PDA

View Full Version : Ðức Mẹ Lộ Ðức, Pháp



caoduc
08-08-2008, 09:28 AM
Ðức Mẹ Lộ Ðức, Pháp



I. Diễn Tiến Sự Kiện Ðức Mẹ Hiện Ra tại Lộ Ðức, Pháp
-----------Vào năm 1858, Lộ Ðức, một thị trấn nhỏ ở Pháp có một cô bé tên là Bernadette Soubirous (14 tuổi), cùng với em gái là Toinette Soubirous (11 tuổi), và một người bạn nhỏ khác, Jeanne Abadie (12 tuổi), cùng nhau tới bên sườn núi nhặt củi. Các em đi ngang qua một hang đá gọi là hang Massabielle. Trước hang đá có một giòng suối, Toinette và Jeanne liền vội bước xuống nước lội bộ qua suối, Bernadette theo phía đằng sau. Bất chợt cô nghe thấy tiếng gió mạnh thổi tới, cô ngước mắt lên nhìn thấy các cành lá phía trước đều không có chút lay động nào ảnh hưởng bởi cơn gió cả, chỉ có những cành lá trước cửa hang thì đang lay động. Bernadette không lấy làm điều, vẫn tiếp tục tiến về phía trước, nhưng cô chợt trông thấy ngay trước cửa hang có một làn hào quang, và sau này cô đã kể lại rằng: "Ngay trước cửa hang có một người Phụ Nữ, dáng vóc cao cao giống như tôi đây, người Phụ Nữ ấy gật gật đầu đang làm hiệu với tôi. Người Phụ Nữ này đẹp tuyệt vời, Bà bận một chiếc áo choàng trắng, lưng thắt một dải đai xanh, trên cánh tay quàng một bộ tràng chuổi mân côi". Người Phụ Nữ này ra hiệu muốn Bernadette cùng lần chuỗi mân côi, Bernadette liền quỳ xuống, lấy chuỗi ra và bắt đầu lần chuỗi. Người "Phụ Nữ" này cũng lấy chuỗi ra lần chuỗi. Vì lần hiện ra lần đầu này, Bernadette không biết đây là Ðức Mẹ Maria, nên Bernadette gọi người Phụ Nữ này là "Bà". Ðọc hết 5 chục kinh, người Phụ Nữ mĩm cười với Bernadette, và rồi biến mất.

-----------Trong lúc đó, Toinette và Jeanne đã lượm được nhiều củi và đang quay trở lại, trông thấy Bernadette đang quỳ trên mặt đất, nên trêu chọc cô ta là "chỉ có việc lần chuỗi thôi, ngoài ra chẳng làm được gì hết". Về đến nhà, Toinette thấy sắc mặt của chị có vẻ khác thường, mới tra hỏi sự việc, Bernadette liền kể lại cho em mình đầu đuôi mọi sự, và yêu cầu cô em hãy giữ kín điều này.

-----------Nhưng đêm hôm đó, Toinette liền kể lại hết cho mẹ của mình. Bà Louise Soubirous, mẹ của Bernadette nói với Bernadette: "Con hoa mắt rồi, điều con trông thấy đó chỉ là tảng đá trắng thôi". Bernadette xác quyết trả lời: "Không, con không có nhìn lầm, rõ ràng là một người Phụ Nữ tuyệt
đẹp". Bà Louise liền cấm Bernadette từ nay không được đi tới Hang Ðá nữa.

-----------Hai ngày liên tiếp, Bernadette không đi tới Hang Ðá, nhưng tin đồn này đã truyền đi khắp nơi và đến tai các cô bé gái khác trong xóm, bởi vậy họ rũ nhau đến xin phép ông Francoise Soubirous, bố của Bernadette, và rũ Bernadette cùng đi với họ tới Hang Ðá. Ðược bố cho phép, Bernadette đi cùng bọn họ, họ cầm theo một bình nước thánh. Tới nơi Hang Ðá, mọi người quỳ xuống lần chuỗi mân côi, đọc tới chục thứ 3, ngay tại địa điểm như lần trước, người Phụ Nữ bận đồ trắng lại hiện ra, sau này Bernadette kể lại rằng: "Vào lúc đó, tôi vội vàng la lên: "Bà tới rồi kìa". Nói xong tôi vội lay đầu một cô bé bên cạnh và giơ tay chỉ người phụ nữ, nhưng mọi người chẳng trông thấy gì". Một cô bé khác vội vàng đưa bình nước thánh cho Bernadette, cô vội lấy nước thánh và rảy rảy một lúc. Người Phụ Nữ mĩm cười với Bernadette, và giơ tay làm dấu Thánh Giá. Bernadette bèn nói: "Nếu Bà là người được Thiên Chúa sai phái tới, xin mời Bà hãy bước lại gần đây." Người Phụ Nữ liền bước tới gần, lúc đó, Jeanne và các cô bé khác trèo lên phía trên hang lấy đá ném xuống. Người Phụ Nữ đã biến mất, nhưng Bernadette vẫn cứ quỳ ở đó, hai mắt nhìn lên trời. Các cô bé kia tới kéo Bernadette đứng dậy, nhưng giống như có những giây rễ bám chặt xuống đất vậy, họ kéo mãi kéo vẫn không lay nổi Bernadette. Mọi người dùng hết sức kéo nhưng Bernadette vẫn quỳ vững chắc trên đất. Sau đó mẹ của Bernadette nghe tin vội vàng chạy tới, bà ta khiển trách Bernadette một mách. Những hàng xóm khác vẫn không tin những gì Bernadette kể lại. Họ cho rằng Bernadette đã gặp phải một linh hồn nào đó ở luyện ngục hiện về.

-----------Vì bà Hội Trưởng Hội Con Cái Ðức Mẹ trong vùng vừa mới qua đời, bởi vậy các phụ nữ trong làng và bà Milhet, bà chủ của bà Louis Soubirous, (mẹ của Bernadette) cho rằng đây là linh hồn của bà hội trưởng hiện về thông công. Vào sáng sớm ngày 18 tháng 2 năm 1858, các phụ nữ này cùng đi với Bernadette tới Hang Ðá. Họ cầm theo một cây nến, một cây viết và một tờ giấy. Ngay vào lúc Bernadette nói rằng: "Bà Lạ tới rồi kìa" bà Milhet liền đưa tờ giấy và cây viết cho Bernadette và dặn rằng: "Con hỏi Bà Lạ muốn điều gì? yêu cầu Bà viết lên trên giấy này điều bà ta muốn" Bernadette nói lại với Ðức Mẹ. Và đây là lần đầu tiên Ðức Mẹ cất tiếng trả lời, sau này Bernadette kể lại những lời Ðức Mẹ đã nói: "Ðiều ta muốn nói, không cần phải viết lên giấy. Con có đồng ý 15 ngày liên tiếp đến nơi này không?" Bernadette đáp: "Con sẽ nhất định đến đây". Ðức Mẹ nói tiếp: "Ta sẽ cho con được hạnh phúc, nhưng không phải ở đời này mà là ở đời sau" Nói xong lời này, Ðức Mẹ biến mất.

-----------Hai ngày tiếp theo, Bernadette mỗi ngày đều đến đây, và Ðức Mẹ mỗi ngày đều hiện ra với Bernadette.

-----------Ngày 21 tháng 2 năm 1858 là ngày Chủ Nhật, một đám đông người cùng đi với Bernadette đến Hang Ðá. Có một vị Bác Sĩ cùng đi với họ. Vị Bác sĩ này không tin chút nào về những gì Bernadette đã kể lại là cô ta đã gặp Ðức Mẹ hiện ra. Bởi thế, ngay lúc Ðức Mẹ hiện ra và lúc Benadette đang xuất thần thị kiến với Ðức Mẹ, Bác sĩ liền bắt mạch và nghe nhịp tim của Bernadette, kết quả khám nghiệm của ông cho biết là mọi sự rất bình thường, không thấy có triệu chứng thần kinh hay kích thích gì khác thường cả. Lần này, Ðức Mẹ nói với Bernadette: "Con hãy cầu nguyện cho những người tội lỗi ăn năn trở lại". Cùng ngày hôm đó, sau Thánh Lễ, Cảnh sát điều tra viên đến đưa Bernadette về đồn để hỏi thăm sự việc, sau đó cảnh sát điều tra viên kết luận rằng: "Những lời Bernadette nói rất thành thật, không có một chút gì là đáng nghi ngờ cả". Vào buổi chiều, Cảnh Sát Trưởng nghiêm chỉnh chất vấn Bernadette thêm một lần nữa, nhưng ông cũng không thấy có điều gì đáng nghi ngờ về những sự việc Bernadette đã kể lại cả. Ông ta chỉ ra lệnh cấm Bernadette không được tới Hang Ðá kia nữa, nhưng vì đã hứa mỗi ngày sẽ tới với Ðức Mẹ, nên Bernadette cương quyết từ chối tuân giữ lệnh cấm đó.

-----------Ngày 22 tháng 2 năm 1858, bất chấp lệnh cấm, Bernadette vẫn cứ đi đến Hang Ðá, nhưng ngày hôm nay Ðức Mẹ không hiện ra với cô.

-----------Ngày 23 tháng 2 năm 1858, Từ sáng sớm, khoảng 6 giờ, Bernadette đi tới Hang Ðá, và tại đó, đã có hơn 200 người đang đứng đợi sẵn. Và Ðức Mẹ đã hiện ra với Bernadette. Lần này cô xuất thần thị kiến với Ðức Mẹ hơn 1 tiếng đồng hồ.

-----------Ngày tiếp theo, có khoảng 500 người tập họp tại Hang Ðá. Ðức Mẹ vẫn hiện ra như mọi lần. Bernadette đã xuất thần thị kiến với Ðức Mẹ hơn 1 tiếng đồng hồ, nhưng sau cuộc thị kiến, cô từ chối kể lại những sự việc cô đã thấy trong cuộc thị kiến.

-----------Ngày 25 tháng 2 năm 1858, Bernadette qùy ở cửa Hang Ðá lần chuổi được 1 chục sau đó cô vừa qùy vừa lết tới gần và rồi bò lên phía bên trên Hang Ðá, được một lúc, Bernadette lại trở xuống, rồi lại trở lên phía bên trái Háng Ðá (Hang Ðá này có hai cửa Hang, cửa bên phải nay đặt một tượng Ðức Mẹ). Mọi người chẳng biết Bernadette muốn làm gì, và sau này Bernadette kể lại: "Ðức Mẹ bảo tôi rằng: "con hãy uống nước từ nguồn suối, hãy lấy nước suối mà rửa mặt". Tôi chẳng biết là ở gần Hang Ðá có nguồn nước suối, bởi vậy tôi trèo lên bên cạnh Hang Ðá. Nhưng Ðức Mẹ nói với tôi: Không phải bên đó, Ðức Mẹ giơ tay chỉ hướng phía trái và tôi theo hướng đó tìm nguồn nước thì thấy chỉ có một chút nước bùn. Tôi dùng tay moi đất lần thứ nhất, thấy nước quá ít, không đủ trong lành. Tôi lấy tay moi lần thứ hai, sâu thêm một chút, không ngờ nguồn nước suối từ bên trong phun ra, nhưng vẫn còn là nước bùn. Tôi moi thêm một lần thứ ba nữa và nước phun ra càng lúc càng nhiều và càng lúc càng trong lành hơn. Tôi liền uống nước đó".

-----------Trong lúc đó, những người đứng tại hiện trường chỉ thấy Bernadette cúi xuống, rồi lại ngước lên với khuôn mặt ướt đẩm nước, rồi lại cúi xuống như là lấy một thứ cỏ nào đó và nhai nhai. Sau đó một lúc, Bernadette quay trở lại, và về nhà.

