tác phẩm chữ Quốc Ngữ La Tinh Hóa thuở đầu như Dictionarivm Annamiticvm của Linh Mục Đắc Lộ, Dictionarium Anamitico-Latinum Taberd xuất bản, Phép Giảng Tám Ngày...[25]. Hôm nay các nhà nghiên cứu đều đồng tình, Linh Mục Đắc Lộ là người có công đầu trong việc soạn thảo chữ Quốc Ngữ La Tinh Hóa nhưng công trình này còn được nhiều nhà truyền giáo và giáo dân Công Giáo thuở đầu đóng góp, cải tiến, bổ sung. Công trình này đã trải dài mấy trăm năm qua và đang là gia sản quý giá không chỉ cho những công trình truyền giáo nhưng cho cả dân tộc Việt Nam hôm nay.

3/ Kể Chuyện Chúa Giêsu Cho Người Á Châu

“Có người nói lịch sử Giáo Hội chính là lịch sử truyền giáo. Dòng lịch sử nhiều tầng, nhiều màu sắc này, khởi nguồn từ thời Tân Ước, bằng nhiều phương cách đã chứng minh, Giáo Hội từng thông hiểu và thực hiện sứ vụ truyền giáo”... Đức Gioan Phaolô II xác nhận trong Redemptoris Misso (RM) lối nhìn căn bản của Ad Gentes: sứ vụ truyền giáo, là thực tại đơn lẻ nhưng phức tạp và phát triển đa phương. Để tiếp tục cuộc tìm kiếm năng động những phương cách truyền giáo của Giáo Hội thích hợp với một thời điểm và nơi chốn nhất định nào đó, hội nghị này đề nghị một lối hiểu và thực hiện truyền giáo chú trọng trên Truyện Đức Giêsu tại Á Châu”[26]. Đại Hội Về Truyền Giáo Á Châu họp tại Chiang Mai, Thái Lan từ ngày 18 đến 22 tháng 10 năm 2006 đã chọn đề tài Kể Truyện Chúa Giêsu (KTCG). Những điểm nhấn của tài liệu Đại Hội này đáng chúng ta suy nghĩ rất nhiều về cuộc loan báo Tin Mừng cho nền văn hóa Á Châu hôm nay:

Giáo Hội kể truyện Chúa Giêsu bằng cảm nghiệm về Thầy. Câu truyện kể về Giêsu tại Á Châu sẽ thuyết phục hơn nếu kể bằng cảm nghiệm. Ngày nay, thế giới, nhất là Á Châu, tin vào nhân chứng hơn những lời thuyết giảng (Evangelii Nuntiandi). Các tông đồ tiên khởi gốc Á Châu đã nói bằng cảm nghiệm. Họ nói về Lời Sự Sống sau khi chính tai nghe, chính mắt thấy, chính tay sờ chạm[27]. Thiếu cảm nghiệm sâu sắc về Đức Giêsu Cứu Thế, làm sao có thể kể về ngài với sức thuyết phục? Thánh Phaolô chia xẻ: “Tôi sống nhưng không phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi; hiện nay tôi sống trong xác phàm là sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi”[28]. Kể truyện Giêsu tại vùng đất Á Châu đòi Giáo Hội giao tiếp với Thầy trong cầu nguyện và thờ lạy, tương tác với anh em, đặc biệt là người nghèo, và liên đới với những biến cố tạo nên “dấu chỉ thời đại”.

Truyện về Giêsu biểu tỏ căn tính Giáo Hội giữa người nghèo, giữa các văn hóa và tôn giáo Á Châu. Người kể chuyện Giêsu không thể, không nên che dấu căn tính môn đệ Đấng Cứu Thế. Có điều, liên hệ dằng díu giữa con người, văn hóa, chiều hướng xã hội... tạo nên câu chuyện và bản tính nhân vật. Truyện về Chúa Giêsu kể tại Á Châu luôn liên đới căn tính và truyện kể của các văn hóa, tôn giáo khác. Người kể truyện Giêsu lên tiếng trước tín đồ các tôn giáo khác.

Giáo Hội là tiếng nói của những câu truyện bị dấu nhẹm. Tại mọi phần đất Châu Á, việc che giấu các câu truyện là tình trạng tệ hại diễn ra hàng ngày. Người nghèo đói, những em bé gái bị bán làm nô lệ tình dục, các phụ nữ, di dân, tỵ nạn, dân thiểu số, người bản xứ đang là nạn nhân của nhiều loại bạo động như bạo động trong gia đình, chính trị, sắc tộc, môi trường... Đó mới chỉ là thiểu số so với nhiều truyện bị ém nhẹm. Giáo Hội kể truyện Giêsu, Đấng đã nói nhưng “lời rơi vào tai kẻ điếc”, rồi bị kết án để không thể tiếp tục kể truyện của mình. Vì thế tại Á Châu, Giáo Hội tỏ lòng kính trọng Thầy bằng cách chính mình làm người kể chuyện thay kẻ không có tiếng nói trong xã hội, để lời Thầy vang lên trong chính những câu truyện bị dấu nhẹm kia. Truyện về Giêsu nếu chỉ đem canh giữ như báu vật trong bảo tàng sẽ không trở nên nguồn ban sức sống. Trong Ecclesia In Asia (EAs 19-20,22), Đức Gioan Phaolô II gợi lên thử thách đi tìm lối giảng huấn có thể mang Chúa Giêsu đến gần hơn với dòng tri thức Á Châu. Thử thách này đặc biệt dành cho các nhà thần học. Đức Thánh Cha tin, cũng câu chuyện ấy có thể được kể trong chiều hướng mới và trong ánh sáng tình huống mới.

Giáo Hội lưu giữ ký ức về Đức Giêsu sống động. Tại Á Châu, Giáo Hội kể truyện Giêsu để giữ ký ức về Thầy sống động. Nuôi sống truyện về Thầy, không thể cất dấu truyện trong lãnh địa bất khả xâm phạm. Truyện Giêsu được gìn giữ khi được chia sẻ. Giáo Hội Á Châu sẽ can đảm khám phá những phương cách mới để kể về Thầy, để giữ truyện về Thầy sống động, và trao gửi tiềm lực của truyện đến làm mới các thực tế Á Châu. Giáo Hội Á Châu lên đường khám phá với niềm tin nơi Thánh Linh và lòng trung thành cùng Truyền Thống Giáo Hội hoàn vũ. Nếu bẻ bánh trong Thánh Thể không được cảm nghiệm qua thái độ sẻ chia, quan tâm và hiệp thông, bẻ bánh chỉ còn là lễ nghi thiếu ý nghĩa. Chiếc nhẫn giám mục phải là câu chuyện về một cuộc sống phục vụ cộng đồng, nếu không nhẫn chỉ là trang sức. Hình ảnh một linh mục hiện thân Đức Kitô phải là chuyện đời một con người luôn sẵn sàng đến với anh chị em, nếu không linh mục chỉ còn là tước vị mà không là thiên chức.

Khi tìm về cội rễ truyện Đức Giêsu, Giáo Hội có thể chấn chỉnh những ấn tượng sai lạc về tính vọng ngoại nơi các giáo điều, nghi lễ và biểu trưng (EAs 20). Tìm về cội rễ để không sai lạc, và không kể câu truyện lạ lẫm với chính Thầy. Cộng đồng Kitô Hữu sẽ đánh mất căn tính nếu không kể được câu truyện là chính căn tính của mình. Toàn thể Giáo Hội được mời gọi truyền giáo. Giáo Hội địa phương tại Á Châu cần nhận biết và phát triển những quà tặng được Thánh Linh cảm hứng để đóng góp vào cuộc kể truyện Giêsu. Toàn thể Giáo Hội, hoa trái của cuộc kể truyện Chúa Giêsu, cũng trở thành người kể truyện.

Đức Gioan Phaolô II chia sẻ trong Ecclesia In Asia (EAs), tín hữu chia món quà từ Đức Giêsu không để kết nạp, nhưng vì vâng lời Thiên Chúa, và đó là hành động phục vụ các dân tộc Á Châu (EAs 20). Hãy để câu truyện được nên lời và có sức cảm hóa. Hãy để Thánh Linh gõ cửa trái tim và ký ức người nghe, rồi mời gọi họ thay đổi. Rất nhiều các sắc tộc nghèo khổ của Á Châu sẽ tìm thấy nét đồng cảm và niềm hy vọng trong truyện về Giêsu. Cũng có thể các nền văn hóa khác nhau của Á Châu sẽ chạm phải thử thách trước ý niệm tự do thực sự trong truyện về Thầy. Có thể nhiều tôn giáo khác nhau của Á Châu sẽ ngỡ ngàng trước lòng kính trọng những ai biết tìm Thiên Chúa, kiếm nét thánh thiện thực sự trong truyện về Thầy.

Là người kể truyện của Thánh Linh, Giáo Hội Á Châu sẽ bước vào thế giới và ngôn ngữ của người nghe, và từ giữa anh chị em, kể truyện về Thầy như truyện đã từng được kể ngày Phục Sinh xưa. Tuy nhiên, điều đó cũng là Giáo Hội Á Châu sẽ tìm tiếng Thánh Linh, lắng nghe người nghèo cùng các nền văn hóa và tôn giáo khác nếu muốn lên lời một cách ý nghĩa. Giáo Hội kể truyện phải là Giáo Hội biết lắng nghe[29].II/ Bi kịch hội nhập

Vùng Châu Đốc gần biên giới Việt Nam-Campuchia có loài cây chà là với thân cành rất đẹp. Nhiều nhà đẹp vùng phố thị muốn có cảnh đẹp đi đặt nhà vườn vài ba cây chà là về trồng cho rủ bóng bên thềm. Họ phải trả giá cho mười cây để có được một cây, vì loài chà là quen với khí hậu, thổ nhưỡng biên giới. Về với môi trường phố thị, mười cây chỉ sống một. Đó là bi kịch sinh thái loài cây cỏ. Con người cũng có nỗi buồn tương tự: bi kịch hội nhập văn hóa. Theo lệnh Thiên Chúa “Hãy đi khỏi xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất ta sẽ chỉ cho ngươi”[30], Abraham bỏ quê cha đất tổ, bỏ cha mẹ anh em, đưa vợ và đứa cháu họ (Lot) lên đường đi Canaan. Ông và gia đình dựng lều sống ở đây, nhưng liên tục di dời lều này đến lều khác[31], lang bạt từ Sichem đến Négeb, quá cảnh sang Ai Cập[32] tránh cơn đói rồi về lại Canaan sống ở Bethel[33]. Sau đó gia đình cư ngụ ở Mambré gần Hébron. Sống lang thang du mục, Abraham thấm thía tâm sự làm khách lạ sống cảnh nhập cư[34]. Đời nhập cư của Abraham biểu trưng bi kịch hội nhập văn hóa. Nghe Chúa, ông bỏ lại quá khứ ra đi, đức tin lại đòi ông hội nhập với môi trường nhập cư. Lầm lũi hội nhập với dân bản địa nhưng văn hóa lại muốn chia cắt vì cõi tâm ông luôn hướng về quê cha đất tổ. Đời Abraham lúc nào cũng thấp thoáng thấy mình làm khách lạ trong làng mình. “Lịch sử của dân Thiên Chúa bắt đầu bằng thái độ gắn bó với đức tin, nhưng gắn bó với đức tin cũng là chia cắt với văn hóa...”[35].

Chiều dài của Tin Mừng đi vào một nền văn hóa cũng là chiều dài bi kịch hội nhập. “Việc đoạn giao Tin Mừng với văn hóa chắc chắn là bi kịch của thời đại chúng ta, cũng như từng là bi kịch trong các thời đại khác. Vì thế phải hết sức nỗ lực bảo đảm cho văn hóa hoặc chính xác hơn là các nền văn hóa được Phúc Âm hóa trọn vẹn. Các nền văn hóa ấy cần được tái sinh nhờ gặp gỡ Tin Mừng. Nhưng nếu Tin Mừng không được loan báo, sẽ chẳng có cuộc gặp gỡ này”. Để làm được việc đó, cần phải loan báo Tin Mừng theo ngôn từ và văn hóa của con người”[36].

Ở đây kinh nghiệm loan báo Tin Mừng tại Tây Nguyên đặt ra vấn đề, nếu “loan báo Tin Mừng theo ngôn ngữ và văn hóa”[37] của các anh em Dân Tộc Thiểu Số, nhà truyền giáo vừa phải nỗ lực gìn giữ vừa ra sức đầu tư phát triển ngôn ngữ, văn hóa này cho ngang tầm nền văn hóa của anh chị người Kinh xung quanh. Nếu chỉ nhất định ta về ta tắm ao ta, chúng ta sẽ đụng mặt với thực tế phũ phàng là cả ngôn ngữ, văn minh, khoa học, kỹ thuật bản địa không đủ ổn định, không đủ tầm để giao dịch và phát triển. Tin Mừng có cho phép chúng ta một mực “gìn vàng giữ ngọc”, mà vô tình cản đà phát triển của dân bản địa? Nhất nữa trong thời điểm chủ trương toàn cầu hóa đang phát triển tốt đẹp, nếu như vừa cố giấy rách giữ lấy lề, vừa cố đi lại từ bước đầu, đầu tư để phát triển trên mọi lãnh vực với người ta, như người ta, chọn lựa này có khả thi? Và nếu lơ là với phát triển, để cho dân bản địa quẫy quật trong một rừng những nỗi khó của cảnh chậm tiến, chúng ta có yên lòng loan báo Tin Mừng? Đức Phaolô VI nhắc chúng ta, “Phát triển là tên gọi mới của hòa bình”.