-----------Lúc đầu mọi người chế nhạo Bernadette là có những hành động kỳ quái, nhưng sau nầy khi nhìn thấy nguồn nước, (Vì trước đây chẳng ai thấy có giòng nước này cả), nguồn nước suối phun ra càng lúc càng nhiều. Một tuần lễ sau, lưu lượng nước phun ra khoảng 7,000 gallons. Hơn 100 năm nay, nguồn nước này vẫn tiếp tục phun ra, và nhiều người đã uống nước này, và nhiều người bệnh cũng đã uống và đã được chữa lành. Ðó chính là nguồn nước suối Ðức Mẹ Lộ Ðức.

-----------Ngày thứ Sáu 26 tháng 2 năm 1858, có khoảng 800 người tập họp ở trước Hang Ðá, Bernadette trèo lên Hang Ðá, cúi xuống hôn đất, và dùng tay ra hiệu bảo mọi người hãy cúi xuống hôn đất như vậy để làm việc đền tội. Ngày hôm nay, mọi người mới tin rằng, nguồn nước suối hôm qua Bernadette moi ra quả thật là một nguồn nước suối trong lành. Ngày hôm đó cũng đúng vào một ngày thứ Sáu giữ chay, Phúc Âm được đọc trong ngày lại là đoạn Phúc Âm Thánh Gioan 5,1-15 nói về Phép Lạ những người bệnh tắm ở hồ Bedatha được chữa lành.

-----------Ngày 27 và 28 tháng 2 năm 1858, Ðức Mẹ cũng hiện ra với Bernadette. Những người tập họp ở trước Hang Ðá càng ngày càng đông hơn, Bernadette cũng cúi xuống hôn đất, và mọi người cũng làm theo như Bernadette. Vào chiều ngày 28 tháng 2 năm 1858. Chính quyền ra lệnh cấm Bernadette không được tới Hang Ðá nữa.

-----------Ngày 1 tháng 3 năm 1858, có khoảng 1,000 người tập họp trước Hang Ðá, Ðức Mẹ lại hiện ra với Bernadette.

-----------Ngày 2 tháng 3 năm 1858, Ðức Mẹ hiện ra với Bernadette lần thứ 13. Ðức Mẹ bảo Bernadette hãy nói lại với Cha Xứ rằng Ðức Mẹ muốn xây tại Hang Ðá này một ngôi Thánh Ðường và muốn có những cuộc rước kiệu Thánh Thể chung quanh Hang Ðá này. Bernadette đã kể lại những sự việc này cho Cha Xứ, nhưng Cha Xứ không muốn thực hiện những điều này.

-----------Sáng ngày 3 tháng 3 năm 1858, Ðức Mẹ không hiện ra. Nhưng vào chiều hôm đó Bernadette có nhìn thấy Ðức Mẹ lại hiện ra.

-----------Ngày 4 tháng 3 năm 1858, là lần cuối trong vòng 14 ngày liên tục Ðức Mẹ hiện ra. Số người hiện diện ở trước Hang Ðá càng ngày càng đông hơn, mọi người quay quần chung quanh nguồn suối nước để lấy nước, và hôm đó, Ðức Mẹ lại hiện ra với Bernadette.

-----------Ngày 25 tháng 3 năm 1858, từ sáng sớm, Bernadette đã chỗi dậy đi đến Hang Ðá. Ðức Mẹ hiện ra và bảo cô hãy đến gần với Ðức Mẹ. Bernadette hỏi Ðức Mẹ: "Thưa Bà, xin Bà cho con biết tên Bà là gì". Ðức Mẹ chỉ mĩm cười và không đáp. Bernadette lại hỏi lại một lần thứ hai, và rồi Ðức Mẹ chắp hai tay lại, mặt ngước lên trời, và đáp: "Ta Là Ðấng Vô Nhiễm Nguyên Tội". Sau đó, Ðức Mẹ nói tiếp: "Ta muốn một Ngôi Thánh Ðường được xây cất tại ngay chính nơi này". Bernadette trả lời: "Con đã trình bày sự việc này với cha xứ rồi".

-----------Lần hiện ra thứ 17 là ngày 7 tháng 4 năm 1858, Bernadette đã xuất thần thị kiến với Ðức Mẹ tại Hang Ðá gần một tiếng đồng hồ. Vị bác sĩ cạnh Bernadette nhìn thấy ngọn lửa của cây nến trên tay Bernadette đang đốt một ngón tay của Bernadette, nhưng cô không cảm thấy nóng hay đau đớn gì cả. Về sau, vị bác sĩ này lấy một cây nến khác muốn đốt thử ngón tay của Bernadette để xem cô có phản ứng gì không, nhưng khi vừa mới đốt thì Bernadette đã vội vàng la lên: "Ông đốt tay tôi đau quá vậy".

-----------Lần hiện ra thứ 18, cũng là lần hiện ra cuối cùng, vào ngày 16 tháng 7 năm 1858, ngày lễ Ðức Mẹ Núi Carmelô, lúc đó, Hang Ðá đã bị chính quyền vây rào chận lại rồi, cấm không cho dân chúng tới Hang Ðá nữa. Bernadette phải đứng ở phía đằng trước đối diện với Hang Ðá, cô từ đằng xa tỏ vẻ cung kính cúi đầu chào Hang Ðá, và chính lúc đó, Ðức Mẹ lại hiện ra với cô, và Ðức Mẹ đã tỏ hiện dung mạo rõ ràng và đẹp tuyệt vời để cho cô nhìn thấy giống hệt như đang ở gần bên Ðức Mẹ vậy.

-----------Từ ngày hôm đó, Bernadette đã sống ở trần thế thêm 21 năm nữa, cô không còn gặp thấy Ðức Mẹ hiện ra, và ngày 16 tháng 4 năm 1879 cô đã được Chúa gọi về (hưởng thọ 35 tuổi). Nhưng đã hơn 100 năm nay, Lộ Ðức đã trở thành nơi hành hương Ðức Mẹ cho cả thế giới, và nhiều phép lạ được chữa lành bệnh đã xảy ra cho những người thành tâm đến cầu nguyện.

II. Tóm lược 18 lần hiện ra của Ðức Mẹ ở Lộ Ðức từ ngày 11/2/1858 tới ngày 16/7/1858
-----------1. Lần hiện ra thứ 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7: Vui vẻ (Bắt đầu mùa chay)
-----------Lần hiện ra thứ 1, ngày 11 tháng 2 năm 1858: Bernadette nhìn thấy ở Hang Ðá Massabielle một Phụ Nữ tuyệt đẹp, mặc một áo màu trắng và thắt một đai màu xanh. Người Phụ Nữ mĩm cười với cô nhưng vẫn giữ im lặng, không lên tiếng.

-----------"Tôi muốn làm dấu Thánh Giá. Nhưng tôi không làm nổi, tay tôi như bị xụng xuống. Và khi người Phụ Nữ giơ tay làm dấu Thánh Giá thì lúc đó tôi mới làm được dấu Thánh Giá". Bernadette kể lại lần hiện ra thứ nhất.

-----------Lần hiện ra thứ 2, ngày Chủ Nhật 14 tháng 2 năm 1858: Ðược sự cho phép của bố, Bernadette đi tới Hang Ðá với các người bạn. Cô cảm thấy chút hồi hộp khi nhìn thấy Ðức Mẹ, và cô đã lấy nước Thánh rảy rảy về hướng Ðức Mẹ.

-----------Lần hiện ra thứ 3, ngày 18 tháng 2 năm 1858: Từ sáng sớm, Bernadette đi tới Hang Ðá cùng với bà Milhet, bà chủ của bà Louise Soubirous (mẹ của Bernadette), đây là lần đầu tiên Bernadette nghe thấy Ðức Mẹ lên tiếng nói với cô: "Ðiều mà ta muốn nói thì không cần phải viết ra giấy..." "Con có muốn liên tục 15 ngày đến đây với Ta không?" "Ta không hứa sẽ cho con hạnh phúc ở đời này, nhưng sẽ cho con hạnh phúc ở đời sau". Những ngày tiếp theo với những lần hiện ra thứ 4, 5, 6, 7. Bernadette lần chuỗi Mân Côi với Ðức Mẹ, và đôi lúc vui vẻ đối thoại với Ðức Mẹ. Ðám đông dân chúng đến càng ngày càng đông.

-----------2. Lần hiện ra thứ 8, 9, 10, 11, 12, 13: Làm việc đền tội (Mùa chay)
-----------Từ thứ Tư 24 tháng 2 năm 1858, lần hiện ra thứ 8, cho đến lần hiện ra thứ 13, Ðức Mẹ có vẻ buồn bả, nói và lập lại nhiều lần: "Hãy làm việc đền tội, hãy làm việc đền tội"... "Hãy cầu nguyện cho những kẻ có tội"... "Con có muốn hôn đất để làm việc đền tội thay cho những kẻ có tội không?"... "Con có muốn nhai cỏ để làm việc đền tội cho những kẻ có tội không?"...

-----------Và cuối cùng, vào lần hiện ra thứ 9, Ðức Mẹ bảo: "Hãy đi uống nước từ nguồn suối trong, và hãy dùng nước suối đó để rửa mặt". Bernadette đã làm những việc này. Và sau khi cô uống nguồn nước suối này, tinh thần cô cảm thấy thoải mái hơn.

-----------3. Lần hiện ra thứ 13, 14, 15, 16, 17, 18: Mừng vui (Mùa Phục Sinh)
-----------Suốt lần hiện ra thứ 13, Ðức Mẹ bảo Bernadette "hãy đi và nói với cha xứ hãy xây một ngôi Thánh Ðường tại nơi này và hãy tổ chức đi kiệu Thánh Thể chung quanh đây". Lời yêu cầu này đã được Ðức Mẹ nhắc lại vào lần hiện ra thứ 14, ngày 3 tháng 3 năm 1858. Cho đến ngày 4 tháng 3 năm 1858 (lần hiện ra cuối cùng trong vòng 15 ngày). Cha Peyramale, lúc đầu không đồng ý nhưng sau đó bảo Bernadette rằng: "Con hãy yêu cầu Bà nói cho con biết tên của Bà là gì, rồi sau đó ta mới xây ngôi Thánh Ðường".

-----------Lần hiện ra thứ 16, ngày 25 tháng 3 năm 1858, ngày lễ Truyền Tin. Ðức Mẹ nói với Bernadette tên của Bà: "Ta là Ðấng Vô Nhiễm Nguyên Tội".

-----------Lần hiện ra thứ 17, ngày 7 tháng 4 năm 1858, ngày lễ Phục Sinh, Bernadette không cảm thấy đau đớn gì khi ngon lửa của cây nến đốt ngón tay của cô. Ðây là phép lạ cây nến.

-----------Lần hiện ra cuối cùng (lần thứ 18), ngày 16 tháng 7 năm 1858, vào ngày lễ Ðức Mẹ Núi Carmelô. Bernadette từ đằng xa, đối diện phía trước Hang Ðá, thấy Ðức Mẹ hiện ra rõ ràng với dung mạo tuyệt đẹp và làm cho cô cảm thấy giống như đứng rất gần với Ðức Mẹ vậy.

-----------Trong lần hiện ra thứ 18 này, vì Hang Ðá đã được bao vây bởi một hàng rào do chính quyền ngăn lại để cấm mọi người tới. Nên Bernadette phải đứng từ đằng xa, ở phía đối diện với Hang Ðá, và trông thấy Ðức Mẹ rất rõ ràng, rất gần.

caoduc
09-08-2008, 12:11 PM
Những Phép Lạ tại Lộ Ðức được Giáo Hội thừa nhận


6,000 bệnh nhân đã được Ðức Mẹ chữa lành

-----------Từ năm 1858, nghĩa là từ ngày Ðức Mẹ hiện ra với Bernadette cho đến nay, suốt thời gian trên một thế kỷ, có khoảng 6,000 người tự cho mình được ơn lành bệnh và 3,500 vụ được coi là đặc biệt do Ủy Ban Y Khoa Lộ Ðức gồm tất cả các bác sĩ hiện diện kiểm chứng và nhìn nhận. Trong số này, tính đến ngày 9 tháng 2 năm 1999, chỉ có 66 trường hợp lành bệnh đã được Giáo Hội chính thức thừa nhận.