1/ Khuynh Hướng Tục Hóa Trong Văn Hóa

Đức Phaolô VI đã điểm mặt nền văn hóa tục hóa đang rộ lên. Theo đó Thiên Chúa trở thành phù du, cồng kềnh. Vì muốn đề cao quyền lực con người, khuynh hướng tục hóa nhất định gạt bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời. Như thế thường ngày chúng ta phải đối mặt với một xã hội tiêu thụ, với con người luôn chạy theo khoái cảm, tràn đầy khát vọng quyền lực, thống trị. Tất cả được coi là những giá trị mới lên ngôi. Hôm nay Đức Bênêđitô XVI lại báo động, tại nhiều môi trường văn hóa, đang xuất hiện khuynh hướng tục hóa len lỏi vào mọi ngõ ngách cuộc sống, muốn xóa bỏ tương quan thế giới, con người với Đấng Siêu Việt để xây dựng não trạng Thiên Chúa vắng mặt trong đời sống và ý thức con người. Theo Ngài, khuynh hướng này không chỉ là mối đe dọa hời hợt nhưng có lúc đã xâm nhập ngay trong lòng Giáo Hội, bóp méo niềm tin Kitô Hữu và từ đó tác động trên lối sống, cách ứng xử Kitô Giáo[38].

Đáng buồn, khi rời ghế nhà trường, ra đời bước sang môi trường nghề nghiệp, vì cầu mong chức vị, thăng tiến nghề nghiệp, nhiều bạn trẻ đã giã từ nhà thờ, công khai phủ nhận tư cách Kitô Hữu, dứt khoát với niềm tin trong quá khứ. Các bạn làm như xa lạ, chưa từng biết Đức Kitô, chưa bao giờ gặp Đức Kitô, Thần Tượng các bạn tôn thờ, đeo đuổi. Trong một cuộc trắc nghiệm về Thần Tượng Tuổi Sinh Viên ở một Câu Lạc Bộ Trẻ (Sàigòn), có 310 bạn trẻ tham dự. Trong số có 215 người chọn Bill Gates làm thần tượng, 32 chọn chính trị gia, 7 người chọn giới ca sĩ, 5 người chọn người thân như cha mẹ hay người yêu, còn lại 59 là phiếu trắng. Đáng tiếc, không ai chọn Đức Kitô hoặc muốn chọn nhưng không dám viết ra! Chuyện cũng dễ hiểu, ngay từ nhỏ, năm bảy giờ mỗi ngày các em sống chung và học hành trong bầu khí “vắng Chúa”, về nhà may ra được ít phút buổi tối nguyện kinh “có Chúa”. May mắn hơn mỗi tuần có vài giờ đi lễ và dự lớp giáo lý “bên Chúa”. Nếu gia đình không trân trọng Chúa, cha mẹ không thiết tha với đạo lý Chúa, bận tâm với Lời Chúa, tuổi trẻ sẽ dễ chia tay với Chúa lúc nào không hay. Một lần trong lớp học, em học sinh lớp ba, theo lời cô giáo khuyến khích đã giơ tay hát cho cô và các bạn nghe. Nhưng chỉ hát được câu đầu rồi em bị cô giáo tới bịt miệng không cho hát tiếp, vì em đã hát bài hát em từng thuộc lòng, bài hát lớp giáo lý hay hát: Giêsu Kitô Con Người tuyệt diệu, Giêsu Kitô, Người Anh dấu yêu...”(bài hát của Cha Tiến Lộc khá phổ biến ở đây). Cô giáo biết rõ, chúng ta biết rõ Giêsu Kitô có thể gây hệ lụy không nhỏ cho cả cô và trò!

Giáo Hội nhắc các gia đình, đặc biệt gia đình trẻ: “Vì là chiếc nôi của tình yêu và sự sống, gia đình cũng là cội nguồn của văn hóa. Đó chính là nơi đón nhận sự sống và là trường dạy nhân bản, là nơi những vợ chồng tương lai được đào tạo cách tốt nhất để nên những cha mẹ có trách nhiệm”[39].

Mặt khác, chúng ta không quên khuynh hướng tục hóa đã sẵn chủ ý gạt bỏ Thiên Chúa trong đời, nên dành quyền ứng xử với mầm sống, bào thai. Theo đây sự sống được coi như sản phẩm con người tạo ra, và người tùy tiện ứng xử. Ngày xưa cùng lắm tương quan bố mẹ với con cũng chỉ tới mức, bố mẹ đặt đâu, con ngồi đo. Hôm nay khác, bố mẹ cho sống, con được sống, bố mẹ bắt chết, con phải chết! Đường hướng giáo huấn của Giáo Hội đã rõ, “Để Tin Mừng có thể sâu đặm cảm hóa môi trường văn hóa, Tin Mừng sẽ thấm nhuần mọi tầng lớp người, biến đổi con người từ bên trong để đổi mới lòng người. Đây không chỉ là rao giảng Tin Mừng cho những vùng địa lý ngày càng rộng thêm và tăng số người đón nhận Tin Mừng ngày càng đông hơn. Tin Mừng còn tác động mạnh mẽ để biến đổi triệt để các tiêu chuẩn xét đoán, các giá trị khẳng định, các mối bận tâm, cách suy nghĩ, nguồn cảm hứng và đặc biệt thay đổi những lối sống ngược dòng với Lời Chúa và kế hoạch cứu độ”[40]. Vấn đề là mọi người đều nỗ lực nhưng theo phương cách nào, với phương tiện nào để đạt mục đích đó. Chúng ta vẫn cần suy nghĩ, thực nghiệm và góp phương thế, góp sáng kiến với nhau và với những vị có trách nhiệm về vấn đề này.

2/ Di Căn Của Chứng Thờ Ngẫu Thần

Ngay từ thời Cựu Ước, các tiên tri đã quyết liệt chống lại khuynh hướng thờ ngẫu thần. Và dân vừa thờ Thiên Chúa vừa dan díu với ngẫu thần sẽ bị coi là “ngoại tình”. Trong vụ Aaron đúc bò vàng cho dân thờ, Chúa đã nói với Maisen: “Chúng đã đúc một con bê, rồi sụp xuống lạy nó, tế nó và nói: ‘Hỡi Israel, đây là thần của ngươi đã đưa ngươi lên từ đất Ai Cập’... Bây giờ cứ để mặc ta, cứ để cơn thịnh nộ của ta bừng lên phạt chúng...”[41]. Với dân Do Thái, trong thời chiến tranh, họ dễ bị cám dỗ thờ thêm các thần lương dân đã bị họ khuất phục. Suốt thời các vua, luôn có những cuộc chiến tôn giáo chống lại chuyện thờ cúng các thần lương dân để khẳng định dân chỉ tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất. Cựu Ước cũng ghi nhận, “Vua Hôsê đã làm điều ngay chính trước mắt Đức Chúa, đúng như Vua Đavid tổ phụ Vua đã làm. Chính Vua đã dẹp các tế đàn ở nơi cao, đập bể các trụ đá, bổ các cột thờ và đập tan con rắn đồng ông Maisen đã làm. Vì cho đến thời đó con cái Israel vẫn đốt hương kính nó”[44]. Hôm nay trong cuộc hội nhập văn hóa, Giáo Hội còn đang phải đối mặt với khuynh hướng thần hóa. Thuở trước người ta bị cám dỗ tôn thờ các thần thánh lương dân, hôm nay người ta lại thấy con người là thần thánh. Trong công trình của các khoa học gia về sinh học, nhiều người đang hứng chí thấy con người như đang tiến lên “làm trời”, giật lấy khỏi tay Chúa quyền “tạo ra sự sống!”. Những bài báo đăng tải các phát minh sinh học, từ chuyện cừu Dolly ra đời (Dolly ra đời đã dẫn tới bao nhiêu con cừu khác, “cừu sinh sản vô tính” và cừu được sinh sản vô tính!) tới những công trình sinh học tạo ra phôi, sinh con trong ống nghiệm..., tất cả như tiềm ẩn thách thức, thách thức con người đứng lên làm trời! Chuyện tưởng như tới nơi rồi. Thời nay, nhiều tín hữu đã “vô tư” chấp nhận hướng nghiên cứu tạo phôi người để chữa bệnh chức năng cho con người, chấp nhận hay vận động thụ thai nhân tạo khi hiếm muộn, dù Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI đã nói rõ, “Cùng một sự lên án về mặt luân lý (việc phá thai) đó cũng liên quan đến phương pháp khai thác các phôi và các thai người còn sống, đôi khi được sản xuất cho mục đích đó bằng sự thụ tinh trong ống nghiệm hoặc như ‘vật tư sinh học’ để sử dụng, hoặc như kẻ cho cơ quan hay cho mô để đem ghép nhằm chữa trị một số bệnh. Giết chết những hữu thể người vô tội, dù có vì lợi ích của người khác, thực tế là một hành động tuyệt đối không thể chấp nhận”[42]. Theo Ngài, “Từ trong dạ mẹ, con người thuộc về Thiên Chúa là Đấng dò xét và thấu biết tất cả, là Đấng hình thành và tác tạo nó từ tay Ngài, đã nhìn thấy nó khi nó còn là một phôi nhỏ không có hình dạng xác định và đoán thấy nơi nó con người trưởng thành nó sẽ trở nên ngày mai, mà ngày giờ đã được đếm và ơn gọi đã được ghi vào ‘Sách Sự Sống’”[43]. Thực tế ở Việt Nam không nhiều trường hợp lấy quyền làm người lên làm trời nhưng ngược lại, bị di chứng của nền văn hóa ngẫu thần không ít các vợ chồng hiếm muộn đi cầu thai. Dĩ nhiên với lòng tin, tín hữu vẫn sốt sắng cầu xin Chúa ban cho mình ơn sinh con. Đó là nguyện ước với Chúa và vẫn phó thác thực hiện ý Chúa hơn theo ý riêng. Nhưng đi cầu thai là khác. Khi ước muốn sinh con được trao gửi trọn vẹn cho lời cầu và lời bảo đảm của ai đó để đi tới những lời hứa hẹn minh thị như thần thánh, trường hợp này người đi cầu thai và người hứa hẹn thành thai đều liên đới trong thái độ lấy quyền làm người lên làm trời! Và cũng đáng ngạc nhiên, khi tín hữu đi gặp thày bói toán xin chọn cho ngày lành tháng tốt để cử hành hôn lễ, để chọn giờ an táng, định ngày xuất hành..., nhiều những lời bói toán đã gây rạn nứt hạnh phúc gia đình. Chẳng hạn hai vợ chồng bị thày bói “định liệu” cho là kỵ tuổi, khắc mệnh, khắc khẩu! Lời bói đã thành nỗi ám ảnh và gây ra mặc cảm bất hòa nên dễ cãi vã nhau, chống đối nhau, dễ xa nhau. Có phải chứng thờ ngẫu thần từ thuở nào trong bối cảnh một nền văn hóa tăm tối sơ khai đã để di chứng ngẫu thần trong đời người, đời tín hữu. Ở đây các nhà truyền giáo và tái truyền giáo hẳn có thể trị liệu hậu quả di chứng này bằng chứng từ sống động của đời sống như một cách gột rửa bối cảnh đen tối của nền văn hóa xưa cũ. Khi kỷ niệm lần thứ 25 Hiến Chế của Công Đồng về Phụng Vụ, Đức Gioan Phaolô II đã nhắc lại: “Việc thích nghi với các nền văn hóa cũng đòi tín hữu hoán cải tâm hồn và thậm chí, khi cần, đòi họ đoạn giao với các tập tục của tiền nhân không còn thích hợp với đức tin Công Giáo. Để đáp ứng đòi hỏi đó tín hữu cần được đào luyện nghiêm túc về thần học, lịch sử và văn hóa cũng như cần một phán đoán lành mạnh trong việc phân biệt những gì cần thiết và ích lợi với những gì không cần thiết hoặc có hại cho đức tin”[44].

3/ Lòng Đạo Đức Bình Dân

“Lòng đạo đức bình dân là một cách thức con người diễn tả đức tin và tương quan của họ với Thiên Chúa, với ơn quan phòng của Ngài, với Đức Mẹ và các Thánh, với đồng loại mình và những người đã chết hoặc với tạo vật, và biết chắc rằng lòng đạo đức ấy hoàn toàn thuộc về Giáo Hội. Thanh tẩy và làm cho việc diễn tả lòng đạo đức bình dân theo đúng giáo lý, tại một số nơi, có thể là yếu tố quyết định cho việc loan báo Tin Mừng cách sâu rộng để nâng đỡ và phát triển ý thức cộng đoàn đích thực trong việc chia sẻ đức tin, đặc biệt nhờ việc thể hiện lòng đạo đức của dân Thiên Chúa trong các dịp lễ lớn”[48]. Tại Việt Nam hôm nay, có vẻ càng ngày càng đông đảo tín hữu, vì lòng mộ mến Đức Mẹ, lòng ngưỡng phục các Thánh Tử Đạo Việt Nam, nên thường xuyên lặn lội đi hành hương khắp nơi. Giáo phận nào cũng có những điểm hành hương và tổ chức các cuộc hành hương kính viếng Đức Mẹ hay suy tôn các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Việc tổ chức thánh lễ, chầu Thánh Thể, lần chuỗi Mân Côi và các giờ kinh nguyện, viếng Đức Mẹ, suy niệm về cuộc đời các Thánh Tử Đạo tại các điểm hành hương rất chu đáo và sốt sắng. Gần như mỗi dịp hành hương đều có linh mục ngồi tòa ban bí tích Hòa Giải. Lạ là trong số khách hành hương không ít các lương dân cũng sốt sắng tham gia hành hương chung với các tín hữu. Rõ ràng bầu khí, khung cảnh hành hương, những lời kinh, ánh nến cháy sáng, thái độ quỳ gối chắp tay cung kính bái lạy trước bàn thờ Chúa, trước ảnh tượng Đức Mẹ và các thánh đã nên lời giục giã lòng người sốt mến, mừng vui muốn làm con thảo của Chúa. Không thể phủ nhận đường hành hương đã gợi nhớ con đường đời khổ ải, và khích lệ lòng người về nép mình nơi bàn tay Chúa che chở, bàn tay Mẹ đỡ nâng. Hành hương cũng là dịp cho bao nhiêu người con xa lạc trở về làm lành với Chúa và làm hòa với anh chị em mình.

Huấn Thị Tìm Một Hướng Mục Vụ Cho Văn Hóa từng nhắc nhớ, lòng đạo đức bình dân là cách cảm nghiệm đức tin trong đời tín hữu nhưng đang bị khuynh hướng tục hóa đe dọa, cần được lưu tâm giữ gìn, “Trong các quốc gia mà ta vẫn gọi là ‘Kitô Giáo’, từ thế hệ này đến thế hệ kia, đã phát triển một lối hiểu biết và sống đức tin toàn diện, đến độ ít nhiều đã thấm sâu vào đời sống cá nhân và xã hội: các ngày lễ địa phương, các truyền thống gia đình, các lễ mừng khác nhau, việc hành hương, v.v.. Điều này tạo nên nền văn hóa toàn diện, tác động đến hết mọi người, một nền văn hóa được xây dựng và tổ chức trên đức tin. Nhưng nền văn hóa ấy dường như đang bị phong trào tục hoá đe dọa trầm trọng. Quan trọng là nâng đỡ những cố gắng lớn lao hơn nhằm làm sống lại những truyền thống này”.

Tiếp đây là huyền thoại Một Chuyến Đi[45] thay lời kể truyện về lòng tin của những ai từng hành hương. “Một trong ba nhà đạo sĩ nhìn thấy ngôi sao trời đông, ông nhất định lặn lội đi gặp mặt người Con của Đấng Chí Tôn. Hôm trước ngày lên đường, Đạo Sĩ báo cho cô tỳ nữ nhỏ nhất của mình, nàng được tháp tùng đi theo, dù nàng không được chỉ định phải thi hành một phần vụ gì cụ thể và quan trọng. Theo lời Đạo Sĩ, nàng chỉ cần lanh tay, lẹ mắt, thấy gì cần thì làm. Đêm hôm ấy lục lọi mãi, nàng mới tìm được trong rương của mình ba vật dụng làm đồ chơi cho Hài Nhi Chí Tôn, theo như cách gọi của nàng. Vật thứ nhất là một vòng giây lục lạc. Vật thứ hai là chiếc áo bằng lông cừ, mẹ nàng đã đan cho nàng hồi còn bé. Vật thứ ba là một bao hạt sen. Theo ý nàng, nàng sẽ nấu chè mời mẹ Hài Nhi ăn cho mát.

Vừa ra khỏi thành và đi vào rừng biên giới, Đạo Sĩ gặp một đoàn người ăn xin. Ông phân chia một ít lương thực cho họ. Trước khi ra đi nàng tỳ nữ bắt gặp đôi mắt nài nỉ của một em bé ngửa tay xin nàng bố thí. Nàng đành lòng đưa bao hạt sen cho em bé. Đi được nửa đường, tại một nơi nghỉ chân nàng thấy em bé mù ngồi ở vệ đường ăn xin. Nàng lại gần đeo vào tay em bé cái vòng giây lục lạc.

Sau khi đã vào trong xứ Do Thái, thời tiết ngày càng trở lạnh. Tại làng Belem, nhiều trẻ em đi ăn xin, vừa đi vừa run lẩy bẩy. Một em nhỏ nhất đã đến và đứng lẩn quẩn bên nàng. Cô tỳ nữ mở gói quà cuối cùng, lấy ra chiếc áo lông mặc cho em bé. Ngay lúc ấy có tiếng gọi lớn, “Đây là nhà của Đấng Chí Tôn”. Mọi người sụp lạy và Đạo Sĩ bảo gia nhân đem lễ vật vào. Cùng lúc hai đạo sĩ khác cũng đến nơi. Mọi người tấp nập, rộn ràng, chen lấn. Cả Thánh Giuse và Mẹ Maria, ai ai cũng bận rộn chào hỏi, tiếp rước... Thấy người tỳ nữ đứng vẩn vơ, không có việc gì, cả hai tay đều rảnh rỗi, lập tức Mẹ Maria giao Chúa Hài Nhi cho nàng, “Con bồng giùm mẹ để mẹ đi đun trà các vị uống kẻo lạnh”. Nàng không ngờ Con Đấng Chí Tôn bỗng nhiên đến trên tay nàng và đang tìm hơi ấm trong cõi lòng nàng!

Hành hương là những chuyến đi tìm gặp gỡ Chúa, Đức Mẹ và các vị linh thánh mà tôi yêu mến. Nhưng trong đời, những chuyến đi tìm gặp gỡ anh chị em mình cũng là anh chị em của Chúa để biểu lộ lòng thương mến như nàng Tỳ Nữ đây cũng đúng là hành hương. Và đời còn biết mấy những chuyến hành hương, những chuyến đi của lòng tin yêu và hy vọng đang chờ chúng ta thực hiện.

gioanha
04-10-2010, 09:42 PM
tiếp...

III/ Loan Báo Tin Mừng Trong Nền Văn Hóa Việt Nam

Việt Nam đang chuyển mình từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp. Tự nhiên chúng ta nghe tiếng gãy đổ của truyền thống và nhìn rõ những ngắt đoạn của các giá trị đạo lý Đông Phương nơi gia đình và xã hội như đức hạnh hiếu trung với nhân, lễ, nghĩa, trí, tín và lòng nhân hòa, từ bi... “Than ôi văn minh Đông Á trời thu sạch, này lúc cương thường đảo ngược ru!”[50]. Nhưng lịch sử vẫn xuôi dòng tiến hóa. Hôm nay ở khúc quanh lịch sử này, bao giờ chẳng vậy, đáo giang tùy khúc, nhập gia tùy tục, Giáo Hội Việt Nam vẫn nỗ lực loan báo Tin Mừng giữa thời điểm này, đất nước này, một đất nước còn ngổn ngang trăm mối. Nhưng tình thế càng tơ vò, càng cần thiết một cuộc hội nhập văn hóa để thăng hoa văn hóa. “Đối với Giáo Hội, loan báo Tin Mừng là đem Tin Mừng vào mọi tầng lớp nhân loại, và nhờ ảnh hưởng của Tin Mừng biến đổi nhân loại từ bên trong và làm mới lại nhân loại ấy... Đây không chỉ là rao giảng Tin Mừng cho những vùng địa lý ngày một rộng thêm hoặc cho số người ngày một đông hơn, mà còn tác động, và nhờ sức mạnh của Tin Mừng, thay đổi triệt để các tiêu chuẩn xét đoán của con người, các giá trị mang tính quyết định, các mối bận tâm, các cách suy nghĩ, các nguồn cảm hứng cùng những lối sống trái nghịch với Lời Chúa và kế hoạch cứu độ”[46]. Chúng ta ý thức, hội nhập văn hóa không là “gìn giữ thái độ hoài cổ, sao chép quá khứ trần tục như khoa khảo cổ, nhưng được mời gọi đem sức mạnh Tin Mừng vào giữa lòng văn hóa và các nền văn hóa”[47]. Nhưng rút từ kinh nghiệm của các nhà truyền giáo ban đầu, Giáo Hội rất tán thành lòng đạo đức bình dân “như cách để con người diễn tả đức tin và tương quan của họ với Thiên Chúa”[48].

Đàng khác, theo hướng của Ủy Ban Truyền Giáo thuộc Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu, chúng ta suy nghĩ nhiều, tìm cách thích hợp nhất kể truyện Chúa Giêsu cho người dân Việt. Thần học kể truyện nhắm làm mới mẻ những tư tưởng truyền thống nhờ hòa nhập những dạng thức truyện kể. Thần học kể truyện rất trân trọng các ẩn dụ, biểu tượng, dụ ngôn, thuật tu từ, loại hình tiểu sử và sử thi. Khoa thần học này không dẫn người suy tư trên cảm nhận thực nghiệm như các ngành khoa học nhưng đưa người suy tư trên trình thuật và trên thần học về trình thuật. Ưu điểm của thần học kể truyện là khả năng đưa người vượt quá giới hạn luận chứng của lý luận để huyền đồng với cảm nghiệm, khởi từ trình thuật ban đầu[49]. Từ những điểm tựa trên, chúng ta đi tìm một hướng loan Tin Mừng cho nền văn hóa Việt Nam hôm nay.

1/ Huyền đồng Thiên Chúa với Ông Trời

Việt Nam có nhiều tôn giáo và tín ngưỡng nhưng dù là tín đồ Phật Giáo, Khổng Giáo hay Lão Giáo, hầu hết dân mình vẫn tin vào Ông Trời. Ông Trời là Đấng Tối Cao, là chủ của trời đất và giữ vận mạng mọi người. Ông Trời từ bi, nhân ái, thấu suốt lòng dạ con người và luôn mong muốn mỗi người ăn ngay ở lành. Lạy Trời mưa xuống, Lấy nước tôi uống, Lấy ruộng tôi cày, Lấy đầy chén cơm, Lấy rơm đun bếp. Hoặc Lưới trời lồng lộng! Con người có thể né tránh nhau nhưng chẳng ai thoát được quyền năng Ông Trời! Ông Trời là gốc tổ, Trời sinh, Trời dưỡng:


Con chim nó hót trên cành

Nếu Trời không có, có mình làm sao?

Con chim nó hót trên cao

Nếu Trời không có, làm sao có mình?

Ông Trời trong niềm tin dân gian là Đấng hộ phù, độ phước cho con người. Trời ban phước cho ai làm lành lánh dữ: Ở hiền thì lại gặp lành. Những người nhân đức Trời dành phước cho / Ở xởi lởi Trời cởi ra cho. Ở so đo Trời co ro lại. / Trời cho, hơn lo làm. / Nhưng Ông Trời không cho phép con người ỷ vào ơn Trời và đòi con người cộng tác vun đắp cho đời no đủ hạnh phúc: Phí của Trời, mười đời chẳng có. / Những ai đói rách rạc rời. Bởi phụ của Trời, làm chẳng có ăn. / Trời nào phụ kẻ có nhân. / Trời nào có phụ ai đâu. Hay làm thì giầu, có chí thì nên. / Của Trời, Trời lại lấy đi. Giương hai mắt ếch, làm chi được Trời. Trời gìn giữ mọi vận hành của trời đất: Núi kia ai đắp nên cao. Sông kia biển nọ ai đào mà sâu?

Đặc biệt dân gian luôn hết lòng biết ơn Ông Trời đã đổ tràn ơn phúc:


Ơn Trời mưa nắng phải thì

Nơi thì cầy cạn, nơi thì bừa sâu.

Nhờ Trời mưa gió thuận hòa

Nào cày nào cấy trẻ già đua nhau.

Nghiêng vai ngửa vái ông Trời

Đương cơn hoạn nạn, độ người trần gian

Xưa kia chỉ biết kêu Trời

Mà nay đã biết gọi Trời là Cha

Trần gian chẳng phải là nhà

Đi về vĩnh cửu gặp Cha trên trời.

Nhưng hôm nay khuôn mặt Ông Trời đã phai lạt dần, phai lạt do người ta không thích dính líu với Trời, nên hình thành những giáo án giảng dạy tại các lớp thấp, lớp cao để khước từ Trời. Một Cha sở kể, họ đạo của cha ở giữa vùng đồng khô cỏ cháy. Một ngày dân trong vùng được điều động đi khơi sâu kênh dẫn nước chống hạn hán, cha sững sờ thấy một đám đông vác cuốc xẻng ra đồng, đi đầu là hai người giơ cao biểu ngữ, “thằng trời hãy tránh ra xa, để ông thủy lợi đứng ra làm trời”. Rõ ràng khi người ta đóng kín con người trong vòng hưởng thụ và lợi nhuận vật chất, nhiều người dân sẽ chạy đua với lợi nhuận bằng mọi giá, bất kể sức khỏe sinh mạng của ai. Theo đó công nghệ lương thực ra đời. Người ta chế tạo patê, thịt nguội với hàn the (Borax), giữ bánh phở, hủ tíu tươi lâu bằng thuốc ướp xác phóoc môn (formol). Hành phi bán rộng rãi cho các nhà hàng trong nước và ngoài nước, được chế biến với dầu múc từ ống cống. Nước tương, nước mắm mở ngỏ cho 3-MPCD, một độc chất gây ung thư vượt mức từ 2mg / kg trở lên. Sữa nhiễm Mélamine gây tử vong cho bao nhiêu trẻ em. Và đồ chơi trẻ em làm hại gan, gây suy thận. Người ta còn hãi hùng với công nghệ trồng rau muống tại Củ Chi với Fortazeb, Mexyl MZ và nhớt thải xe máy... Trường hợp loan báo Tin Mừng cho một nền văn hóa có chiều hướng bất đồng với Tin Mừng, “hội nhập văn hóa theo Thông Điệp Redemptoris Missio, là khôi phục lại con người toàn vẹn vì họ ‘được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và giống Thiên Chúa’[50] bằng cách kéo họ ra khỏi cơn cám dỗ lấy mình làm tâm, khi thấy mình hoàn toàn độc lập với Đấng Tạo Dựng”[51].