-----------Chúng ta biết có một nghiêm luật được triệt để thi hành xung quanh vấn đề là những cơn bệnh cơ năng đều bị loại bỏ, nghĩa là những chứng bệnh phát xuất do sự xáo trộn các cơ năng, hôm nay thế này ngày mai có thể thế khác, không được xét đến, như các bệnh thần kinh, ung thư, dị ứng v.v... Chỉ có các cơn bệnh hoàn toàn về cơ thể rõ rệt mới được nhìn nhận và thẩm xét. Vì thế, một số lớn các hồ sơ bị loại. Trong thời gian 3 năm (từ 1990 đến 1993) chỉ có 5 hồ sơ được chấp nhận và thẩm xét. Các nhà chuyên viên để ra nhiều năm để khám nghiệm, để tái khám, để giám định lại theo những phương thức tối tân của khoa học, hầu đi đến các câu trả lời sau đây: Chứng bệnh có thật sự nan y không? Bệnh nhân được lành hẳn và vĩnh viễn không? Hay chỉ là một cơn đột biến tình cảm.

-----------Sau khi những vấn nạn trên được trả lời thỏa đáng thì bác sĩ Pilon, giám đốc Ủy Ban Y Khoa Lộ Ðức từ mấy năm nay, làm bản phúc trình cho Ủy Ban Y Khoa Quốc Tế gồm 40 vị cự phách trong y giới thuộc nhiều quốc gia, mỗi năm họp một lần ở Paris dưới quyền đồng chủ tọa của Giám Mục Lộ Ðức và vị Chủ Tịch Ủy Ban Y Khoa Quốc Tế. Ở đây, hồ sơ lại được mở ra, các vấn nạn lại được thẩm xét, các cuộc khám nghiệm mới bị đòi hỏi.

-----------Cuối cùng, có rất ít hồ sơ lọt qua được cửa ải này. Và chỉ khi nào, khoa học nhận thức rằng không thể giải thích được theo y khoa thì giáo quyền mới chấp nhận hồ sơ. Trong thực tế, Giáo Luật dành cho vị Giám Mục nơi cư ngụ của người thụ hưởng quyền khai mở cuộc thẩm xét theo Giáo Luật. Lại phải chờ đợi nhiều năm trước khi cuộc lành bệnh được công nhận là phép lạ.

-----------Ðành rằng các "Phép Lạ" không phải là những tín điều phải tin, nhưng các dữ kiện xảy ra được giáo quyền cứu xét một cách nghiêm chỉnh và hết mức theo những tiêu chuẩn Giáo Luật do Ðức Giáo Hoàng Benêdictô XIV ban hành năm 1734. Những tiêu chuẩn gắt gao này ngày nay một số thần học gia lại muốn duyệt xét lại. Vì thế, hội các bác sĩ Pháp tổ chức tại Lộ Ðức vào những ngày 21 đến 25 tháng 10 năm 1993 một Ðại Hội với chủ đề: "Lành Bệnh và Phép Lạ". Chắc chắn từ nay các tiêu chuẩn sẽ muôn vàn khó khăn hơn.

caoduc
11-08-2008, 10:12 AM
68 phép lạ được giáo hội chính thức thừa nhận



-----------(1) Bà Catherine Latapie, sinh năm 1820, sống ở Loubajac, gần Lộ Ðức. Ðược chữa lành vào ngày 1 tháng 3 năm 1858. Ngày 18 tháng Giêng năm 1862 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Laurence, Giám Mục Tarbes.

-----------(2) Ông Louis Bouriette, sinh năm 1804, sống ở Lộ Ðức. Ðược chữa lành vào tháng 3 năm 1858. Ngày 18 tháng Giêng năm 1862 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Laurence, Giám Mục Tarbes.

-----------(3) Bà Blaisette Cazenave (Soupene), sinh năm 1808, sống ở Lô Ðức. Ðược chữa lành vào tháng 3 năm 1858. Ngày 18 tháng Giêng năm 1862 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Laurence, Giám Mục Tarbes.

-----------(4) Ông Henri Busquet, sinh năm 1842, sống ở Nay, Atlantic Pyrenees. Ðược chữa lành vào cuối tháng 4 năm 1854. Ngày 18 tháng Giêng năm 1862 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Laurence, Giám Mục Tarbes.

-----------(5) Cậu bé Justin Bouhort, sinh tại Lộ Ðức ngày 28 tháng 7 năm 1856, và sống ở Lộ Ðức. Ðược chữa lành vào đầu tháng 7 năm 1858. Ngày 18 tháng Giêng năm 1862 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Laurence, Giám Mục Tarbes.

-----------(6) Bà Madeleine Rizan, sinh năm 1800, sống ở Nay, Atlantic Pyrenees. Ðược chữa lành ngày 17 tháng 10 năm 1858. Ngày 18 tháng Giêng năm 1862 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Laurence, Giám Mục Tarbes.

-----------(7) Cô Marie Moreau, sinh năm 1841, sống ở Tartas, Landes. Ðược chữa lành ngày 9 tháng 11 năm 1858. Ngày 18 tháng Giêng năm 1862 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Laurence, Giám Mục Tarbes.

-----------(8) Ông Pierre de Rudder, sinh tại Jabbeker, Bỉ. Ðược chữa lành ngày 7 tháng 4 năm 1875. Ngày 25 tháng 7 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Gustave Waffelaert, Giám Mục Bruges.

-----------(9) Cô Joachime Dehant, sinh tại Velaines, Sambre, năm 1849, sống ở Gesves, Bỉ. Ðược chữa lành ngày 13 tháng 9 năm 1878. Ngày 25 tháng 4 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Thomas Louis Heylen, Giám Mục Namur.

-----------(10) Cô Elisa Seisson, sinh năm 1855. Ðược chữa lành ngày 29 tháng 8 năm 1882. Ngày 12 tháng 7 năm 1912 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Francois Bonnefoy, Giám Mục Aix, Arles và Embrun.

-----------(11) Nữ Tu Eugenia (Marie Mabille), sinh năm 1855. Ðược chữa lành ngày 21 tháng 8 năm 1883. Ngày 30 tháng 8 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Philippe Meunier, Giám Mục Evreux.

-----------(12) Nữ Tu Julienne (Aline Bruyere), sinh năm 1864, sống ở làng La Roque, gần Sarlat. Ðược chữa lành ngày 1 tháng 9 năm 1889. Ngày 7 tháng 3 năm 1912 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Albert Negre, Giám Mục Tulle.

-----------(13) Nữ Tu Josephine Marie (Anne Jourdain), sinh ngày 5 tháng 8 năm 1854 tại Le Havre. Ðược chữa lành ngày 21 tháng 8 năm 1890. Ngày 10 tháng 10 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Marie Jean Douais, Giám Mục Beauvais.

-----------(14) Cô Amélie Chagnon, sinh ngày 17 tháng 9 năm 1874, sống ở Ðịa Phận Tournai, Bỉ. Ðược chữa lành ngày 21 tháng 8 năm 1891. Ngày 8 tháng 9 năm 1910 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Charles G. Walravens, Giám Mục Tournai.

-----------(15) Cô Clémentine Trouvé, sinh tại Azay le Boulé, năm 1878. Ðược chữa lành ngày 21 tháng 8 năm 1891. Ngày 6 tháng 6 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Amette, Tổng Giám Mục Paris.

-----------(16 và 17) Cô Marie Lebranchu, sinh năm 1857, và cô Marie Lemarchand, sinh năm 1874. Ðược chữa lành ngày 20 và 21 tháng 8 năm 1892. Ngày 6 tháng 6 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Amette, Tổng Giám Mục Paris.

-----------(18) Cô Elisa Lesage, sinh tại Bucquoy (Pas de Calais), năm 1874. Ðược chữa lành ngày 21 tháng 8 năm 1892. Ngày 4 tháng 2 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Alfred Williez, Giám Mục Arras.

-----------(19) Nữ Tu Marie of the Presentation (Sylvanie Delporte), sinh ngày 8 tháng 2 năm 1848. Ðược chữa lành ngày 29 tháng 8 năm 1892. Ngày 15 tháng 8 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Francois Delamaire, Giám Mục phó Cambrai.

-----------(20) Linh Mục Cirette, sinh tại Poses (Eure), ngày 15 tháng 3 năm 1847. Ðược chữa lành ngày 31 tháng 8 năm 1893. Ngày11 tháng 2 năm 1907 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Meunier, Giám Mục Evreux.

-----------(21) Cô Aurélie Huprelle, sinh năm 1869. Ðược chữa lành ngày 21 tháng 8 năm 1895. Ngày 1 tháng 5 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Jean Douais, Giám Mục Beauvais.

-----------(22) Cô Esther Brachmann, sinh tại Paris, năm 1881. Ðược chữa lành ngày 21 tháng 8 năm 1896. Ngày 6 tháng 6 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Léon Amette, Tổng Giám Mục Paris.

-----------(23) Cô Jeane Tulasne, sinh tại Indre et Loire, ngày 8 tháng 9 năm 1877. Ðựợc chữa lành ngày 8 tháng 9 năm 1907. Ngày 27 tháng 10 năm 1907 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Réné Francois Renou, Tổng Giám Mục Tours.

-----------(24) Cô Clémentine Malot, sinh tại Granvilliers, ngày 22 tháng 11 năm 1872. Ðược chữa lành ngày 21 tháng 8 năm 1898. Ngày 1 tháng 11 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Jean Douais, Giám Mục Beauvais.

-----------(25) Bà Rose Francois (Labreuvois), sinh năm 1863. Ðược chữa lành ngày 20 tháng 8 năm 1899. Ngày 6 tháng 6 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Jean Amette, Tổng Giám Mục Paris.

-----------(26) Linh Mục Salvator Capuchin, sinh năm 1862, sống ở Dinard. Ðược chữa lành ngày 25 tháng 6 năm 1900. Ngày 1 tháng 7 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha A. Dubourg, Tổng Giám Mục Rennes.

-----------(27) Nữ Tu Maximilien, sinh năm 1858, sống ở Marseilles (Tu Viện Nữ Tu Hy Vọng). Ðược chữa lành ngày 20 tháng 5 năm 1901. Ngày 5 tháng 2 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Paulin Andrieu, Giám Mục Marseilles.

-----------(28) Cô Marie Savoye, sinh năm 1877, sống ở Cateau-Cambresis (Bắc). Ðược chữa lành ngày 20 tháng 9 năm 1901. Ngày 15 tháng 8 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Francois Delamaire, Giám Mục phó Cambrai.

-----------(29) Bà Johanna Bezenac (Dubos), sinh năm 1876. Ðược chữa lành ngày 8 tháng 8 năm 1904. Ngày 2 tháng 7 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Henri J. Bougoin, Giám Mục Périgueux.

-----------(30) Nữ Tu Saint Hilaire, sinh năm 1865, Bề Trên Tu Viện Peyreleau (Dòng Thánh Giuse Clairvaux). Ðược chữa lành ngày 20 tháng 8 năm 1904. Ngày 10 tháng 5 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Charles de Ligonnes, Giám Mục Rodez.

-----------(31) Nữ Tu Saint Béatrix (Rosalie Vildier), sinh năm 1862, sống ở Evreux. Ðược chữa lành ngày 31 tháng 8 năm 1904. Ngày 25 tháng 3 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Philippe Meunier, Giám Mục Evreux.

-----------(32) Cô Marie Thérèse Noblet, sinh năm 1889, sống ở Rheims. Ðược chữa lành ngày 31 tháng 8 năm 1905. Ngày 11 tháng 2 năm 1908 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Hồng Y Lucon, Tổng Giám Mục Rheims.