Đức Gioan Phaolô II nhấn mạnh tại UNESCO: “Chiều kích đầu tiên và căn bản của văn hóa chính là một nền luân lý lành mạnh và một nền văn hóa đạo đức”. Cụ thể giữa môi trường xã hội, mỗi người sẽ thành chứng nhân của lòng tôn thờ và vâng phục Thiên Chúa, Ngài thấu suốt tâm lòng người và sống động nơi lương tâm con người, dạy chúng ta biết chọn tốt loại xấu, chọn yêu thương bỏ ganh ghét. Một linh mục tại Long Khánh thường giao dịch với một ngân hàng lớn tại Sàigòn. Một lần anh tới nhận tiền cho một cộng đoàn. Mấy nhân viên ngân hàng sơ ý đã trao lầm cho anh số tiền lớn. Nhận tiền xong anh về ngay, quên không đếm lại. Chiều hôm ấy các nhân viên liên hệ trong vụ đếm lầm đã bao chiếc xe mười hai chỗ lên gặp anh. Nhưng anh vắng nhà, cả nhóm đành ngồi chờ và gặp anh lúc đã khuya. “Thưa Cha, xin cha kiểm lại giùm số tiền cha mới lãnh hồi sáng. / Tôi chưa đụng tới, nếu dư vẫn còn đó, chẳng ai lấy đâu mà lo!” Vậy là anh đã gửi lại trọn số tiền đếm dư. Có ai đó chân thực nói cảm tưởng mình, “Đúng là Cha có Chúa, Trời xanh có mắt!” Những thể loại chứng từ “Cha có Chúa” sẽ mạnh mẽ thuyết phục các anh chị em mình trở về với Trời xanh có mắt, về với Đấng Tối Cao. Khuôn mặt của Ông Trời đúng là tiền dung khuôn mặt Thiên Chúa. Không sốt ruột được, chúng ta phải chờ, mưa lâu thấm đất, lòng người tin có Ông Trời, một nền văn hóa thấm nhuần ý Trời sẽ mở ra cho siêu việt. Và “Khi đã ăn rễ sâu trong kinh nghiệm, các nền văn hóa cho thấy đặc tính của con người là mở rộng cho những gì phổ quát và siêu việt”[52].

2/ Đi tìm Tình Yêu và Hạnh Phúc Trong Mái Ấm

Vào thời người ta còn yên trí “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, người phụ nữ luôn phải gánh chịu thiệt thòi, một cô gái bị tố cáo ăn cơm trước kẻng có thể bị làng bắt vạ, cạo đầu bôi vôi, thả trôi sông cho ra phận vô thừa nhận. Cũng trường hợp này, người phụ nữ Do Thái có thể bị ném đá đến chết. Ngày thánh Giuse sững sờ nhận ra Đức Mẹ có vòng số hai bất thường, Giuse vội vã xếp khăn áo, xách vali bỏ đi một mình để mặc Nàng bụng mang dạ chửa! Nhưng Thiên Sứ đã ngăn lối anh đi, “Này anh Giuse, là con cháu Đavid, đừng ngại đón Maria vợ anh về vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần...”[53]. Maria ngày ấy đã vui lòng nhận lãnh sứ vụ làm mẹ Con Thiên Chúa, bất chấp hiểm nguy, vất vả, chẳng lo gánh nặng trách nhiệm. Nàng đã ‘xin vâng’ là vâng đến cùng. Còn những ‘nàng Maria hôm nay’ có thể đang ngần ngại chẳng dám dấn thân cho nền văn minh sự sống. Sợ con sinh ra ăn mất phần mẹ cha, anh em, lo con thành gánh nặng cho mẹ nên mẹ cha đã ‘xử’ con trước khi con chào đời. Theo AP ngày 5.9: Bà Sakineh Mohammadi-Ashtiani, 43 tuổi, có 2 con, bị chính quyền Tehran kết án ném đá do ngoại tình. Phát ngôn viên của Đức Benedictô XVI cho biết: “Lập trường Giáo Hội Công Giáo phản đối án tử hình đã rõ, và ném đá là hình thức nhẫn tâm”. Thông báo của Vatican cho biết những phương thế can thiệp để bênh vực nhân quyền được thực hiện qua ngoại giao, và trong quá khứ Vatican đã từng can thiệp vào những sự kiện tương tự. Vào tháng 7, chính quyền Iran cho biết họ sẽ không thực hiện hình thức ném đá nhưng có thể chọn treo cổ! Không biết những người liên đới trong vụ án này, người tố cáo, người xét xử có thấy mình trong sạch hơn nạn nhân bị khép án tử hình này, tử hình mẹ, cũng là liên đới bức bách hai người con! Trong lòng dạ con người, chẳng lẽ lòng khoan dung, nhân ái đã bị xóa sạch.

Khi xóa đi khuôn mặt ông Trời, người ta dành lấy quyền tùy tiện ấn định các giá trị của cuộc sống. Trong đó, sự sống cao cả do Chúa ân ban được đưa ra cân đo, ước giá theo những tiêu chuẩn hưởng thụ, kinh tế, xã hội. Chúng ta không ngạc nhiên khi hay tin Việt Nam là cường quốc phá thai đứng đầu thế giới. Eo ơi! Mấy triệu người phá thai mỗi năm, phá vô điều kiện, phá ở mọi thời điểm của thai kỳ! Khi coi thường sức sống là quà tặng của tình yêu, con người cũng từ chối chính tình yêu chân thực và chỉ còn lại gia sản vật chất, tiện nghi và cuộc sống chung làm nền tảng. Hạnh phúc gia đình được đánh giá bằng hưởng thụ nên không đủ sức kết nối các phần tử của gia đình. Gia sản ba mẹ để lại cho con là tài khoản, căn nhà, chiếc xe, nếu hân hạnh hơn con cái được cha mẹ lo cho mớ kiến thức kỹ thuật khoa học làm vốn vào đời. Và chấm hết!

Bước ngoặt của hành trình hội nhập văn hóa hôm nay là Phúc Âm hóa nền văn hóa thực dụng, “Phúc Âm hóa bao giờ cũng lấy con người làm khởi điểm và luôn trở về với các mối tương quan của con người với nhau và với Thiên Chúa”[54]. Ở đây trong tình thế này, nhắm Phúc Âm hóa gia đình, chúng ta lại chọn giải pháp Kể Truyện Chúa Giêsu. Mỗi người trong nhà sẽ không ngừng kể truyện nhà Nazaret cho nhau nghe, vợ chồng kể cho nhau, cha mẹ kể cho con cái. Những câu truyện đời chồng, đời vợ, đời Con của Nhà Nazaret được kể lại cùng với cảm nghiệm thực tế đời mình sẽ tạo những cảm nhận mới, sinh khí mới cho gia đình. Những truyện kể theo ơn soi dẫn của Thánh Linh sẽ truyền tải sức cháy nóng và ánh sáng cho mái ấm, củng cố những mối tương giao vợ với chồng, cha mẹ với con cái và gia đình với Chúa. “Một câu truyện sẽ chẳng bao giờ đơn thuần là truyện. Câu truyện thực sự trở thành truyện khi được kể lại hay thuật lại, và hy vọng được lắng nghe. Ngày nay, một trong những tên gọi của kể truyện là chia sẻ”. Có ai khám phá ra niềm vui của gia đình hôm nay là nói cho nhau nghe, nghe nhau nói, chính lúc nghe và nói, lúc chia sẻ với nhau Tin Mừng, mỗi người sẽ hiểu nhau hơn, hiểu Lời Chúa hơn. Từ đây mái ấm gia đình thành thửa ruộng màu mỡ cho tình yêu và hạnh phúc nở hoa. Một buổi tối trước bữa ăn, cô bé sáu bảy tuổi dằn bên dưới cái chén của mẹ một mảnh giấy: Mẹ ơi, mẹ nhớ không? Tiền quét nhà 2.000đ, tiền ẵm em 3.000đ và rửa chén 1.000đ. Tổng cộng 6.000đ. Người mẹ vừa trong bếp ra ướt đẫm mồ hôi trên trán, nhìn tấm “hóa đơn” của cô con gái mà xót xa. Nhưng bà vẫn tỉnh bơ như chẳng biết chuyện. Buổi tối hôm sau, dưới chén của cô có tờ giấy gập đôi: “Con yêu, Chúa Giêsu sống với mẹ cha ở nhà Nazaret có tính công làm mộc với cha, rồi bắt Mẹ Maria trả tiền đâu? Còn mẹ, công mang thai con, mẹ tính 0đ, công mẹ sanh con tính 0đ, mấy năm dạy dỗ, bảo bọc con, mẹ tính 0đ. tổng cộng 0đ!” Những dòng kể truyện đời của Chúa Giêsu, thánh Giuse, Đức Mẹ đã làm cô bé thổn thức, “Con xin lỗi mẹ”. Mẹ con ôm nhau nước mắt lưng tròng. Hạnh phúc ơi!

3/ Giới Thiệu Văn Hóa Tình Thương Cho Giới Trẻ

Đức Bênêđitô XVI trong thông điệp đầu tiên Thiên Chúa là Tình Yêu (TCLTY) đã để lộ nỗi băn khoăn trước tiên của ngài về thời đại, ngài lo ngại con người lạc hướng khi đi tìm tình yêu chân thực: “Trong thông điệp đầu tiên của mình, tôi muốn đề cập đến tình yêu Thiên Chúa trao ban hào phóng trên chúng ta và đến lượt chúng ta phải thông truyền cho người khác”[55]. Riêng với giới trẻ chúng ta đồng cảm nỗi lo của Đức Bênêđitô XVI. Trong tình hình hiện nay, nhiều người bạn đang rủ nhau “thức thời” trước tình yêu. Nhưng đáng buồn tình yêu các bạn thường đón nhận là tình yêu đáng ngờ, là eros hơn là agape. Nhiều bạn trẻ hôm nay chẳng đồng tình với Giáo Hội, “với tất cả những lề luật và cấm đoán của mình, phải chăng Giáo Hội đang biến thứ quý nhất trong cuộc đời thành một điều cay đắng? Giáo Hội đang thổi còi chặn lại khi niềm hoan lạc, một hồng ân do Tạo Hóa trù định, đang mang đến cho chúng ta một niềm hạnh phúc như một nếm thử nhất định về Thiên Chúa?”[56]. Trước suy nghĩ ngược dòng đạo lý đó, Đức Thánh Cha cảnh giác các bạn, “Khi yêu không chỉ có hồn yêu hay xác yêu mà thôi, song chính là con người, một nhân vị, một tạo vật hiệp nhất gồm cả thể xác và linh hồn. Chỉ khi nào cả hai chiều kích thật sự được kết hiệp, lúc đó con người mới đạt đến tầm vóc đúng mức của mình. Chỉ khi đó tình yêu, eros mới có thể trưởng thành và đạt đến sự cao cả đích thật của nó”.

Nhiều người nhận xét, giấc mộng công danh đang áp lực mãnh liệt trên các bạn trẻ, làm như các bạn chỉ qua con đường đậu đạt bằng cấp mới có công danh, sự nghiệp nên mọi vốn liếng đầu tư thời gian và sức lực đều dành cho thi cử. Thi đậu bằng xong lại tham gia thi tuyển xin việc, có việc rồi còn thi tiếp lên vị trí cao, quyền hành lớn, chẳng chút bận tâm tới ý nghĩa cuộc đời, lý tưởng trong đời. “Đường đi khó không khó vì lên trên ngó xuống, mà khó vì lòng người ngại xuống ham lên”. Dĩ nhiên đường công danh cũng song hành với “con đường tình ta đi”. Nhưng tình yêu ở đây chỉ là thứ bóng mát trưa hè, là bến đậu giữa biển đời giông gió, là tiện nghi êm ái trong nếp sống hưởng thụ. Thứ tình yêu này chẳng cứu được chúng ta thoát những cơn mê tham, tham sân si, mê danh giá. Có phải các bạn đã từ bỏ agape và dứt khoát chọn eros? Không, các bạn đang buông trôi, có gì ăn nấy, có hướng là đi, có nhà thì trọ. Vấn đề là các bạn chưa cảm nhận được agape, “Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá, chỉ biết yêu thôi chả biết gì”[57]. Loan Tin Mừng cho giới trẻ ở đây hôm nay chúng ta chọn gặp gỡ các bạn để hiểu biết, cảm thông nhau, không vội kết án, loại trừ nhau, và giới thiệu cho nhau nền Văn Hóa Tình Thương của Đức Giêsu. Thông điệp Thiên Chúa Là Tình Yêu khẳng định: “Chỉ thái độ sẵn sàng gặp gỡ người anh em tôi và chứng tỏ cho người ấy thấy tình yêu của mình, mới làm cho tôi cũng nhạy cảm với Thiên Chúa. Chỉ khi tôi phục vụ người anh em tôi, mắt tôi mới mở ra cho tôi thấy những gì Thiên Chúa đã làm cho tôi và Ngài yêu tôi biết dường nào”[58]. Và tiếp đó chúng ta kể truyện tình yêu của Chúa Giêsu cho giới trẻ và “hãy để câu chuyện lên tiếng và cảm hóa. Hãy để Thánh Linh mở cửa trái tim và ký ức người nghe, rồi mời gọi họ thay đổi Giáo Hội Á Châu khuyến khích việc tái khám phá các phương cách mới khi kể truyện Đức Giêsu, tìm lại nét sống động của lối kể truyện và khai thông tiềm năng lối kể chuyện ấy cho cuộc tái tạo những thực tế Á Châu”. Việt Nam mới tôn vinh giáo sư Ngô Bảo Châu, người vừa lãnh giải Fields toán học ở tuổi ba mươi tám. Một bông hoa tỏa hương trong vườn hoa VN, chúng ta cũng được thơm lây. Bao nhiêu phim ảnh, báo chí trong và ngoài nước đã hết lời ca tụng tài năng xuất chúng này. Nhưng khi người ta tôn vinh giáo sư Ngô Bảo Châu, có ai chạnh lòng nghĩ tới một chàng trai đất Việt đã chết mất rồi. Có lẽ người Việt chúng ta không ai để ý tới anh nhưng chính Đại Sứ Canada tại VN đã đích thân ghé nhà anh ở Huế, thăm người má anh và tôn vinh anh. Người bạn trẻ này trong một cuộc du ngoạn mùa hè chung với các bạn sinh viên cùng trường, điểm cắm trại là vùng rừng núi bên cạnh bờ hồ. Các bạn trẻ không để ý tới độ sâu của hồ nên đồng loạt năm người cùng nhảy xuống tắm, tất cả đều chới với trong hồ nước. Không ngờ trong cơn nguy cấp giữa vùng núi rừng hoang vu này chỉ mình chàng trai Việt biết lội, anh cố hết sức đưa được ba bạn. Nhưng đáng tiếc anh kiệt sức không cứu nổi người thứ tư và cũng không cứu được chính mình. Người bạn trẻ đã chết chung hôm ấy với bạn trong lòng nước hồ! Việt ơi, anh chẳng tài nghệ xuất chúng như ai, anh chỉ có tâm hồn rộng mở và đôi tay luôn sẵn sàng làm gì đó cho nhau, sẵn sàng cứu vớt nhau dù cứu nhau cũng là liều mạng mình. Có thể chẳng ai để ý tôn vinh anh nhưng Việt ạ, chính tình yêu và chính Đấng là Tình Yêu muôn thuở đã tôn vinh anh muôn đời.

Trong đời có thể bạn và tôi, chúng ta chẳng danh giá gì với ai nhưng chúng ta tin, khi cúi xuống với nhau, chính tình yêu và chính Đấng là Tình Yêu tôn vinh chúng ta.

KẾT

Procusto, một tên cướp ác độc và ngang ngược, hắn thường ngang nhiên chận người ở các ngã ba, ngã tư đường phố để ăn cướp. Lạ đời, trong những vụ cướp bóc, Procusto không mảy may lấy của ai đồ vật gì, vàng vòng, tiền của hắn phớt lờ, hắn chỉ chú ý tới con người. Thủ tục cướp bóc của hắn rất khác người. Trước tiên hắn cho đồng bọn mang vũ khí chận bắt người. Bắt được ai, bất kể nam nữ, các đệ tử trói cổ lôi ngay về sào huyệt hành sự! Trước tiên hắn cho cột nạn nhân vào một chiếc giường đặc biệt với thước tấc được tính toán chính xác. Chính Procusto chỉ huy, nạn nhân nằm trên giường nếu dài quá khổ, hắn ra lệnh chặt bớt chân cho vừa giường, nếu ngắn hơn khổ giường, phải cột giây vào chân để đồng bọn ra sức kéo cho dài vừa. Ai vừa vặn hắn thả cho về. Nghe nói tên cướp này cứ len lỏi sống giữa dân chúng, ngày ngày đi cướp bóc khắp nơi và ẩn náu rất kỹ, nên qua bao nhiêu thời, chuyện cướp bóc mờ ám này vẫn trót lọt, chưa một lần bị đem ra ánh sáng xét xử! Có tin đồn đại mãi tới hôm nay con cháu Procusto vẫn đang hành nghề đây đó ngay giữa thanh thiên bạch nhật!

Chuyện kể về tên cướp Procusto chỉ là huyền thoại chống lại thái độ khép kín đời người vào một khuôn mẫu tạo ra từ một lối nhìn, một quan điểm, một lập trường tù túng nào đó. Trong khi đời là dòng chảy uốn lượn thênh thang và sống là tự do đáp ứng lời mời gọi của Đấng là chính tự do và khuôn mặt con người giống bóng hình Thiên Chúa tự do, “Ai không chống lại Thày là đứng chung phía với Thày”.

Loan báo Tin Mừng là cuộc gặp gỡ của Tin Mừng với anh chị em mình, những con người được mời gọi sống cuộc sống tự do của con cái Thiên Chúa. Và chính ơn ban tự do là nền của văn hóa bản địa với những nét đặc trưng, nét cao đẹp và cả những bóng tối. Loan báo Tin Mừng trước tiên không là đưa một khuôn mẫu văn hóa sẵn có chụp lên một địa phương, một vùng đất, một quốc gia nhưng là “biến đổi sâu đậm những giá trị văn hóa chân thực nhờ hội nhập các giá trị. Trong đường hướng mục vụ về văn hóa, quan trọng là làm sao khôi phục lại con người toàn vẹn vì họ ‘được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và giống Thiên Chúa’”[59].

Chúng ta tâm đắc với khẳng định của Đức Bênêđitô XVI, “chính những tiến bộ về văn hóa cho thấy trong con người có cái gì đó vượt trên các nền văn hóa. ‘Cái gì đó’ chính là bản chất của con người: bản chất này là thước đo văn hóa và là điều kiện để bảo đảm con người không phải là tù nhân của bất cứ nền văn hóa nào, nhưng con người khẳng định phẩm giá riêng mình bằng cách sống theo sự thật sâu thẳm về hiện hữu của mình”[60].



1 St 1,26

2 1Cr 9, 19-21

3 St 1, 26

4 Redemptoris Missio

5 Tài liệu của Hội Đồng Giáo Hoàng Về Văn Hóa trong Đại Hội năm 2008, chủ đề The Challenge For The Pastor and The Faithful of Secularized Countries

6 St 11,3

7 Sđd.

8 St 11, 5-8

9 ĐHMV 3

10 x. Jonah 4, 11

11 ĐTHMV 3

12 Dei Verbum, 11

13 Sđd, 13

14 Dấu Ấn 350 Năm Giáo Hội Công Giáo Tại Việt Nam t.426

15 Lịch Sử Giáo Phận Kon Tum, tài liệu chính thức của Giáo Phận

16 Dei Verbum, 13

17 ĐTHMV 3

18 Dấu Ấn 350 Năm Giáo Hội Công Giáo Tại Việt Nam t. 427

19 Mt 28,19

20 x. Cv 16, 3

21 Ep 5, 23

22 Redemptoris Missio, 52

23 Dấu Ấn 350 Năm Giáo Hội Công Giáo Tại Việt Nam, t. 437

24 Chữ Quốc Ngữ LaTinh Hóa, Đỗ Hữu Nghiêm

25 x. Mission in Asia, telling the story of Jesus.

26 St 12,1

27 St 12,9

28 St 12, 10-20

29 St 13, 1-4

30 St 23, 4

31 Evangelii Nuntiandi, 18-10

32 ĐTĐHMVVH, 4

33 Sđd, 4

34 x. Evangelii Nuntianđi 55

35 x. Sứ Điệp của Đức Bênêđitô XVI trong phiên Khoáng Đại của Hội Đồng Giáo Hoàng Văn Hóa với đề tài Giáo Hội Và Thách Thức Tục Hóa. Ngày 8 tháng ba 2008

36 ĐTĐH 14

37 ĐHMV 4

38 Xh 32, 7-9

39 2V 3,4

40 TMSS 63

41 Tv 139/138,1.13-16; TMSS 60

42 Vicesimus quintus annus, 16

43 ĐTHMV; Lumen Gentium, 67

44 trích từ Hạt Nước Hay là Đại Dương xb. 1995 của Giáo Sư Nguyễn Văn Thành

45 Tàn Đà

46 ĐTHMV

47 Fides et Ratio 71

48 x. Lumen Gentium, 67; ĐHMVVH 28

49 x. Dictionnaire Critique de Théologie. Jean-Ives Lacoste. 1998

50 St 1, 26

51 Fides et Ratio, 70

52 Mt 1, 20

53 Veritatis Splendor, 53

54 TCLTY 1

55 TCLTY 3

56 Sđd 3

57 Xuân Diệu

58 TCLTY 18

59 St 1, 26; Redemptoris Missio

60 Veritatis Splendor, 53

gioanha
04-10-2010, 09:45 PM
NHỮNG BƯỚC CHÂN THẦM LẶNG

“Nói với Chúa và nói về Chúa.”


Với linh đạo của Dòng Đa Minh, Hội Dòng chúng con luôn ý thức sứ vụ cao cả mà Đấng sáng lập muốn mỗi thành viên chúng con tiếp tục công việc của Đức Ki-tô với nhiệm vụ ưu tiên: "Hãy đi khắp thế giới và loan giảng Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo”. (Mc 16, 15). Đây chính là sứ mạng riêng của Dòng và cũng là sứ mạng của toàn thể Giáo hội.

Trong tinh thần người Tu sĩ Đa Minh, Hội Dòng chúng con đã hiện diện tại các thí điểm truyền giáo từ năm 1977 cho đến nay, không chỉ tại Giáo Phận Xuân Lộc, nhưng còn trải rộng trên Gíáo phận Long Xuyên, Gíáo phận Đà Lạt và đặc biệt là Gíáo Phận Kontum. Trong tinh thần hiệp thông của ngày đại hội, chúng con xin được chia sẻ đôi nét về thí điểm truyền giáo thầm lặng – KONG CHRO.

Đây là một thí điểm mới của Hội Dòng và của Giáo phận Kontum, một thí điểm có nét rất riêng trong việc truyền giáo hôm nay: vì chính nó không mang sắc thái hoạt động với những hình thức bên ngoài, nhưng trong cung cách thầm lặng và tiệm tiến. Tuy nhiên, trong sự âm thầm đó vẫn nói lên được chiều kích và tầm quan trọng trong việc truyền giáo:

1. Hiện diện trong an bình

2. Lao động trong vui tươi

3. Cầu nguyện trong gian truân.

4. Sống chứng nhân.

Và đây cũng là con đường truyền giáo của các vị thừa sai của miền truyền giáo tây nguyên thủa ban đầu. Nhưng từ chỗ rất âm thầm này đã dội lên một tiếng vang lớn, vang xa khiến nhiều người, nhiều nơi biết đến. Đạo Chúa đã đến miền đất trắng tôn giáo, một nơi xem như dậm chân tại chỗ và bị cản lối nhưng lại là bước tiến rất xa và rất trân quý.

1. Hiện diện trong an bình

Nằm trên đường xa lộ Đông Trường Sơn tại km 346+200 phía Đông Trường Sơn, Nam Tây Nguyên. Kong Chro thuộc thôn 10, Yang Trung, huyện Kong Chro –tỉnh Gia Lai, với 9 dân tộc cùng chung sống: Kinh , Thái, Dao, Jrai, Mường, Tày, Nùng, H’mông, và cuối cùng là Bahnar chiếm 80% dân số.

Kong Chro, đất đai rộng lớn, nhưng khô cằn sỏi đá gai góc, đường đi vào huyện Kông Chro thật khó, nhưng nhập cư sinh sống ở đây còn khó hơn chút nữa, và đường đi đến với lòng người Kông Chro (kon Kinh, kon Kông), thì quả thật vô cùng khó khăn, vì Kong Chro được coi là huyện trắng tôn giáo của tỉnh Gia Lai, nơi đây không có một ngôi chùa hay thánh đường nào xuất hiện.

Ngày xưa, Làng Hồ được khởi đầu bằng con đường tiến tới do sự gian khổ của Thầy Sáu Do, thì KongChro hôm nay cũng được khai phá đầy nhọc nhằn và gai góc của ba nhà Tu Sĩ Đa Minh tiên khởi. Biết rõ như thế nhưng câu chuyện về Kong Chro vẫn cứ bắt đầu.

Gieo trồng Lời vào miền đất Bahnar bên kia núi miền Kông Chro là một trăn trở, một thao thức, một khát vọng lớn của vị chủ chăn Gíao phận Kontum. Vì thế, Đức Cha Micae Hoàng Đức Oanh- Gíam mục giáo phận Kontum đã đưa hai nữ tu là Chị M. Cao Thị Nhiệm và Chị M.Phạm Thị Đức thuộc Dòng Đa Minh Tam Hiệp, đi du học tại Toà Gíam Mục Kontum với chuyên ngành ngôn ngữ Bahnar, để chuẩn bị gieo trồng Lời vào miền đất Kong Chro của sắc tộc Bahnar.

Sau một năm du học, hai chị cũng được tốt nghiệp. Và ngay ngày ra trường ấy, ngày 19/5/2008 Đức Cha Micae đã đưa hai chị đến cùng chung chia sứ vụ với Thầy Giuse Nguyễn Hữu Phú, OP, một Thầy Sáu của dòng Đa Minh đã hiện diện tại đây từ năm 2006. Tuy nhiên khi vừa bước chân trên mảnh đất Kong Chro, hai chú Công an huyện đã tới tận nhà thăm viếng... thử thách đầu tiên đã đến với các Chị. Với kinh nghiệm của một nhà truyền giáo, Đức Cha Micae đã gợi ý : “thời gian đầu hai chị em xin tạm trú tại nhà Chú Sáu để mai sau có thể ở lại phần đất này”, thế là một mô hình truyền giáo mới được thiết lập với sự hiện diện của một Thầy Sáu và hai nữ tu Đa Minh trong một ngôi nhà nhỏ bên dòng sông Pa. Đây là cộng đòan tu sĩ đầu tiên ở Kong Chro.