-----------(33) Cô Cécile Douville de Franssu, sinh tại Tournai, Bỉ, ngày 26 tháng 12 năm 1885. Ðược chữa lành ngày 21 tháng 9 năm 1905. Ngày 8 tháng 12 năm 1909 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Charles Gibier, Giám Mục Versailles.

-----------34) Cô Antoina Moulin, sinh tại Vinne (Isere), ngày 13 tháng 4 năm 1877. Ðược chữa lành ngày 10 tháng 8 năm 1907. Ngày 6 tháng 11 năm 1911 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Paul E. henry, Giám Mục Grenoble.

caoduc
11-08-2008, 10:12 AM
-----------(35) Cô Marie Borel, sinh tại Lozere, ngày 14 tháng 11 năm 1879. Ðược chữa lành ngày 21 và 22 tháng 8 năm 1907. Ngày 4 tháng 6 năm 1911 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Jacques Gely, Giám Mục Mende.

-----------(36) Cô Virginie Haudebourg, sinh tại Lons le Saulnier, Pháp, năm 1886. Ðược chữa lành ngày 17 tháng 5 năm 1908. Ngày 25 tháng 11 năm 1912 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Francois A. Mallet, Giám Mục Saint Claude.

-----------(37) Bà Marie Biré (Lucas), sinh tại Vendée (Pháp), ngày 8 tháng 10 năm 1866. Ðược chữa lành ngày 5 tháng 8 năm 1908. Ngày 30 tháng 7 năm 1910 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Clovis Joseph Catteau, Giám Mục Lucon.

-----------(38) Cô Aimée, sinh năm 1872, sống ở Vern, gần Angers. Ðược chữa lành ngày 28 tháng 5 năm 1810. Ngày 5 tháng 8 năm 1910 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Joseph Rumeau, Giám Mục Angers.

-----------(39) Cô Juliette Orion, sinh năm 1886, sống ở St. Hilaire de Voust, Véndée. Ðược chữa lành ngày 22 tháng 7 năm 1910. Ngày 18 tháng 10 năm 1913 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Clovis Joseph Catteau, Giám Mục Lucon.

-----------(40) Bà Marie Fabre, sinh năm 1879. Ðược chữa lành ngày 26 tháng 11 năm 1911. Ngày 8 tháng 9 năm 1912 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Pierre Cezerac, Giám Mục Cahors.

-----------(41) Cô Henriette Bressolles, sinh năm 1896. Ðược chữa lành ngày 3 tháng 7 năm 1924. Ngày 4 tháng 6 năm 1957 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Paul Remond, Giám Mục Nice.

-----------(42) Cô Lydia Brosse, sinh ngày 14 tháng 10 năm 1889. Ðược chữa lành ngày 11 tháng 10 năm 1930. Ngày 5 tháng 8 năm 1958 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Jean Guyot, Giám Mục Contances.

-----------(43) Nữ Tu Marie Marguerite (Francois Captitaine), sinh ngày 13 tháng 4 năm 1872, sống ở Ðan Viện Rennes từ năm 1896. Ðược chữa lành ngày 22 tháng Giêng năm 1937. Ngày 20 tháng 5 năm 1946 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Hồng Y Clément Roques, Tổng Giám Mục Rennes.

-----------(44) Cô Louise Jamain, sinh tại Paris, ngày 5 tháng 11 năm 1914. Ðược chữa lành ngày 1 tháng 4 năm 1937. Ngày 14 tháng 12 năm 1951 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Maurice Feltin, Tổng Giám Mục Paris.

-----------(45) Cậu bé Francis Pascal, sinh ngày 2 tháng 10 năm 1934, sống ở Beaucaire, Gard. Ðược chữa lành ngày 31 tháng 8 năm 1938. Ngày 31 tháng 5 năm 1949 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Ch. de Provenchères, Tổng Giám Mục Aix en Provence.

-----------(46) Cô Gabrielle Clauzel, sinh ngày 15 tháng 8 năm 1894, sống ở Oran. Ðược chữa lành ngày 15 tháng 8 năm 1943. Ngày 18 tháng 3 năm 1948 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Bertrand Lacaste, Giám Mục Oran.

-----------(47) Cô Yvonne Fournier, sinh tháng Giêng năm 1923. Ðược chữa lành ngày 19 tháng 8 năm 1945. Ngày 14 tháng 11 năm 1959 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Hồng Y Maurice Feltin, Tổng Giám Mục Paris.

-----------(48) Bà Rose Martin (Pérona), sinh ngày 28 tháng 3 năm 1901. Ðược chữa lành ngày 3 tháng 7 năm 1947. Ngày 5 tháng 5 năm 1949 được chính thức công bố là Phép Lạ, và ngày 17 tháng 3 năm 1958 được tái xác nhận là Phép Lạ bởi Ðức Cha Rémond, Giám Mục Nice.

-----------(49) Bà Jeanne Gestas, sinh ngày 8 tháng 1 năm 1897, sống ở Bègles, Gironde. Ðược chữa lành ngày 22 tháng 8 năm 1947. Ngày13 tháng 7 năm 1952 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Paul Richaud, Tổng Giám Mục Bordeaux.

-----------(50) Cô Marie Therese Canin, sinh năm 1910. Ðược chữa lành ngày 9 tháng 10 năm 1947. Ngày 6 tháng 6 năm 1952 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Jean Delay, Giám Mục Marseilles.

-----------(51) Cô Mađalena Carini, sinh tại Pavia, ngày 11 tháng 3 năm 1917. Ðược chữa lành ngày 15 tháng 8 năm 1948. Ngày 2 tháng 6 năm 1960 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Hồng Y G. B. Montini, Tổng Giám Mục Milan.

-----------(52) Cô Jeanne Frétel, sinh ngày 25 tháng 5 năm 1914. Ðược chữa lành ngày 8 tháng 10 năm 1948. Ngày 20 tháng 10 năm 1950 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Hồng Y Clément Roques, Tổng Giám Mục Rennes.

-----------(53) Nữ Tu Marie Mercédès (Théa Angele), sinh tại Ðức, ngày 24 tháng 9 năm 1921. Ðược chữa lành ngày 20 tháng 5 năm 1950. Ngày 28 tháng 6 năm 1961 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha P.M. Théas, Giám Mục Tarbes và Lô Ðức.

-----------(54) Ông Evasio Ganora, sinh ngày 2 tháng 3 năm 1913, sống ở Casale Monferrato. Ðược chữa lành ngày 2 tháng 6 năm 1955. Ngày 31 tháng 5 năm 1955 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha G. Angrisani, Giám Mục Casale Monferrato.

-----------(55) Cô Edeltraud Fulda, sinh ngày 20 tháng 7 năm 1916. Ðược chữa lành ngày 12 tháng 8 năm 1950. Ngày 18 tháng 5 năm 1955 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Hồng Y Théodor Innitzer, Tổng Giám Mục Vienna.

-----------(56) Ông Paul Pellegrin, sinh ngày 12 tháng 4 năm 1898. Ðược chữa lành ngày 3 tháng 10 năm 1950. Ngày 8 tháng 12 năm 1953 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Auguste Gaudel, Giám Mục Fréjus.

-----------(57) Tu Sĩ Léo Schwager, sinh tại Thụy Sĩ, ngày 30 tháng 4 năm 1924. Ðược chữa lành ngày 30 tháng 4 năm 1952. Ngày 8 tháng 12 năm 1960 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Francois Charriere, Giám Mục Lausanne, Geneva và Fribourg.

-----------(58) Bà Alice Couteault Gourdon), sinh ngày 1 tháng 12 năm 1917, sống ở Bouillé Loretz, Deux Sevres. Ðược chữa lành ngày 15 tháng 5 năm 1952. Ngày 16 tháng 7 năm 1956 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Henri Vion, Giám Mục phó Poitiers.

-----------(59) Cô Marie Bigot, sinh ngày 7 tháng 12 năm 1922. Ðược chữa lành ngày 8 tháng 10 năm 1953 và ngày 8-10 tháng 10 năm 1954. Ngày 15 tháng 8 năm 1956 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Hồng Y Clément Roques, Tổng Giám Mục Rennes.

-----------(60) Bà Ginette Nouvel (Fabre), sinh ngày 18 tháng 1 năm 1928, sống ở Carmaux, Tarn. Ðược chữa lành ngày 21 tháng 9 năm 1954. Ngày 31 tháng 5 năm 1963 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Claude Dupuy, Tổng Giám Mục Albi.

-----------(61) Cô Elisa Aloi, sinh tại Patti, Sicily, ngày 26 tháng 11 năm 1931. Ðược chữa lành ngày 5 tháng 6 năm 1958. Ngày 26 tháng 5 năm 1965 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Francesco Fasola, Tổng Giám Mục Messine.

-----------(62) Cô Juliette Tamburini, sinh tại Marseilles, ngày 4 tháng 12 năm 1936. Ðược chữa lành ngày 17 tháng 7 năm 1959. Ngày 11 tháng 5 năm 1965 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Marc Lallier, Giám Mục Marseilles.

-----------(63) Anh Vittorio Micheli, sinh tại tỉnh Trento, Ý, ngày 6 tháng 2 năm 1940. Ðược chữa lành ngày 1 tháng 6 năm 1963. Ngày 26 tháng 5 năm 1976 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Alessandro Gottardi, Tổng Giám Mục Trento.

-----------(64) Ông Serge Perrin, sinh ngày 13 tháng 2 năm 1929. Ðược chữa lành ngày 1 tháng 5 năm 1970. Ngày 17 tháng 6 năm 1978 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Jean Orchampt, Giám Mục Angers.

(65) Cô Delizia Cirolli, sinh ngày 17 tháng 11 năm 1964. Ðược chữa lành vào dịp gần Lễ Giáng Sinh năm 1976. Ngày 28 tháng 6 năm 1989 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Luigi Bonmarito, Tổng Giám Mục Catania.

-----------(66) Ông Jean Pierre Bély, sinh ngày 24 tháng 8 năm 1936. Ðược chữa lành ngày 9 tháng 10 năm 1987. Ngày 9 tháng 2 năm 1999 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Claude Dagens, Giám Mục Angoulême.

-----------(67) Bà Anna Santaniello, sinh năm 1912, bị chứng bệnh tim khó thở từ nhỏ, đã được chữa lành bệnh trong một chuyến hành hương cầu nguyện ở Lộ Ðức vào ngày 19 tháng 8 năm 1952. Ðức Tổng Giám Mục Salerno Gerardo Pierro đã công bố phán quyết của Giáo Hội về việc chính thức thừa nhận phép lạ này trước sự hiện diện của bà Santaniello trong thánh lễ Chúa Nhật ngày 13/11/2005.

-----------(68) Ông Jacquew Salaun, sinh năm 1935, sống ở La Loupe, Chartres, Pháp. Ðược chữa lành ngày 1 tháng 9 năm 1993. Sự kiện được chữa lành này đang chờ sự phán quyết tối hậu của Giáo Hội.

xoicucnong
11-08-2008, 05:53 PM
http://thanhcavietnam.us/file/storage/945loure.jpg

http://thanhcavietnam.us/file/storage/249me%20lo%20duc.jpg

http://thanhcavietnam.us/file/storage/697thanh%20le%20cau%20nguyen%20tai%20hang%20da%20massabielle%20lo%20duc.jpg
Đây là 1 vài hình ảnh về Thánh Địa Lộ Đức, nhìn mà thèm...BQT tổ chức đi Lộ Đức đeeeeeeeeeee...!!!:nhay:

caoduc
12-08-2008, 10:35 AM
Chi Tiết Một Số Phép Lạ


Bà Catherine Latapie bị bại tay vì bị ngã từ trên cây cao đã được chữa lành ngày 1/3/1858
-----------Bà Catherine Latapie, sinh năm 1820, sống ở Loubajac, gần Lộ Ðức. Ðược chữa lành vào ngày 1 tháng 3 năm 1858. Ngày 18 tháng Giêng năm 1862 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Laurence, Giám Mục Tarbes.