Ba nhà thừa sai được Đức Cha Micae chỉ cho vùng đất phải canh tác với giọng nhân từ nhưng cương quyết: “Đất canh tác đó – ba người chúng con hãy lo dọn đá, dọn sỏi, dọn gai góc… ngày ngày chỉ lao động với cái cuốc, cái liềm. Và để thêm sinh lực cho đời sống là lời cầu nguyện, kết hợp không ngừng trong lao động, cũng như phải chan hòa niềm vui, sự bình an ngay trong cộng đòan và với mọi người mình tiếp xúc.”

“Đẹp thay trên đồi núi, bước chân người loan báo Tin Mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ” (Is 52,7), Lời ấy vang dội trong tâm trí của ba nhà truyền giáo và xoáy sâu vào tâm hồn từng người với một quyết tâm:

- Dù chúng ta sống ở Kong Chro như để có mặt, mà cho dù không có mặt chúng ta cũng chẳng là gì… chỉ duy tâm nguyện: “vì tình yêu đối với Chúa và phần rỗi các linh hồn, mà chúng ta hiện diện vui vẻ; dù lao nhọc vất vả chúng ta cố gắng yêu mến triền miên từng ngày với Đấng chúng ta đã tự nguyện mến yêu. Mong sao cho những con người ở nơi đây – Kong Chro, đất hoang. Vườn ươm cây đức tin chưa nảy mầm, một ngày nào đó như vườn cây được tưới nước sẽ nảy mầm lớn lên thành cây và đơm bông kết trái dồi dào” (ý thánh vịnh 125).

Thời gian trôi qua, ba nhà truyền giáo chỉ hiện diện trên vùng đất sỏi đá trong an bình, không rao giảng, không mục vụ, không thăm viếng... Tuy nhiên, sự hiện diện thầm lặng này cũng đã không trở nên vô ích, khi ngôi nhà trở thành sân chơi của những em bé Bahnar vào những buổi chiều tối, trở thành điểm họp mặt anh chị em dân làng và cũng trở thành lớp âm nhạc với những cây đàn organ cho các em.

2. Lao động trong vui tươi

Thời gian cứ lặng lẽ trôi, ba Tu sĩ Dòng Đa Minh vẫn âm thầm theo kế hoạch: án binh bất động. Mỗi người là mình, nhưng không ai là một hòn đảo, ba nhà truyền giáo hân hoan bắt tay vào lao động, ngày ngày vác cuốc ra vườn trồng tre, trồng chuối, làm bồn cho tre và chuối, vác máy xuống sông nối dây tưới cho tre, chuối và các thứ cây trong vườn. Nuớc sông Pa mát lạnh, làm mấy cụm tre, bụi chuối cười thích chí, reo vui ồn ào và xanh tươi biết bao, để rồi cả ba tự hài lòng, đồng thanh vang tiếng cảm tạ ơn Chúa: “Gìơ đây Chúa sai tôi đem tin vui đến cho mọi người, tiếng cười lau khô mồ hôi nước mắt…” và cho dù có vất vả gian truân dưới tiết trời nắng như đổ lửa, tiếng hát vẫn vang lên trên đồi núi: “và tôi sẽ ra đi, mang trên vai trái tim tình người, bước đều đôi chân tình thương lấp lối.” (Chúa sai tôi – Phạm Quang,OP).

Từng phút giây lao động của những nhà truyền giáo được hoà trộn trong tâm tình cầu xin: “Mong sao cho anh em bốn phương một nhà, mong sao cho bốn phương là con một Chúa…”

Ngày lại ngày cũng tay cuốc tay cày như một nông dân miền núi, người dân làm nông với khúc ca: “Trên đất giồng mình trồng khoai lang,” còn nhà truyền giáo thì lại hát: “Trên đất này mình trồng yêu thương” với ý thức mình đang thi hành sứ mệnh của Cha (X.Ga 4,34)

Ý thức sứ mệnh trong lao động, những nhà truyền giáo lại mở rộng thêm ngành chăn nuôi gà để phát triển cánh đồng truyền giáo. Được sự chúc phúc của chủ ruộng Giêsu, đàn gà mau lớn, không bệnh tật, ai đến cũng thấy mê. Tiếng lành đồn xa, nên dân làng không mời mà thi nhau tới để mua gà của ba nhà truyền giáo với giá cực rẻ (1 chú gà 2kg chỉ 80,000VND- trong khi gà thị trường là 75,000 VND/1kg ), lại còn được khuyến mãi mua gà tặng măng. Tạ ơn Chúa, Thiên Chúa đã chúc lành cho anh chị em Đa Minh với phương thức mới: “Không đi vào làng mà dân làng đã tự đến với anh em.”

3. Cầu nguyện trong gian truân.

Như tâm tình của Đức Giêsu trước khi chọn 12 tông đồ và sai đi rao giảng, Ngài đã thức suốt đêm để cầu nguyện (X. Mc 3,13), Đức Cha Micae cũng đã tha thiết cầu nguyện trước khi sai ba nhà truyền giáo Đa Minh đến Kong Chro và luôn ân cần nhắc nhở: “Phải lo cầu nguyện và tin tưởng vào quyền năng và tình thương của Thiên Chúa”. (X.Lc 17,5-6)

Khởi đầu sứ vụ là đời sống cầu nguyện, nhưng việc cầu nguyện phải bền bỉ trong kiên trì (X. Lc 11,9-13). Đó là điều kiện để giữ mãi mùa xuân và sức sống trong mỗi người, trong cộng đòan và trong môi trường mình đang sống vì ý thức rằng có Chúa trong mình, có Chúa trong cộng đòan, là có cả mùa xuân hạnh phúc: “Ngọt ngào tốt đẹp lắm thay, anh em được sống vui vầy bên nhau” (Tv 133,1).

Nhưng làm sao để đời sống cầu nguyện có hiệu quả? Cả ba lại phải hiệp nhất trong lời cầu nguyện: “Thầy bảo thật anh em: nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho. Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy giữa họ.” (Mt 18,19-20). Ba nhà truyền giáo mỗi ngày đều chung lưng đấu cật, ra sức góp bàn tay trong lao động, chung tấm lòng trong kinh nguyện Để cùng nhau thi hành sứ vụ trong âm thầm lặng lẽ: cả ba chị em Đa Minh quay cuồng trong kinh nguyện và lao động, nhưng cuộc sống rất vui, vui trong từng ngày sống, vui để đón nhận Thánh ý Chúa, vui vì Chúa là hạnh phúc của đời sống, để được Chúa nhận chìm ở miền đất khô cằn này với mục đích duy nhất: dân làng đang sống trên mảnh đất Kong Chro này mau sớm được hiệp thông với anh chị em trong Giáo hội chung lời ngợi ca Thiên Chúa là Cha nhân từ.

Cả ba mỗi ngày đều như thế, nhưng trong cái “như thế”giản đơn là vậy mà không dễ dàng chút nào – đời có lắm chữ “không ngờ” xảy đến. Có gì đâu: đó chỉ là một ngôi nhà nho nhỏ, nằm sát ven sông, chênh vênh bên cạnh bờ suối, nơi cư trú của một cộng đoàn nhỏ (1 tân linh mục và hai lão nữ tu). Họ sống ở Kong Chro với công việc nương rẫy, họ khác với những người dân sống chung quanh ở chỗ: họ lao động trong vui tươi và trải nghiệm cuộc sống vất vả, khổ nhọc trong hi sinh, cầu nguyện. Từng phút giây họ sống tâm tình với Cha của họ là Thiên Chúa.

Ngoài ra, đối với bà con trong thôn xóm, họ vui vẻ, thân thiện và sống đậm đà tình nghĩa xóm thôn. Thế mà “cái lều” của ba người rất ngu ngơ, coi dáng khờ khờ ấy, chỉ làm thành một gia đình cô tịch, thì “người ta” lại cho là không thích hợp với huyện Kong Chro về phía tôn giáo. Người ta đã tìm mọi lí do và bằng mọi cách phá dỡ cho bằng được, phá đến bình địa, không còn hòn gạch nào trên hòn gạch nào, đau khổ trong ngạc nhiên cả ba cùng thốt lên: “Chúa làm con thẫn thờ, như sư tử nghiền nát thịt xương.”

Tuy nhiên sau biến cố ấy, chính Lời Chúa giúp cho cả ba được vững lòng, cả ba luôn an vui và tín thác vào Thiên Chúa, để rồi cả ba lại tiếp tục cho sứ mạng mới của mình trong ngôi nhà mới giữa cảnh mênh mông của núi rừng Tây nguyên.

4. Sống chứng nhân:

Kong Chro, có biết bao người dân tộc nghèo nàn, đời sống rất lầm than, phần đông chỉ đi làm thuê, làm mướn cho người Kinh với giá quá mạt (30 ngàn đồng một ngày, trong khi người Kinh thì phải trả 60,000 $). Và khi không có ai thuê mướn, họ chỉ biết đi đào dế, lặn sông mò cua bắt ốc… có khi thức suốt cả đêm, nằm trên tảng đá ở giữa dòng sông, để lưới cá chờ từng con cá nhỏ mắc lưới là gỡ cho vào giỏ, cả đêm mà chỉ được vài con cá nhỏ xíu bằng ngón tay. Họ phải đổi cả sức người để được một chút của ăn không ra gì như mấy lá mì, vài quả đậu ván non, với mấy con cá nhỏ, thế mà họ cũng vui vẻ ăn thật là ngon.

Kong Chro: “một khu rừng xấu, một thửa đất hoang, nơi đây chiên dê không người chăn dắt”, vì thế, cả ba lại phải ra công, ra sức cầu nguyện và sống chứng nhân trong yêu thương với nhau và với mọi người. Nhất là khi được hạnh phúc tiếp xúc với dân làng, những người nghèo khổ khốn cùng, cả ba ý thức rằng: “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy… và ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ Thầy.”. (Mt 10,40-42).

Nhớ lời Đức Cha Miace: “Hễ dân tộc vào chơi, xin nước uống hay mua gà, xin măng… lợi dụng nói chuyện với nó lâu lâu một chút”. Vì vậy, mỗi lần có người dân tộc đến chơi, hoặc trên đường họ đi rẫy, đi chăn bò, chăn dê, chăn trâu, họ đều ghé vào căn nhà nhỏ bên bờ sông Pa để xin nước uống, tất cả đều được anh chị em tại đây tiếp đón rất nồng hậu, tử tế. Đó cũng là một trong những công việc của ba người. Bây giờ, mấy kon kông, trẻ em, người lớn, đàn ông, đàn bà, thanh niên nam nữ, cứ ra vào tổ ấm của họ thật vui vẻ, không e dè, sợ sệt gì nữa. Họ có thể đến bất cứ lúc nào, đến để xin cái măng, đến để mua gà, đến để vui chơi…Ba ngày tết, mấy con Kông cũng đến chúc tết ba người: “Thơthâu tôm kơ iem lơng liêm” (chúc ba đứa khỏe đẹp). Thế là: bánh chưng, bánh tét, mứt kẹo, trái cây, đều được cả ba mang ra tiếp đãi bạn bè ta, vui vẻ quá sức.

Mặc lấy tâm tình Đức Giêsu: “Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì nước trời là của những ai giống như chúng…Người đặt tay trên chúng và chúc lành cho chúng” (Mt 19,13-15). Cả ba chị em rất yêu thương trẻ em, nhất là các trẻ dân tộc. Tội chúng lắm, quần áo mặc không đủ che nắng che mưa. Lúc trời lạnh giá, còn khổ hơn, cứ co ro trong mành áo quần tả tơi. Khi trời nắng gắt, đầu không, chân đất, đi dưới trời nắng chang chang. Nhìn các bé con kông như vậy, ai không thấy xót lòng. Vì thế, mỗi khi có dịp tiếp xúc với các bé dân tộc, là cả ba người lại chia sẻ với chúng những bát mì tôm, những nải chuối, bắp chuối, cái măng, những con cá khô, những cây rau trồng. đôi khi có những con kông quá nghèo khổ không có tiền mua gà, ba người đã bán chịu cho họ, khi nào có tiền trả cũng được, nếu họ có quên, hoặc không thể có tiền để trả cũng thôi luôn.

Cứ như thế: cả ba chị em lặn lội vào ruộng sâu lo bới đất mà sống để làm chứng cho Tin Mừng. Ước chi đời sống chứng nhân được Chúa dẫn dắt, phù trì để đời sống trở nên muối men cho đời “Đời sống cầu nguyện và sự hi sinh mỗi ngày là như muối ướp đời.” (X. Lc 14,34-35).

Thay lời kết:

Gửi trọn nguyện ước trong Chúa Kitô

Tâm tình của ba nhà truyền giáo Đa Minh mỗi ngày được dâng lên Chúa trên bàn thờ cuộc sống là tâm tình tạ ơn. Tạ ơn Chúa trong mọi hòan cảnh, vì cả ba ý thức đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Giêsu Kitô (X. 1Tx 5,18).