-----------Chúng ta biết rằng đây là Phép Lạ đầu tiên xảy ra năm 1858, chính vào năm Ðức Mẹ hiện ra. Bà Catherine Latapie Chonat bị bại tay sau khi ngã từ trên cây xuống vào tháng 10 năm 1856; trên bàn tay của bà có hai ngón tay không cử động được.

-----------Vào tối ngày 28 tháng 2 năm 1858, và tối ngày 1 tháng 3 năm 1858, bà chợt thức giấc đột ngột vào khoảng 3 giờ sáng, và bà vội vàng thúc giục hai đứa con nhỏ của bà cùng đi với bà tới Hang Ðá Lộ Ðức. Vào lúc này, bà đã có bầu đứa thứ ba được chín tháng. Bà đi bộ từ làng đến Hang Ðá Lộ Ðức, xa 7 cây số. Ðến nơi, bà được chứng kiến cuộc xuất thần của Bernadette. Bà cảm thấy có một sức mạnh dun dủi, đi thẳng đến giòng suối mà Bernadette đã khai thông, nhúng tay vào bể nước giá lạnh và tự nhiên bàn tay của bà có thể co quắp cử động lại như thường. Ðồng thời bà cảm thấy bụng quặn đau dữ dội. Bà vội vàng cám ơn Mẹ vì đã được lành tay, nhưng bà cầu xin Mẹ cho bà được về nhà bằng yên. Bà và lôi hai đứa nhỏ đi bộ 7 cây số trở về. Về đến nơi bà sinh hạ cậu bé Jean Baptiste, mẹ tròn con vuông. Cậu bé nầy, 24 năm sau trở thành linh mục vào năm 1882.

-----------Giáo Sư Vergez, trong bản báo cáo trình lên Ðức Cha Laurence, viết rằng: "Sự việc được chữa lành của bà Catherine Latapie, quả là một điều siêu tự nhiên, vượt ra ngoài khả năng giải thích của y khoa". Ngày 18 tháng Giêng năm 1862, sự kiện bà Catherine Latapie được chữa lành đã được Ðức Cha Laurence, Giám Mục Tarbes, chính thức công bố là Phép Lạ. Ðó là phép lạ đầu tiên được giáo hội công nhận.

Ông Louis Bouriette bị hư một mắt trong một tai nạn tại hầm mỏ và đã được chữa lành vào tháng 3 năm 1858

-----------Ông Louis Bouriette, sinh năm 1804, sống ở Lộ Ðức. Ðược chữa lành vào tháng 3 năm 1858. Ngày 18 tháng Giêng năm 1862 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Laurence, Giám Mục Tarbes.

-----------Sự kiện ông Louis Bouriette được chữa lành này, là một biến cố được chú ý đến nhiều trong những Phép Lạ xảy ra tại Lộ Ðức.

-----------Ông Louis Bouriette là một người thợ khai thác hầm mỏ, sống và làm việc ở Lộ Ðức. Năm 1858, con mắt phải của ông đã mất khả năng thị giác hoàn toàn từ hai năm nay. Ðây là hậu quả của một vụ nổ tại hầm mỏ 19 năm về trước, đã làm cho em của ông, ông Joseph, bị chết, còn ông thì bị hư một con mắt.

-----------Bác sĩ Dozous, người chữa trị cho ông từ ban đầu và đã kiểm chứng sự việc ông được chữa lành với lời nhận xét: "Ðây là một sự kiện thật đặc biệt. Qua những nghiên cứu y khoa và với sự hợp tác của các nhà khoa học, khi một con mắt đã bị thương vì những mảnh nổ và làm mất thị giác, dẫn đến sự bị bất trị và bị mù. Thì thường thường việc sẽ xảy ra tiếp theo là, con mắt còn lại cũng sẽ bị ảnh hưởng và sẽ dẫn đến trường hợp sẽ bị mù cả hai con mắt."

-----------Bác sĩ Dozous cũng chính là người đã đã chứng kiến sự việc được chữa lành này, và ông đã kể lại như sau:

-----------"Ngay khi Cô Bernadette lấy tay moi đất bên cạnh Hang Ðá, và phát hiện ra một nguồn suối nước từ trong lòng đất phun ra. Dòng nước này đã chữa rất nhiều người bệnh. Thì lúc đó, ông Louis nói với tôi: "Tôi cũng muốn, tôi muốn thử dùng nước này chữa mắt của tôi xem"

-----------Ông Louis nói tiếp: "Khi có cơ hội để lấy nước, tôi liền cầu nguyện cùng Ðức Mẹ bên Hang Ðá, tôi khiêm nhường khẩn khoản nài xin Ðức Mẹ hãy cho tôi lấy nước này để rửa mắt của tôi và hãy cho mắt tôi được lành.

-----------Tôi đã lấy nước và đã dùng nước suối đó để rửa mắt của tôi, tôi rửa và rồi lại rửa thêm một lần nữa, và chỉ trong một khoảng khắc ngắn, thật là tuyệt vời, mắt tôi đã lành lặn, và nó có thể nhìn thấy được bình thường như bây giờ đây."

-----------Ngày 28 tháng 7 năm 1858, một Ủy Ban nghiên cứu liền được triệu tập bởi Ðức Cha Laurence, và Bác Sĩ Dozous đã trình bày cùng Ủy Ban tất cả những nghiên cứu của ông về sự kiện được chữa lành này.

-----------Tháng 4 năm 1860, qua sự yêu cầu của Ðức Cha Laurence, Bác Sĩ Henri Vergez, Giáo Sư Viện Y Khoa Montpellier, và Văn phòng Y Khoa chuyên môn về nước ở Bareges, sau một thời gian nghiên cứu, đã trình bày lại với Ðức Cha Laurence những kết quả liên quan đến sự kiện được chữa lành của ông Louis, và đã kết luận:

-----------"Ðây là một sự kiện được chữa lành cách siêu nhiên và ngoài khả năng của y khoa".

-----------Ngày 18 tháng Giêng năm 1862, sự kiện ông Louis được chữa lành cách diệu kỳ này đã được Ðức Cha Laurence, Giám Mục Tarbes chính thức công bố là một Phép Lạ qua lời cầu bầu của Ðức Mẹ.

Bà Blaisette Cazenave bị đau mắt nhiều năm y khoa không còn cách nào chữa trị được nữa nhưng đã được chữa lành vào tháng 3/1858

-----------Bà Blaisette Cazenave (Soupene), sinh năm 1808, sống ở Lô Ðức. Ðược chữa lành vào tháng 3 năm 1858. Ngày 18 tháng Giêng năm 1862 được chính thức công bố là Phép Lạ bởi Ðức Cha Laurence, Giám Mục Tarbes.

-----------Bà Blaisette Cazenave bị đau mắt đã nhiều năm. Bà sinh ở Lộ Ðức, và năm bà được 50 tuổi bà bị một chứng bệnh kinh niên, mắt bà bị nhặm, và thường rất đau đớn. Hai mí mắt bị sưng đau, hầu như không cử động được... y khoa vào thời gian đó cũng đành bó tay trước chứng bệnh nan y của bà.

-----------Sau khi bệnh viện cho bà biết, bệnh của bà đã không còn cứu chữa được nữa, bà liền quyết định đi tới Hang Ðá Lộ Ðức và dùng nước Ðức Mẹ để chữa trị. Sau khi dùng nước suối Ðức Mẹ để rửa mắt lần thứ hai, mắt của bà hoàn toàn được chữa lành, và hai mí mắt của bà hoạt động trở lại bình thường như mọi người khác. Bà không còn cảm thấy đau đớn và khó chịu như trước đây nữa.

-----------Giáo Sư Vergez đã tường trình sự việc này như sau: Ðây quả thật là một sự việc vượt quá tự nhiên, là một bằng chứng hiển nhiên về một sự kiện được chữa lành rất là diệu kỳ. Ðây là một chứng bệnh của của một phần trong cơ thể, mắt, đã trở thành bất trị vào thời kỳ này, nhưng đã được chữa lành trong một giây lát, và đã trở lại bình thường, hoàn toàn lành mạnh như chưa bao giờ bị bệnh. Quả là nhiệm mầu."

caoduc
12-08-2008, 10:40 AM
Chi Tiết Một Số Phép Lạ(tt)



Bà Anna Santaniello bị chứng bệnh tim khó thở từ nhỏ, đã được chữa lành bệnh trong một chuyến hành hương cầu nguyện ở Lộ Ðức vào năm 1952.

-----------Tin Paris (ANSA 14/11/2005) - Giáo Hội Công giáo chính thức thừa nhận "một phép lạ" chữa lành bệnh một phụ nữ người Ý bị bệnh tim khi bà tới cầu nguyện tại Lộ Ðức vào ngày 19 tháng 8 năm 1952.

-----------Bà Anna Santaniello bị chứng bệnh tim khó thở từ nhỏ, đã được chữa lành bệnh trong một chuyến hành hương cầu nguyện ở Lộ Ðức vào năm 1952.

-----------Bà Anna Santaniello, sinh năm 1912, hiện nay đang sinh sống ở miền Nam nước Ý, nói với hãng thông tấn ANSA rằng, bệnh tim của bà đã biến mất khi bà cùng với đoàn hành hương đến cầu nguyện tại Ðền Thánh Ðức Mẹ ở Lộ Ðức, Pháp Quốc vào năm 1952.

-----------Ủy Ban Công Giáo Quốc Tế là Ủy Ban phụ trách quản lý Ðền Thánh Ðức Mẹ Lộ Ðức ở Pháp Quốc đã đánh dấu phép lạ chữa lành bệnh của bà Anna Santaniello là phép lạ thứ 67 được giáo hội chính thức thừa nhận.

-----------Sau nhiều năm làm việc của Ủy Ban nghiên cứu và điều tra về các phép lạ của Giáo Hội, Ðức Tổng Giám Mục Salerno Gerardo Pierro đã công bố phán quyết của Giáo Hội về việc chính thức thừa nhận phép lạ này trước sự hiện diện của bà Santaniello trong thánh lễ Chúa Nhật ngày 13/11/2005. Sau Thánh Lễ, bà Anna Santaniello đã chia sẻ về kinh nghiệm được chữa lành bệnh của bà.

-----------Bà Santaniello nói với ký giả của tờ nhật báo Il Giornale rằng bà bị chứng bệnh tim khó thở từ nhỏ, một chứng bệnh gia truyền đã cướp mất mạng sống của một người anh trai và một người em gái của bà.

-----------Bà nói tiếp, "Tình trạng của tôi càng ngày càng tệ hơn khi tôi đã lớn tuổi, tôi lại càng khó thở vào những lúc lên giường nằm ngủ. Các bác sĩ đã bó tay trước hoàn cảnh của tôi".

-----------"Nhưng tôi vẫn luôn tin tưởng vào ơn trên cũng như vào sự cầu bầu của Ðức Mẹ. Tôi cảm thấy hình như Ðức Mẹ đang gọi tôi hãy đi cầu nguyện tại Ðền Thánh Ðức Mẹ Lộ Ðức nơi xưa kia Mẹ đã hiện ra với chị thánh Bernadetta vào năm 1858. Gia đình tôi không dám cho tôi đi, nhưng tôi vẫn cố hết sức để đi tới được Lộ Ðức."

-----------"Tôi đã đến Lộ Ðức trên một chiếc Băng Ca, vì tôi không còn có thể tự di chuyển được nữa... Các thiện nguyện viên tại Lộ Ðức dìm người tôi vào giếng nước Lộ Ðức. Nước thì lạnh băng nhưng ngay liền lúc đó tôi lại cảm thấy có một luồng sức nóng chuyển vận trong ngực tôi giống như đang bơm thêm sức sống cho tôi làm cho tôi hồi phục sức khỏe trở lại."

-----------"Sau một vài phút, tôi đã có thể tự mình chỗi dậy. Tôi từ chối sự giúp đỡ của những người thiện nguyện giúp đỡ tôi khiêng Băng Ca. Và tôi nói với họ hãy giúp đỡ những người khác vì tôi đã có thể tự mình di chuyển được."

-----------Bà Anna Santaniello cho biết, sau khi trở về Italy, bà đã đến gặp bác sĩ chuyên khoa của bà và bác sĩ đã tuyên bố là bà đã hoàn toàn bình phục.

------------ Ngày 16 tháng 8 năm 1952, Bà Anna Santaniello, nằm trên một chiếc Băng Ca, cùng với một nhóm hành hương người ý đến Lộ Ðức bằng Tàu Lửa.

------------ Ngày 19 tháng 8 năm 1952, Bà được các thiện nguyện viên dìm vào giếng nước Lộ Ðức. Và bệnh tim của bà được hoàn toàn bình phục.

------------ Ngày 20 tháng 8 năm 1952, Bà Anna Santaniello được một nhóm nhiều bác sĩ khám nghiệm và nghiên cứu về tình trạng được lành bệnh của bà.

-----------Ngày 29 tháng 8 năm 1952, Bà Anna Santaniello tự tìm tới 2 bác sĩ khác, (không phải là những bác sĩ đã từng chữa trị cho bà) để khám nghiệm một lần nữa về tình trạng sức khỏe của bà. Kết quả cho thấy, bệnh của bà đã hoàn toàn bình phục.

-----------Ngày 10 tháng 8 năm 1953, Bà Anna Santaniello được nhóm Bác Sĩ chính thức của Lộ Ðức tái khám nghiệm. Kết quả cho thấy, bệnh của bà cũng đã hoàn toàn bình phục.

-----------Ngày 18 tháng 7 năm 1960, một lần nữa bà được khám nghiệm và được xác nhận hoàn toàn bình phục.

-----------Ngày 24 tháng 7 năm 1962, sau một cuộc khám nghiệm khác chứng nhận sự hoàn toàn bình phục của bà, hồ sơ của bà được chuyển tới Ủy Ban Y Khoa Quốc Tế.

-----------Ngày 3 tháng 5 năm 1964, Ủy Ban Y Khoa Quốc Tế xác nhận việc lành bệnh của bà là một việc siêu tư nhiên.

-----------Ngày 23 và 24 tháng 10 năm 2004, Bác Sĩ Patrick Theillier, Chủ Tịch Ủy Ban Y Khoa Quốc tế công bố kết quả nghiên cứu và xác nhận sự việc lành bệnh của bà là một việc siêu tư nhiên.

-----------Sau một thời gian dài nghiên cứu và điều tra các kết quả y khoa, và chứng tỏ rằng, bệnh tình của bà đã hoàn toàn bình phục mãi cho tới nay đã 93 tuổi. Ngày 9 tháng 11 năm 2005, Ðức Tổng Giám Mục Gerardo Pierre của giáo phận Salerne chính thức xác nhận sự việc lành bệnh của bà Anna Santaniello là một phép lạ.

-----------Ngày 13 tháng 11 năm 2005, trong thánh lễ ngày Chúa Nhật, Ðức Tổng Giám Mục Slerne đã công bố sự thừa nhận của giáo hội về phép lạ được lành bệnh của bà Anna Santanieelo.

-----------Lộ Ðức là một thị trấn nhỏ nằm ở miền núi Pyrenees của Pháp, đã trở thành một địa điểm hành hương nổi tiếng sau khi Ðức Mẹ hiện ra với một thiếu nữ 14 tuổi tên là Bernadette vào năm 1858.

Ông Jaques Salaun, 16 năm bất toạ được chữa lành (1/9/1993)

-----------Hãy Ðứng Dậy và Ði (Mt 9,5)

-----------Ðã 16 năm qua, ông Jaques Salaun là một bệnh nhân tê liệt, phải ngồi xe lăn, mỗi lần xê dịch phải nhờ đến con cháu. Ông bị bệnh ngạnh kết từng mảnh trong mạch máu và hoàn toàn tê bại. Ngày cậu con trai ra đời, thân sinh đã bại xụi, nay cậu Cyril đã lên 16 tuổi và thường giúp ông xê dịch, nhưng ngày thứ Tư mồng 1 tháng 9 năm 1993, bỗng nhưng ông lành bệnh, ngày trước con bế bố thì hôm nay bố bế con và nâng bổng lâu lên trời. Ông Jaques Salaun đã lành hẳn và cử động như thời còn khỏe mạnh.
Sự gì đã xảy ra?

-----------Ông vừa ở Lộ Ðức về trong cuộc hành hương thứ hai của ông về thành phố của Ðức Mẹ. Ông cho rằng mình đã được nhìn thấy Ðức Trinh Nữ, được tắm suối của Ðức Mẹ khai nguồn và bỗng nhưng hôm nay, ông được lành hẳn, đi xe đạp phong phong trên đường làng cho bà con coi. Người ta cho rằng ông là một trong 6,000 bệnh nhân đã được Ðức Mẹ chữa lành từ khi Ðức Mẹ hiện ra với Thánh Nữ Bernadette năm 1858 nơi thành phố đìu hiu gió ấy. Nhưng nay Lộ Ðức là một trung tâm hành hương quốc tế, một cao điểm cầu nguyện. Câu chuyện của ông là một câu chuyện mới nhất xảy ra năm 1993 và đã có người cho rằng biết đâu đây là "phép lạ thứ 67" sẽ được Giáo Hội nhìn nhận trong số 6,000 ơn lạ đã được ghi nhận tại Lộ Ðức từ ngày Ðức Mẹ hiện ra.

-----------Câu chuyện như sau

-----------Hôm ấy, thứ Tư mồng 1 tháng 9 năm 1993, một ngày như bao nhiêu ngày khác, ông Jacques Salaun, 58 tuổi, một cựu công nhân nghề tiện, vừa tham dự cuộc hành hương Lộ Ðức do Giáo Phận Chartres tổ chức trở về. Trong làng La Loupe với 4,000 nhân danh, ai ai cũng biết ông là một bệnh nhân tê bại đã 16 năm, một người giáo dân thuận thành thường được người con trai 16 tuổi, cậu Cyril, đẩy xe lăn đến nhà thờ tham dự Thánh Lễ.

-----------Ông Salaun vui mừng đứng dậy, không dùng gậy chống và đi lại trong phòng khách, vừa đi vừa nói: "Lạ lùng thật!" Ông quơ tay như người múa rối, giơ cao chân lên... "Mọi sự tốt đẹp".

-----------Ông ở trong một ngôi nhà xinh xinh với bà vợ, bà Jacqueline và hai đứa con; Cô chị là Nathalie làm chiêu đãi viên hàng không và cậu em út là Cyril 16 tuổi, học sinh. Người con trai trưởng là Philippe, 33 tuổi, hiện đang lập nghiệp ở Mẽ Tây Cơ. Ông Salaun cùng với bà vợ vừa có dịp qua thăm con, di chuyển bằng xe lăn vào chiếc phi cơ khổng lồ qua gần một phần nửa trái đất.

-----------Tóm lại, đây là một gia đình trung bình như nhiều gia đình Pháp khác, không có gì đáng nói. Có chăng là người gia trưởng từ 16 năm qua đã thành phế nhân. Ông bị bệnh ngạnh kết từng mảnh (Sclérose en plaques); mạch máu bị chất mỡ đông lại làm cho sự tuần hoàn tắc nghẽn và cơ thể bại xụi, trở thành phế nhân không làm việc được. Hai tay cứng đờ và hai chân thẳng như khúc gỗ, không cử động, xê dịch một mình được.

-----------Ngày 26 tháng 8 năm 1993, ông đi hành hương Lộ Ðức với 87 bệnh nhân và 300 giáo lữ trong số có cậu Cyril con trai út của ông, dưới sự hướng dẫn của Cha Brossier, Chính xứ La Loupe. Cuộc hành trình khá dài và mệt nhọc. Ông đã 58 tuổi, cao 1m62, nặng 50 ký, phất phơ vài sợi tóc bạc trên chiếc đầu hói, với cặp kiếng vuông, ông là một ông già trời cho vui tính.

-----------Ông tuyên bố: "Ði hành hương đối với tôi như một cuộc đi nghỉ hè 6 tháng...". Tôi trở về tinh thần lên cao độ. Tôi đến đó không có ý nghĩ là "tôi sẽ được chữa lành, nhưng ở đó, tôi được phấn khởi rất nhiều."

-----------Với đoàn giáo lữ, ông ở lại Lộ Ðức 5 ngày, tham dự các nghi lễ và rước kiệu. Ngày sau cùng ngồi trên chiếc xe lăn, ông được người "khiêng cáng" phục dịch đưa ra nhà tắm thiết lập ven bờ sông Gave gần Hang đá, nơi đây năm 1858, Ðức Trinh Nữ đã hiện ra với Bernadette Soubirous 18 lần. Người ta dìm ông xuống giòng nước giá lạnh, nơi đây mỗi năm có hàng ngàn người trong số 5 triệu du khách hành hương đã được tắm gội. 50 ngàn bệnh nhân mỗi năm, đủ mọi thành phần, mọi bệnh chứng đã từng đi qua, mà giòng nước vẫn không bị nhiễm trùng, khiến nhà vô thần Emila Jola phải ngạc nhiên và tự hỏi: Làm sao từ trong giòng nước ô nhiễm như vậy bước ra mà người ta không mắc thêm bệnh? Nên biết mỗi ngày chỉ thay nước một lần!

-----------Ðến phiên ông Salaun, ông lại xin được dìm xuống nước một lần thứ hai nữa trước khi ra về. Cả ngày ông đã cầu nguyện với Ðức Mẹ rất sốt sắng.

-----------Sáng hôm sau, trước khi thức dậy, ông cầu nguyện, mắt lim nhim. Ông kể: "Tôi được nhìn thấy Ðức Trinh Nữ, bàn chân trần, sắc phục toàn trắng, miệng mĩm cười. Mẹ nói với tôi: "Hãy đứng lên". Hình ảnh ấy tôi nhớ mãi và giữ cho riêng tôi."

-----------Con tàu chuyển bánh về tới La Loupe, sáng sớm thứ Tư mồng 1 tháng 9 năm 1993 lúc 8 giờ 10 phút.

-----------Về đến nhà, ông cảm thấy có một sự rung chuyển lạ thường chạy từ đốt xương sống cuối cùng lên đến cổ. Ông kể: "Tôi như bị nghiền nát, một sức nóng lan tỏa từ dưới lên trên như đốt cháy tôi. Tôi đau đớn lắm. Tôi gọi vợ tôi. Và, bỗng nhưng, tôi cảm thấy hai tay tôi cử động. Tôi đứng dậy, không dùng gậy chống và đi ra phòng khách, vừa đi vừa nói: Lạ lùng thật! Tôi quơ tay như người múa rối, giơ cao chân lên... Mọi sự tốt đẹp".

-----------Vợ ông, bà Jaqueline sửng sốt trước hành động của chồng; lần đầu tiên sau bao nhiêu năm, tự tay ông cắt bánh, trét bơ dọn ăn sáng.

-----------Cậy Cyril đang ngủ, nghe tiếng động, vội chạy ra phòng khách. Anh xúc động bỡ ngỡ làm sao khi thấy bố múa tay múa chân, rồi chạy lại ôm chầm lấy cậu và khóc nức nở. Lần đầu tiên trong đời cậu được thấy bố mạnh khỏe. Và, "thật có Thiên Chúa an bài," ông Jaques Salaun nói. Cùng lúc ấy, cô Nathalie, con gái ông đi làm về, bước vào nhà không báo trước. Hai chị em như trên trời rơi xuống. Ông ôm chầm lấy con gái, khởi đầu một vũ điệu tango. Trong bữa ăn sáng gia đình, ông Salaun lần đầu tiên nói đến hai chữ "phép lạ" của Ðức Mẹ.