Và để cuộc sống này không chỉ dừng lại ở những vất vả, khó nhọc, với mồ hôi, với lạnh giá, với nắng cháy, với mưa dầm… nhưng lúc nào ba nhà truyền giáo cũng nhủ lòng: “hãy vui mừng luôn mãi và cầu nguỵên không ngừng” (1Tx 5,16). Để được Chúa xót thương, chúc phúc cho sứ vụ Kong Chro của Dòng Đa Minh: không lơ là, để đến nỗi dẵm dí cả ruộng của Thiên Chúa, nhưng luôn chăm chỉ từng ngày lo bới đất, tìm sỏi, tìm đá, thu dọn gai góc, cỏ hoang, mong sao cho một ngày nào đó, Ngài có thể cho người đến vãi gieo hạt giống: Là Lời của Thiên Chúa

Tâm tình của những người truyền giáo thầm lặng được gói ghém trọn vẹn trong lời thánh vịnh 64 sau đây:


“Thăm trái đất, Ngài tuôn mưa móc

Cho ngập tràn phú túc giàu sang

Suối trời trữ nước mênh mang

Dọn đất sẵn sàng đón lúa trổ bông

Tưới từng luống, san từng mô đất

Khiến dầm mưa cho hạt nảy mầm

Bốn mùa Chúa đổ hồng ân

Ngài gieo màu mỡ ngập tràn lối đi”…

Và lúc bấy giờ chẳng khác chi:

“Vùng hoang địa xanh rì ngọn cỏ

Cảnh núi đồi hớn hở tươi xinh

Chiên cừu phủ trắng đồng xanh

lúa vàng dưới lũng rung rinh dạt dào

Câu hò tiếng hát trổi cao”

(Tv 64,10-14)

Tất cả cùng được âm vang theo tiếng khèn, tiếng trống, tiếng kồng, tiếng chiêng… vang dậy khắp núi rừng Tây Nguyên.


Sr. Mary Trần Thị Kim Loan, OP

Hội Dòng Nữ Đa Minh Tam Hiệp

gioanha
04-10-2010, 09:50 PM
VAI TRÒ LOAN BÁO TIN MỪNG

CỦA NGƯỜI KI TÔ HỮU NGÀY NAY


http://thanhcavietnam.info/gioanha/PICTURE/daihoitruyengiao/DSC_5480_Small_680.jpg

Kính thưa

Quý Dức Cha,

Quý vị khách quý,

Quý Cha, Quý tu sĩ nam nữ

Cùng anh chị em giáo dân tham dự Đại Hội Loan Báo tin Mừng tòan quốc lần I hôm nay.

Tạ ơn Chúa đã cho chúng ta có dịp gặp nhau để cùng nhau đào sâu lệnh truyền RA ĐI loan báo Tin Mừng của Chúa Giê su cùng các giáo huấn của Mẹ Hội Thánh suốt hơn 2000 năm qua. Với tư cách Chủ Tịch Ủy Ban loan Báo Tin Mừng trực thộc Hội Dồng Giám Mục Việt Nam, tôi xin có lời kính chào và chân thành cám ơn Quý Đức Cha, quý vị khách quí, quý cha, quý tu sĩ và đặc biệt anh chị em giáo dân vui long đến tham dự 3 ngày gặp gỡ, cầu nguyện và chia sẻ này. Chủ đề của Đại hội loan báo Tin Mừng tòan quốc lần I năm nay rút ra từ Sắc lệnh Ad Gentes của Công đồng Vaticano II : “KITÔ HỮU VỚI TƯ CÁCH CHỨNG NHÂN VÀ KHÍ CỤ SỐNG ĐỘNG CỦA SỨ VỤ LOAN BÁO TIN MỪNG” (AG 41). Đây cũng là nhiệm vụ và vinh dự của tất cả những ai đã cúi đầu nhận dòng nước thanh tẩy. Tất cả đều được sai đi loan báo Tin Mừng cho mọi người khắp mọi nơi theo gương Thầy chí thánh Giêsu và theo dấu chân của các anh em với những chỉ dậy rất rõ rang và thiết thực. “Bởi vì ơn gọi kitô hữu tự bản chất cũng là ơn gọi làm tông đồ” (AA.2).

Vấn đề đặt ra hôm nay, thiết nghĩ, không còn là học thuyết hay lý thuyết mà là làm gì và làm sao để Tin Mừng được loan báo, để lệnh truyền của Chúa được thi hành nghiêm túc và triệt để.

Thầy Giêsu, nhà truyền giáo vĩ đại. Ý thức sứ mạng được sai, Ngài đã vào đời bằng con đường nhập thể nhập thế, để phục vụ và cứu thế (x. Ga 1,14). Để nói và giúp cho mọi người biết “sự sống đời đời là nhận biết Thiên Chúa Cha độc nhất và chân thật và Đấng Người đã sai đến, Đức Giêsu Kitô” (|Ga 17,3). Chúa Giêsu đã thi hành sứ mạng truyền giáo này: mọi nơi, mọi lúc với mọi người. Ngài đã tuyển lựa 12 tông đồ và nhiều môn đệ khác. Ngài đã sai họ đi. Tất cả đều đã hăng say tiếp nối công cuộc loan báo Tin Mừng của Ngài. Với Ngài, dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Ngài cũng thiết lập Hội Thánh để Hội Thánh không ngừng đẩy mạnh công trình cứu độ suốt dòng lịch sử.

· lệnh Chúa đã trao: “Hãy đi loan báo Tin Mừng cho muôn dân” (Mc 16, 15).

· Kinh nghiệm cũng có nhiều. Đặc biệt kinh nghiệm của Thánh Phao lô, vị tông đồ dân ngoại “khốn thân tôi, nếu tôi không loan báo Tin Mừng” (1Cor 9,16)

· Giáo thuyết và các tổ chức truyền giáo trong Hội Thánh cũng nhiều và đa dạng

Hội Thánh đã cho thiết lập cả 1 thánh bộ lo công cuộc truyền giáo. Thánh bộ đã gửi cho các vị đại diện tông tòa đầu tiên tại Việt Nam một huấn dụ bất hủ, Huấn dụ 1659. Mới đây, Đức Benedicto 16 còn cho thiết lập một Hội Đồng Giáo Hoàng lo tái rao giảng Tin Mừng cho các Giáo Hội kỳ cựu! Công đồng Vaticano II đã dành riêng hai sắc lệnh đề cập tới công cuộc truyền giáo như Ad Gentes (1965) và Apostolicam Actuositatem. Rồi các vị Giáo Hoàng liên tục đưa ra các Thông điệp, Tông huấn và Sứ điệp truyền giáo.

Các thông điệp như: thông điệp Evangelii Nuntiandi (1976) của Đức Thánh Cha Phao lô VI; thông điệp Redemptoris Missio (1009); tông huấn như: tông huấn Christifideles Laici (1989) của Đức Thánh Cha Gioan Phao lô II.

Ngoài ra, Hội Thánh còn cho thiết lập Các hội giáo hoàng truyền giáo để vận động từng giới trong hàng con cái, dồn mọi công sức tiền của với lời cầu nguyện cho công cuộc loan báo Tin Mừng như Hội thánh Phê rô, Hội Hài nhi…

Riêng với Á Châu, nơi sản sinh nhiều tôn giáo lớn, nơi Đấng Cứu Thế đã chọn làm nơi loan báo Tin Mừng cứu độ.

Trước tiên không thể không nói tới một lần nữa, huấn dụ 1659 mà Thánh Bộ truyền giáo đã gửi cho các vị Đại diện Tông tòa tại Việt Nam. Huấn dụ này đã được Công Đồng Yuthia (1664) và Công đồ Phố Hiến (1670) khai triển và vận dụng cách tài tình vào hoàn cảnh truyền giáo tại Việt Nam. Một kho tàng quý báu cho chúng ta hôm nay.

Tuyên ngôn Manila năm 1970 cũng là một tài liệu để đời dưới sự hướng dẫn của Đức Phao lô VI, toàn thể các Giám mục Á Châu đã long trọng xác tín và quyết tâm “ra khơi thả lưới” theo lệnh truyền của Chúa Gie su. Và qua năm 1999, ngày 06/11, Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II đã chọn New Dehli để công bố Tông huấn Ecclesia in Asia. Đây là những văn kiện chỉ đạo rất rõ nét và thích hợp cho công cuộc loan báo Tin Mừng trên lục địa Á Châu mênh mông hôm nay và ngày mai.

Đáp lại lời mời gọi của mẹ Hội Thánh và nhu cầu truyền giáo cụ thể đòi hỏi, LHCHĐGMAC FABC còn cho tổ chức các hội nghị như Hội nghị kể chuyện Chúa Giê su tại Á Châu năm 2006, Hội nghị tham vấn “Loan báo Tin Mừng giữa các cộng đồng dân tộc bản địa 2009”, Hội nghị mới đây nhất tại Hàn Quốc “rao giảng Chúa Ki tô tại Châu Á ngày nay từ 31/08 đến 05/09/2010”. Tất cả đều một mục đích đẩy mạnh công cuộc loan báo Tin Mừng cho miền Đại lục Á Châu rộng lớn.

Kính thưa quý Đức Cha, quý khách cùng toàn thể đại biểu

Lệnh Chúa Giê su đã trao ban. Mẹ Hội Thánh đã quan tâm với những chỉ đạo xít xao phong phú. Nhiều vị cha ông đã hăng say thi hành với cả hy sinh mạng sống. Còn chúng ta hôm qua, hôm nay và mai đây, chúng ta có thể và phải làm gì cụ thể, thiết thực và hữu hiệu thi hành LỆNH đã lãnh nhận. Cầu xin Thánh Thần Chúa và Lời của Chúa soi dẫn Đại hội loan báo Tin Mừng toàn quốc hôm nay có khả năng làm cho hồn tông đồ sống mạnh nơi mỗi ki tô hữu, mỗi gia đình, mỗi xứ đạo cũng như mỗi giáo phận của Giáo Hội Việt Nam.

Lạy Thánh Thần Thiên Chúa, xin hãy đến, xin hãy đến làm cho ngọn lửa truyền giáo bùng cháy lên trong tâm hồn mỗi chúng con, trong Đại hội và trong cả Giáo hội Việt Nam chúng con.

Giờ đây, với tư cách chủ tịch UBLBTM trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, tôi xin long trọng tuyên bố Đại Hội Loan Báo Tin Mừng Toàn Quốc bắt đầu.


Hà Nội – Hố Nai ngày 30/09/2010

+ Micae Hoàng Đức Oanh

Giám Mục Giáo phận Kontum

Chủ tịch Ủy Ban Loan Báo Tin Mừng

Trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam

gioanha
04-10-2010, 09:54 PM
DẤU CHÂN TRUYỀN GIÁO


http://thanhcavietnam.info/gioanha/PICTURE/daihoitruyengiao/DSC_5555_Small_680.jpg

Trọng kính quí Đức cha, quí cha, quí tu sĩ và quí anh chị em !

Được phép của Ban Tổ Chức Đại hội,chúng con xin trình bày một số công tác tông đồ của nhóm tông đồ giáo dân mà chúng con được gọi là tác viên Ba Lô của Giáo hạt Phương Lâm, giáo phận Xuân Lộc