-----------Chiều ngày 1 tháng 9 năm 1993, ông Salaun lấy xe đạp đi một vòng trong làng. Tất cả hàng xóm đều chạy ra xem, không thể ngờ sự việc xảy ra như vậy. Và họ bắt đầu gọi ông là "người được phép lạ".

-----------Chiều hôm ấy, cùng với cô con gái, ông Salaun lấy xe đạp đi một vòng trong làng. Tất cả hàng xóm đều chạy ra xem, không thể ngờ sự việc xảy ra như vậy. Và họ bắt đầu gọi ông là "người được phép lạ". Cũng như chính ông cũng không thể nhận thức những gì xảy ra cho chính mình! "Tôi tưởng rằng tôi sống lại 20 năm về trước!"

-----------Người đầu tiên được ông loan tin là cha xứ Brossier. Nhìn thấy người con chiên của mình, mới ngày hôm qua đây được dẫn đi Lộ Ðức ngồi trên chiếc xe lăn, nay bỗng nhiên bình phục, cha đứng im lặng thẳng như cây trồng, nhìn một hồi lâu. Cha nói với một ký giả: "Tôi không biết cách nghĩa làm sao, nhưng tôi không thể phủ nhận sự việc." Các bác sĩ phụ trách đoàn hành hương trông coi bệnh nhân hôm ấy đều đến nhà ông Jaques Salaun để mở cuộc điều tra. Cha xứ Brossier nói: "Chúng tôi không có nhiệm vụ tuyên bố đây có bàn tay Thiên Chúa can thiệp, nhưng hiện nay chỉ có thể nói, việc lành bệnh không thể cắt nghĩa được!"

Phải chăng là một phép lạ?

-----------Cuộc lành bệnh cách nhiệm lạ cuối cùng được nhìn nhận vào ngày 9 tháng 2 năm 1999. Cho đến nay (năm 2001) có 66 vụ chữa lành ở Lộ Ðức được chính thức công nhận là phép lạ. 66 vụ trong thời gian từ 1858 đến nay, suốt thời gian trên một thế kỷ, xét ra thật là ít oi so với con số 6,000 người tự cho mình được ơn lành bệnh và 3,500 vụ được coi là đặc biệt do Ủy Ban Y Khoa Lộ Ðức gồm tất cả các bác sĩ hiện diện kiểm chứng và nhìn nhận.

-----------Chúng ta biết có một nghiêm luật được triệt để thi hành xung quanh vấn đề là những cơn bệnh cơ năng đều bị loại bỏ, nghĩa là những chứng bệnh phát xuất do sự xáo trộn các cơ năng, hôm nay thế này ngày mai có thể thế khác, không được xét đến, như các bệnh thần kinh, ung thư, dị ứng v.v... Chỉ có các cơn bệnh hoàn toàn về cơ thể rõ rệt mới được nhìn nhận và thẩm xét. Vì thế, một số lớn các hồ sơ bị loại. Trong thời gian 3 năm (từ 1990 đến 1993) chỉ có 5 hồ sơ được chấp nhận và thẩm xét. Các nhà chuyên viên để ra nhiều năm để khám nghiệm, để tái khám, để giám định lại theo những phương thức tối tân của khoa học, hầu đi đến các câu trả lời sau đây: Chứng bệnh có thật sự nan y không? Bệnh nhân được lành hẳn và vĩnh viễn không? Hay chỉ là một cơn đột biến tình cảm.

-----------Sau khi những vấn nạn trên được trả lời thỏa đáng thì bác sĩ Pilon, giám đốc Ủy Ban Y Khoa Lộ Ðức từ mấy năm nay, làm bản phúc trình cho Ủy Ban Y Khoa Quốc Tế gồm 40 vị cự phách trong y giới thuộc nhiều quốc gia, mỗi năm họp một lần ở Paris dưới quyền đồng chủ tọa của Giám Mục Lộ Ðức và vị Chủ Tịch Ủy Ban Quốc Tế. Ở đây, hồ sơ lại được mở ra, các vấn nạn lại được thẩm xét, các cuộc khám nghiệm mới bị đòi hỏi.

-----------Cuối cùng, có rất ít hồ sơ lọt qua được cửa ải này. Và chỉ khi nào, khoa học nhận thức rằng không thể giải thích được theo y khoa thì giáo quyền mới chấp nhận hồ sơ. Trong thực tế, Giáo Luật dành cho vị Giám Mục nơi cư ngụ của người thụ hưởng quyền khai mở cuộc thẩm xét theo Giáo Luật. Lại phải chờ đợi nhiều năm trước khi cuộc lành bệnh được công nhận là phép lạ.

-----------Ðành rằng các "Phép Lạ" không phải là những tín điều phải tin, nhưng các dữ kiện xảy ra được giáo quyền cứu xét một cách nghiêm chỉnh và hết mức theo những tiêu chuẩn Giáo Luật do Ðức Giáo Hoàng Benêdictô XIV ban hành năm 1734. Những tiêu chuẩn gắt gao này ngày nay một số thần học gia lại muốn duyệt xét lại. Vì thế, hội các bác sĩ Pháp tổ chức tại Lộ Ðức vào những ngày 21 đến 25 tháng 10 năm 1993 một Ðại Hội với chủ đề: "Lành Bệnh và Phép Lạ". Chắc chắn từ nay các tiêu chuẩn sẽ muôn vàn khó khăn hơn.

-----------Vụ lành bệnh của ông Jaques Salaun, như vừa nói trên, phải chăng là "phép lạ thứ 67" sẽ được giáo hội thừa nhận? Ông không làm rầm rộ, nhưng ông sẵn sàng trải qua mọi cuộc khám nghiệm, hạch hỏi của khoa học. Vì ông nghĩ rằng một người giáo dân thuận thành, chất phác như ông mà được Ðức Mẹ ban một đặc ân như vậy, phải có bổn phận làm chứng tá cho quyền năng và lòng nhân lành của Ðức Mẹ. Phép lạ hay không? Xem chừng ông không mấy chú ý. Ông chỉ chắc chắn một điều là ngày mồng 1 tháng 9 năm 1993, ông nhận được mệnh lệnh rõ ràng: "Hãy đứng dậy mà đi", và ông đã tuân theo. Ông đã đứng dậy, đã đi, đã chạy, đã nhảy, như người bất toại ngày xưa ở Capharnaum sau khi nghe Chúa phán: "Hãy chỗi dậy mà đi" (Mt 9,5).

-----------Trong khi chờ sự phán quyết tối hậu của Giáo Hội để được thừa nhận là Phép Lạ, chúng ta dè dặt và chờ đợi. Dù sao, chúng ta tin tưởng rằng, Thiên Chúa vẫn luôn yêu thương loài người, Ngài vẫn hằng làm muôn vàn điều lạ lùng để ban tặng cho dân chúng của Ngài trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta.

caoduc
16-08-2008, 09:55 AM
Phép Lạ Lộ Đức và Bác Sĩ Alexis Carrel

Trích từ MeMaria.org - Radio Gio Cua Me

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt
------------ Lạy Mẹ nhân hiền, Đấng hằng cứu giúp những ai khốn cùng khiêm tốn kêu cầu Mẹ, xin Mẹ hãy gìn giữ con. Con tin nơi Mẹ. Mẹ đã dùng một phép lạ cả thể để trả lời cho nghi ngờ của con. Con chưa biết nhận ra phép lạ và còn tiếp tục hồ nghi. Nhưng ước muốn lớn lao nhất và khát vọng thâm sâu nhất của lòng con là đạt đến Đức Tin!

-----------Đó là lời cầu xin tha thiết của ông Alexis Carrel (1873-1944), bác sĩ Pháp trẻ tuổi, tại đền thánh Đức Mẹ Lộ Đức, vào một đêm khuya vắng năm 1903, sau khi chứng kiến phép lạ một thanh nữ khỏi bệnh.

-----------Alexis Carrel chào đời tại Lyon (Bắc Pháp) trong một gia đình Công Giáo đạo đức. Alexis mồ côi Cha năm lên 4 tuổi và được Mẹ giáo dục trong niềm kính sợ THIÊN CHÚA. Nhưng khi lớn lên và trở thành sinh viên xuất sắc, Alexis bỗng đánh mất Đức Tin Công Giáo đơn sơ trong tuổi thơ của mình. Việc Alexis mất Đức Tin một phần do ảnh hưởng chủ thuyết duy vật vô thần rất thịnh hành trong xã hội Âu Châu vào những thập niên cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.

-----------Năm 30 tuổi, Alexis Carrel trở thành bác sĩ và là giáo sư giải phẫu học nổi tiếng của phân khoa thuốc đại học Lyon. Một ngày trong năm 1903, giáo phận Lyon tổ chức cuộc hành hương Lộ Đức dành riêng cho các bệnh nhân.

-----------Vì bị ngăn trở vào phút chót, một bác sĩ bạn nhờ bác sĩ Carrel thay mình tháp tùng các bệnh nhân. Bác sĩ Carrel miễn cưỡng nhận lời, nhưng tận thâm tâm ông vui mừng vì được dịp nhạo cười và chỉ trích tại chỗ những chuyện gọi là ”phép lạ Lộ Đức”. Theo ông, đó chỉ là chuyện nhảm nhí của các tín hữu Công Giáo vô học, ngây thơ và dễ tin!

-----------Trước luận cứ vô thần của ông, một bác sĩ khác, cùng tháp tùng các bệnh nhân trong chuyến hành hương Lộ Đức năm đó, vặn lại:

------------ Có những trường hợp bị ung thư, lao phổi nặng và bị mù lòa thật sự mà y khoa bó tay, lại được chữa khỏi cách lạ thường, khiến các bác sĩ thuộc đủ mọi quốc tịch - có Đức Tin hay không Đức Tin - đều không thể nào giải thích được. Vậy anh nghĩ sao?

-----------Bác sĩ Alexis Carrel vẫn ngoan cố trả lời:

------------ Chuyện không thể nào xảy ra được! Chắc chắn là các cuộc khám nghiệm không thi hành nghiêm chỉnh: trước, trong khi, và sau khi khỏi bệnh! Cho tới giờ phút này, các phép lạ chưa được nghiên cứu một cách khoa học. Ngoài ra, chấp nhận phép lạ tức là chấp nhận sự kiện một cách ngu xuẩn, bởi vì, luật lệ thiên nhiên bất biến .. Tuy nhiên, trước một sự kiện tỏ tường, chắc chắn người ta bị bó buộc phải công nhận. Do đó, nếu tôi tận mắt chứng kiến một sự kiện, hẳn tôi sẽ cúi đầu chấp nhận!

-----------Thách thức của bác sĩ Alexis Carrel được chính Đức Mẹ Lộ Đức trả lời.

-----------Trong chuyến hành hương, bác sĩ Carrel được giao nhiệm vụ chăm sóc cách riêng một nữ bệnh nhân tên Marie Ferrand, 24 tuổi. Cô bị bệnh lao phổi ở thời kỳ chót và mắc thêm chứng bệnh sưng màng bụng đau đớn. Các bác sĩ bó tay và cô nằm chờ chết. Nhưng cô có nguyện vọng sau cùng là hành hương Lộ Đức. Lời van nài của cô được chấp thuận.

-----------Chuyến đi càng làm cho bệnh tình cô nặng thêm. Khi đến Lộ Đức thì hầu như cô chỉ còn thoi thóp thở. Bác sĩ Carrel đặc biệt chăm sóc cô và ông thấy rõ cô có thể tắt thở bất cứ lúc nào. Ông nói với bác sĩ bạn:

------------ Nếu cô này khỏi bệnh thì thật là phép lạ! Lúc đó tôi sẽ tin và sẽ cắt tóc đi tu làm thầy dòng!