Nhóm Tác viên Tin Mừng của Giáo hạt Phương Lâm có tới 100 anh chị em nhưng có 7 chị em Tác Viên chuyên biệt gọi là Tác Viên Balô, vì suốt ngày họ lên đường với chiếc Ba Lô trên vai để đem Chúa đến với mọi người, mặc dầu tài hèn sức yếu. Chúng con được đào tạo để lên đường tìm đến đối tượng là những gia đình lương dân trong hạt, các chị em hăng hái thi hành sứ vụ mỗi ngày, lúc âm thầm lúc náo nhiệt, hàng tháng balô sinh hoạt chung với nhóm Tác Viên Tin Mừng của hạt, cuối tháng hẹn nhau mang sổ nhật kí công tác đến trình cha đặc trách để Ngài kiểm nhận và phát tiền xăng. Tâm trạng mỗi người đều thoải mái, tự do, vui vẻ, hăng say … nhưng công việc không đơn giản chút nào vì là con người với nhiều vướng mắc tự nhiên với nhau và với mọi người , nên thường xuyên xảy ra những sự cố. Thật là một thời kì gian nan, khổ sở của balô Phương Lâm . Tuy nhiên chúng con cũng có một cách là chạy đến với Chúa và nhất định không buông tay. Thế rồi Chúa cũng đoái nhìn, hết cơn bĩ cực lại đến thái lai, người ra đi rồi cũng quay trở về, cha đặc trách thứ tư đã nhận trách nhiệm và Ngài quan tâm đặc biệt đến balô, Ngài luôn hiện diện lắng nghe khi balô hội họp rồi Ngài cho ý kiến, balô cũng ổn định lại. Tuy vậy sự ổn định chẳng được bao lâu thì Sóng sau lại cao hơn sóng trước, thử thách này xong kèm thử thách khác. Là chị trưởng dù bị chống đối, dù bị cô lập nhưng nhớ đến lời Chúa Giêsu: “Ai muốn làm môn đệ Ta thì phải vác thập giá mà theo ta”, trung thành với lời giáo huấn của cha giám đốc, người đã sáng lập nhóm balô, con vẫn không bó tay, vừa chạy đến với Chúa vừa chạy đến bám chặt lấy các chủ chăn và các chị em. Balô vẫn thường xuyên họp định kì và thường xuyên cãi nhau nhưng sau đó lại thông cảm, lại cười và lại lên đường theo sự phân công. Đặt bước trên con đường nắng bụi mưa bùn, chị em đến sứ Bàu Chim giáp ranh núi Tượng, nơi đó có hai vợ chồng già là bác Hai Xinh, vì theo vợ bác lìa bỏ Chúa 55 năm trời, cuộc sống thiếu thốn với đàn con 11 đứa, hai vợ chồng lại giận nhau, dù ở chung nhưng ăn riêng 27 năm trời, đến lúc bà ngã bệnh, ông tìm đến nhà thờ tìm cha xin thú tội nhưng bị ngăn trở vì bà còn sống, biết tâm sự của ông, chị em bày ông nên xin lỗi với bà nên bà “ bái phục và tin” theo Chúa, bà xin được rửa tội và chết bằng an, chị em vẫn tiếp tục đến nhà an ủi và thăm viếng ông. Hai năm sau – năm 2010 – 1 người con và 5 cháu của ông cũng theo gương bố mẹ xin theo chân Chúa, hiện đang học giáo lý tại Ngọc Lâm, các bước chân lại dời về xứ Thạch Lâm. Sau buổi công tác, trên đường về ông trùm hướng dẫn các chị em vào thăm một gia đình “toàn tòng”, bà mẹ đang bị bệnh. Sau những lời thăm hỏi, chị em mới khám phá ra gia đình toàn tòng này có 8 người con nhưng có 3 người bị rối và 1 cô út chưa rửa tội. Sau những lời trao đổi chân tình, cô út cũng xin theo đạo và được trao cho ông trùm Thạch Lâm giúp đỡ. Rồi những bước chân đưa anh chị đến xứ Phú Lâm, tìm vào một gia đình rối 18 năm, vì nghèo khổ thiếu ăn, gia đình không ruộng đất, một người làm nuôi 6 miệng ăn còn thời gian nào nghĩ đến đạo, nhà cửa cũng không có nên thay đổi chỗ ở nhiều lần, nhưng dù đi đến đâu balô cũng tìm gặp hỏi thăm giúp đỡ, trước sự đeo đuổi “dai như đỉa” của chị em tháng 6/2010 chị đã hoàn tất việc rửa tội cho các con và ông chồng hiện nay đang học giáo lý chờ ngày rửa tội. Quay về xứ Bình Lâm vào một nhà ván nhỏ thuộc giáo họ Giuse, có một bà cụ sống đơn độc, luôn yếu đau, tiếp xúc với bà, bà vân vê tà áo, cúi đầu bén lẽn như cô gái dậy thì, nói chuyện với bà, bà lí nhí từng tiếng một, khi nghe hỏi “ bà có muốn làm con ông Vua Trời không?” , bà bảo là có mà không biết cách, thế là các anh chị em nhờ một bà cố gần nhà hướng dẫn bà đi lễ và làm đơn nộp ông trùm họ, tháng 6 vừa qua bà cố báo tin vui “Tôi vừa sinh một đứa con cả”. Những bước chân lại dẫn chị em đến cuối con đường đất nhỏ thuộc ấp Bầu Mây, giáo xứ Ngọc Lâm, đến gia đình bác Hai Long, gia đình nầy được bà con trong xứ quan tâm gần 10 năm nay vì thấy ông có cảm tình với đạo, chị em trong nhóm balô đã mời ông bà đi tham dự lễ ngày truyền giáo ở Hà Nội 2 lần và đi Đức Mẹ Tà Pao nhiều lần, ông cứ bảo sẽ thao đạo vì có duyên với Chúa, ngày qua ngày ông cứ nói nhưng không tiến hành, khi chúng con tìm hiểu biết sự ngăn trở của ông từ phía cô con gái gần nhà, chúng con đã tìm cách gỡ nút mắc đó, qua nhiều ngày tháng, cuối cùng tháng 4 năm 2010 cô con gái nhờ chúng con làm đơn xin theo đạo cùng 5 đứa con và 2 tháng sau, chị em lại làm làm đơn cho 2 ông bà, hiện gia đình 3 thế hệ này đang học giáo lý chuẩn bị rửa tội. Đến giáo xứ Đồng Hiệp nơi cha cựu đặc trách Tác Viên Tin Mừng hạt, rẽ vào đường đất nhỏ men theo vào tận cuối con đường, thấy một bãi phân bùn to tướng, khi tiếp xúc với các đối tượng cần tìm, chúng con chỉ thấy những gương mặt đen nhẻm, chỉ còn hai tròng mắt là không bám bụi đen, họ là những người làm công, vì miếng cơm họ bất chấp cả những việc dù biết rằng có hại cho sức khỏe, trong lúc nghỉ tay, họ lắng nghe chúng con chia sẻ, khi nghe đến cuộc sống hạnh phúc mãi mãi đời sau, khi giã từ cuộc sống khốn cực này, hạnh phúc đó chỉ có từ nơi Thiên Chúa, họ đã tin, họ sẵn sàng hi sinh thời gian kiếm tiền để học giáo lý đó là chị Đông Xuân, cháu Xuân Anh, chị Phước ... dâu và cháu bác Chín Cúc người cũng đã bỏ Chúa 25 năm trời và mới trở về với Chúa trong mùa Phục Sinh vừa qua. Di chuyển về thị trấn Tân Phú bước vào nhà anh Kiệt và chị Lệ đó là hai vợ chồng có đạo mà bỏ đạo 37 năm trời, sống như người vô thần. Gặp gỡ các chị em balô và được sự quan tâm ân cần, 15 - 8 vừa qua hai ông bà quyết tâm trở về nhà Cha đem theo một gia tài: 12 người vừa con vừa cháu đang học giáo lý để gia nhập Hội Thánh ...

Còn rất nhiều nơi bước chân truyền giáo cần đến, cả những nơi chưa tiếp nhận đức tin nhưng cần được quan tâm như gia đình bác Sồi bị ung thư vú nằm trên giường bệnh trong nhà còn một cô con gái ngoài 30 tuổi không biết nói, không biết đi đứng hay cầm nắm gì, gia đình bác Lục có anh Lục trên 30 tuổi bị té lúc nhỏ giờ vẫn đang tập đi tập đứng và cần những lời an ủi hỏi thăm ... kể làm sao xiết những hoàn cảnh nhũng con người đang cần niềm tin, hy vọng và tình yêu ...

Ngoài những niềm vui thắng lợi, không thể nào tránh khỏi những nỗi buồn xen kẽ và những khó khăn trở ngại. Trong một lẩn đi thăm một ông cụ bị tai biến ở Bình tâm (đã thăm nhiều lần) bà cụ chủ nhà đã chạy sang hàng xóm bác Bé đến và không nghe lời giải thích bác chỉ tay vào mặt chúng con mắng: “Các bà là kẻ lừa đảo, lường gạt” và đuổi chúng con đi, thấy chúng con vẫn ngồi lại, ông tức tối chạy ra khỏi nhà bảo gọi công an đến bắt, chúng con vẫn bình tĩnh ngồi nói chuyện với ông cụ chủ nhà và chờ, mãi một giờ sau không thấy công an tới, chúng con xin cụ chủ nhà cho ra về, nhưng trước khi từ giã chúng con hỏi ông cụ: ông có tin chúng con là kẻ lừa đảo không? Ông vừa cưới khà khà rồi bảo: “Cỡ như các bà thì lừa được ai?” chúng con thật bất ngờ, không biết nên buồn hay nên vui. Ở ấp 2 Trà Cổ, vừa vào đến xóm nhà, gặp ngay ông công an khu vực, ông nghi hỏi chúng con là ai? Đi đâu có việc gì? Chúng con vui vẻ trả lời chúng con đi thăm người quen và nói địa chỉ nhà chúng con, cho số điện thoại, chỉ cả đường lối đến nhà và mời ông có dịp đến chơi. Xong chúng con tiếp tục đi thăm các gia đình khác, sau nhiều lần theo dõi các gia đình chúng con đi thăm, cuối cùng chính ông đã nhiều lần gọi điện đến bảo chúng con đến thăm các gia đình trong khu vực của ông. Cũng có lần ở khu năm thị trấn Tân Phú, các chị em balô bị mời vào đồn công an hẳn hoi, sau khi gạn hỏi các chị em trả lời đi làm việc từ thiện, họ bắt tay và xin kết bạn ... nhưng buồn nhiều nhất của nhóm chúng con đó là đã tìm được và đem về nhiều mỏ cá lớn và tốt nhưng cuối cùng vuột khỏi tay như gia đình anh Hoàng 6 người đã làm đơn mà không được giải quyết cuối cùng hết thời gian rảnh rỗi anh không đi theo nữa, gia đình chị Cứ 5 mẹ con, gia đình anh Nghĩa 5 người cả vợ chồng con cái, gia đình chị Loan 2 vợ chồng 2 đứa con, họ đã học giáo lý một thời gian nhưng chỉ vì một câu nói vô tình, một sự thiếu xót về trách nhiệm của những người có đạo mà họ nản, lòng tự ái rồi bỏ học ...

Và trong cuộc đời người tông đồ, Chúa cũng dành sẵn những ưu ái ủi an, niềm vui lớn nhất của chúng con đó là qua một thời gian hoạt động, nhóm chúng con đã dần dần đi vào quĩ đạo và theo huấn từ của cha quản hạt, nhóm chúng con thi hành lệnh: đến trình, đi thưa, kết hợp với ban hành giáo xứ ... dần dần quí cha xứ cũng thông cảm và chấp nhận chúng con nên công tác của chúng con có phần thoải mái và dễ dàng hơn.

Mùa hè năm nay bề trên lại cho 2 thầy về với chúng con, các thầy ngoài những lúc đi công tác đồng hành với chúng con để xem xét cách thức tiếp xúc, cách thức ứng xử ... Các thầy còn hướng dẫn cho chúng con cách thức trình bày với quí cha xứ, cách báo cáo cho đồng nhất để nhóm làm việc tốt hơn. Và đã cùng ngồi lại với chúng con bầu chị trưởng mới thay cho chị trưởng cũ đã hết nhiệm kì kể từ 1/9.

Qua một năm đồng hành cùng nhóm: lúc vui lúc buồn qua những thăng trầm, thử thách, thành công và thất bại, chúng con vẫn sát cánh bên nhau và “Vâng lời Thầy chúng con thả lưới” kết quả từ 18/10/2009 đến hôm nay 1/9/2010 nhóm chúng con đã thu hoạch:

-25 người đã chính thức gia nhập Hội Thánh Công Giáo.

-104 học hỏi giáo lý dự tòng.

-04 người đi hoang 37 năm đã trở về nhà Cha.

-01 người con 25 năm cũng đã trở về.

Nhìn theo bước chân đã qua, những dấu chân còn lưu lại đã củng cố trong lòng chúng con một niềm tin vững mạnh: Thiên Chúa luôn yêu thương con cái của Ngài. Có những lúc chúng con tưởng chừng như bị bỏ rơi, có những lúc chúng con tưởng chừng như đang độc hành, có những lúc chúng con tưởng chừng như Thiên Chúa vắng xa, nhưng khi nhìn lại những dấu chân thì ra Ngài vẫn luôn bên cạnh, vẫn luôn đồng hành với chúng con, từng nơi chúng con đi, từng nơi chúng con đến, từng người chúng con tiếp xúc gặp gỡ đều có Chúa ở cùng chúng con, từng giây từng phút trong từng bước chân trên đường truyền giáo luôn có Ngài dẫn lối đưa đường vì chính Ngài đã bảo: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ…. và đây, Thầy sẽ ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận thế” ( Mt 28, 19-20). Xin tạ ơn Chúa muôn đời, chúng con xin tạ ơn Chúa muôn đời.

Xin chân thành cảm tạ quý cha đã lắng nghe chúng con và xin tiếp tục cầu nguyện cho chúng con.

Xin bình an Chúa ở cùng quý cha và quý anh chị em.


Phương Lâm ngày 01/09/2010

Tác Viên Tin Mừng Balô

Anna Phạm Thị Lưu Khánh

Giáo xứ Quang Lâm.

gioanha
04-10-2010, 10:23 PM
http://thanhcavietnam.info/gioanha/PICTURE/daihoitruyengiao/20.jpg
http://thanhcavietnam.info/gioanha/PICTURE/daihoitruyengiao/21.jpg
http://thanhcavietnam.info/gioanha/PICTURE/daihoitruyengiao/22.jpg
http://thanhcavietnam.info/gioanha/PICTURE/daihoitruyengiao/23.jpg
http://thanhcavietnam.info/gioanha/PICTURE/daihoitruyengiao/24.jpg
http://thanhcavietnam.info/gioanha/PICTURE/daihoitruyengiao/25.jpg

gioanha
04-10-2010, 10:27 PM
http://thanhcavietnam.info/gioanha/PICTURE/daihoitruyengiao/26.jpg
http://thanhcavietnam.info/gioanha/PICTURE/daihoitruyengiao/27.jpg
http://thanhcavietnam.info/gioanha/PICTURE/daihoitruyengiao/28.jpg
http://thanhcavietnam.info/gioanha/PICTURE/daihoitruyengiao/29.jpg
http://thanhcavietnam.info/gioanha/PICTURE/daihoitruyengiao/30.jpg
http://thanhcavietnam.info/gioanha/PICTURE/daihoitruyengiao/31.jpg
http://thanhcavietnam.info/gioanha/PICTURE/daihoitruyengiao/32.jpg
http://thanhcavietnam.info/gioanha/PICTURE/daihoitruyengiao/33.jpg
http://thanhcavietnam.info/gioanha/PICTURE/daihoitruyengiao/34.jpg
http://thanhcavietnam.info/gioanha/PICTURE/daihoitruyengiao/35.jpg

gioanha
04-10-2010, 10:32 PM
http://thanhcavietnam.info/gioanha/PICTURE/daihoitruyengiao/11.jpg
http://thanhcavietnam.info/gioanha/PICTURE/daihoitruyengiao/12.jpg
http://thanhcavietnam.info/gioanha/PICTURE/daihoitruyengiao/13.jpg
http://thanhcavietnam.info/gioanha/PICTURE/daihoitruyengiao/14.jpg
http://thanhcavietnam.info/gioanha/PICTURE/daihoitruyengiao/15.jpg
http://thanhcavietnam.info/gioanha/PICTURE/daihoitruyengiao/16.jpg
http://thanhcavietnam.info/gioanha/PICTURE/daihoitruyengiao/17.jpg
http://thanhcavietnam.info/gioanha/PICTURE/daihoitruyengiao/18.jpg
http://thanhcavietnam.info/gioanha/PICTURE/daihoitruyengiao/19.jpg


Bài & hình ảnh
nguồn: Tin vui Xuân Lộc