-----------Người ta định mang cô Marie Ferrand xuống hồ tắm, nhưng vì bệnh tình quá trầm trọng, người ta chỉ dùng nước suối Lộ Đức thoa rửa trên người cô. Bác sĩ Carrel luôn luôn đứng bên cạnh cô. Ông thầm thì:

------------ Ôi ước gì con được giống như những tín hữu Công Giáo đáng thương, biết tin tưởng vào quyền lực chữa trị của nước suối Đức Mẹ! Xin Mẹ chữa lành thanh nữ này vì cô quá đau đớn. Xin Mẹ cho cô sống thêm thời gian nữa và xin cho con có được Đức Tin!

-----------Bỗng chốc, bác sĩ Alexis Carrel trông thấy rõ ràng bệnh nhân hồi sinh. Gương mặt cô gái từ từ trở nên hồng hào. Nhịp mạch, nhịp tim đập trở nên bình thường. Cái bụng phình to tướng đang từ từ xẹp xuống. Hiện tượng lạ lùng đó diễn ra trong vòng 20 phút. Đúng 3 giờ chiều, cô Marie Ferrand nói lớn tiếng:

------------ Con đã được khỏi bệnh!

-----------Người ta mang đến cho cô một ly sữa, cô cầm lấy và uống như một người bình thường.

-----------Trước sự kiện hiển nhiên đó, bác sĩ Alexis Carrel đành chấp nhận:

------------ Một hiện tượng bất ngờ - không thể nào xảy ra - đã thực sự xảy ra! Đây chính là một phép lạ!

-----------Từ sau phép lạ tại Lộ Đức năm 1903 đó, bác sĩ Alexis Carrel từ từ trở về với Đức Tin Công Giáo và qua đời vào năm 1944.

-----------Lúc sinh thời, bác sĩ Alexis Carrel đã tiến cao trên đài danh vọng, đã lãnh giải thưởng Nobel y khoa năm 1912. Nhưng khi chết, ông đã tắt thở trong Đức Tin đơn sơ của một đứa trẻ. Quả thật, hạnh phúc thay người có Đức Tin!

-----------... ”Lạy Cha Chí Thánh, xin gìn giữ các môn đệ trong danh Cha mà Cha đã ban cho Con, để họ nên một như chúng ta. Khi còn ở với họ, Con đã gìn giữ họ trong danh Cha mà Cha đã ban cho Con. Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần. Họ không thuộc về thế gian cũng như Con đây không thuộc về thế gian. Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ. Lời Cha là Sự Thật. Như Cha đã sai Con đến thế gian, thì Con cũng sai họ đến thế gian. Vì họ, Con xin thánh hiến chính mình Con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến” (Gioan 17,11-18).

-----------(Albert Bessières, ”Le Voyageur de Lourdes: ALEXIS CARREL”, Collection Convertis du XXè Siècle, Belgique, 1952)

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt, 12/01/2008

littlewave
21-08-2008, 11:29 AM
Xác chị thánh Bernadette vẫn tươi tốt 120 năm sau ngày chết


http://www.catholicpilgrims.com/lourdes/images/bernprof.jpg
(http://www.catholicpilgrims.com/lourdes/images/bernprof.jpg)


St. Bernadette of Lourdes




http://www.catholicpilgrims.com/lourdes/images/bernbw.jpg
(http://www.catholicpilgrims.com/lourdes/images/bernbw.jpg)


Bernadette in death, as she appeared in April 1879.




http://www.catholicpilgrims.com/lourdes/images/bern97a.jpg
(http://www.catholicpilgrims.com/lourdes/images/bern97a.jpg)


Photograph by website author - June 6, 1997

caoduc
27-08-2008, 09:48 AM
Tâm tình hướng về Mẹ Việt Nam,
nhân kỉ niệm 150 năm Đức Mẹ Lộ Đức



Đông Khê
VietCatholic News (Thứ Hai 14/01/2008)


Kỷ Niệm 150 Năm Đức Mẹ Lộ Đức
-----------Lạy Mẹ Maria, ngày xưa, khi còn bé, con thích ra cổng đón mẹ con đi chợ về. Bây giờ nhớ lại, con nghĩ không phải vì đón quà, mà vì tâm hồn đứa con có nhu cầu tìm mẹ, đến với mẹ. Cũng y hệt như thế, hôm nay con viết bài này cho Mẹ. Năm nay, Giáo Hội kỷ niệm 150 năm Mẹ hiện ra ở Lộ Đức, để ghi ơn Lòng Xót Thương Nhiệm Mầu của Mẹ. Con không đủ khả năng ca ngợi Mẹ cách xứng đáng về Phép Lạ vĩ đại nầy. Con chỉ xin cảm tạ Mẹ.
http://kinhmungmaria.com/yahoo_site_admin/assets/docs/images/OurLadyofLourdes.jpg
-----------Mẹ ơi, con thú nhận sự ích kỷ của mình: còn một lý do nữa, thúc đẩy con viết cho Mẹ hôm nay. Đó là lòng xót xa của con trước tình hình Công Giáo gặp gian nguy ở quê nhà. Quê hương con rất xa, nữa vòng trái đất, nhưng vẫn gần gũi trong lòng con. “Nơi chôn nhau cắt rốn “ cụm từ bình dân này nói lên nỗi tha thiết của lòng người đối với cội nguồn cuả mình.

-----------Mẹ ơi, con tin Mẹ đau lòng còn hơn con nữa, cho Việt Nam. Con van xin Mẹ cầu bầu với Chúa cho quê hương con, cho Giáo hội Công Giáo Việt Nam. Máu Việt Nam, Nước mắt Việt Nam đã bao lần ướt đẫm đất quê hương, bao hình hài Chiến Sĩ đã nằm sâu trong lòng đất lạnh, bao gia đình mất cha, bao cô phụ mất chồng. .. Như Mẹ biết, dân tộc Việt Nam là một trong các dân tộc đau khổ nhất thế giới.

-----------Con xin Mẹ, một lần nữa, ban Phép Lạ Lộ Đức trên quê con, đánh dấu 150 năm lòng Lân Tuất của Mẹ. Con xin Mẹ, Mẹ ơi, che chở phù trì Giáo Hội Việt Nam, dẫn đưa quê hương con thoát cơn gian nan đè nặng trên Tôn Giáo. Xin Mẹ thương, xin Mẹ đoái thương, lạy Mẹ Maria nhiệm mầu, như ngày xưa, Mẹ đã kéo Ơn Chúa xuống cho Cana xin Mẹ van xin Ơn Chúa cho Việt Nam khốn khổ hôm nay.

-----------Lạy Mẹ, trên Thánh Giá, Đúc Giêsu, trong giờ Hấp Hối đau đớn và thiêng liêng, đã trao gởi Mẹ cho Gioan “ nầy là Mẹ con”. Từ đó, con có Mẹ. Từ đó, Mẹ là Mẹ con, mãi mãi, khi con còn sống, như khi xác thân con đã thành tro bụi. Mẹ ! chỉ kêu lên danh từ “Mẹ” con đã cảm thấy lòng mình dịu dàng êm ã, như gió mát mùa hè, như sưởi ấm mùa đông. Mẹ đã ẳm bồng ôm ấp con, mang con đến với Chúa. Mẹ đã nuôi dưỡng đời sống Tâm Linh con, giúp con nhận biết hương vị ngọt ngào của Tình Chúa xót thương.

-----------Mẹ ơi, những khi Mẹ quỳ trước Nhan Thánh Chúa, thầm thĩ nguyện cầu cho loài người khốn khó chúng con, thì linh hồn con nấp trong tà aó Mẹ, vì, ý thức tội lỗi và sự bất xứng của mình, con choáng ngợp trước hào quang uy linh của Ngài. Con níu tà aó Mẹ để xin mẹ nguyện cầu cho con, để con được ấm áp với Tình Mẹ, để con hãnh diện mình có Mẹ trên trời!

-----------Mẹ ơi, con dùng tà áo Mẹ để lau nước mắt những lúc con yếu đau thể xác hay tinh thần, những lúc con khổ sỡ thống hối với tội lỗi của mình, những lúc con buồn đau, cô đơn, hụt hẫng, choáng váng trước biến cố thương đau ập xuống đời con...

-----------Mẹ ơi, Mẹ và con, chúng ta cùng yêu Chúa, nhưng Mẹ vẫn là chiếc cầu, là trung gian giữa Chúa và con, vì trong tất cả thụ tạo, không ai hiểu con Mẹ bằng Mẹ, không ai gần gũi Chúa bằng Mẹ. Mẹ thấy không, con cần Mẹ bao nhiêu! Con cần bàn tay Mẹ hiền của Mẹ dẫn con đi giữa gian trần đầy cạm bẫy, bàn tay mang đến cho con những miếng cơm manh aó Tâm Linh mà con thèm thuồng đói khát. ..

-----------Mẹ là chất keo hàn gắn đổ vỡ, là cuộn băng băng bó vết thương. Mẹ là chiếc gối bông êm cho con dựa đầu nghĩ ngơi, Mẹ là cái Võng ru con trong Tính Yêu Chúa.

-----------Lạy Mẹ, trên đường Thiện Nguyện con đi, biết bao lần con kêu “Mẹ ơi!“ những khi lòng con tan nát trước thảm cảnh của kiếp người. Xin Mẹ thương, cầu bầu với Chúa cho bao kẻ lầm than nơi dương thế: những tâm hồn bơ vơ, đói khát Tình Thương, những cuộc sống chất ngất buồn đau, những tâm sự sâu kín não nề, những người tàn tật lê lết cuộc đời trên chiếc xe lăn, những giòng lệ thảm đêm trường thao thức, những tiếng thở dài nặng trĩu sầu thương...Mẹ ơi, ở hải ngoại còn như thế, huống gì Việt Nam, quê hương con ?

-----------Phải chăng Việt Nam là cái giếng sâu mà lòng giếng rít lên những tiếng kêu thống khổ gởi bốn phương trời ??? Mẹ ơi, con chim Quốc Quốc còn biết hướng về quê hương, huống chi con là con người !

-----------Con xin Chúa và Mẹ ban Ơn cho Quê hương con, xin cứu Việt Nam trong thương đau ngày càng trầm trọng. Xin đánh thức những Lương Tâm, xin cho họ hiểu chỉ duy nhất Tình Thương có thể mang lại Bình An cho chính họ như cho Đất Nước. Múa võ dương oai không những không còn hợp thời trên môi trường thế giới hôm nay, mà còn mang Tội vào thân. Sớm hay muộn, mỗi con người đều đi đến cái Chết một ngày nào đó, họ sẽ mang theo vào quan tài Cái Đức hay Cái Tội ?

-----------Lạy Thiên Chúa Quyền Năng và Nhiệm Mầu, Lạy Mẹ Maria từ ái, nơi quê người đất khách, con cúi đầu tha thiết nài van Chúa và Mẹ cứu giúp Giáo Hội và Quê Hương con.
Với tấm lòng Biết Ơn Chúa và Mẹ,
Đông Khê
http://memaria.org/giao_hoi_viet_nam/tam_tinh_huong_ve_me_viet_nam_nhan_ki_niem_150_nam_duc_me_lo_duc/

caoduc
06-09-2008, 10:27 AM
Sứ điệp Lộ Đức và Tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm

§ Lm Nguyễn Hữu Thy

1. Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội
-----------Biến cố Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức đã đạt tới cao điểm của nó vào ngày 25.3.1858, vào ngày Lễ Truyền Tin(1), ngày Đức Mẹ tự giới thiệu: "Ta là Đấng Vô Nhiễm Thai!" Đó là lần thứ 16 trong 18 lần Đức Mẹ hiện ra cùng thiếu nữ Bernadette Soubirous ở hang núi Massabielle, miền Nam Pháp.
LoDuc-HangDa.jpg

-----------Thánh địa Lộ Đức, nơi Đức Mẹ đã hiện ra với thánh nữ Bernadette năm 1858

-----------Quả vậy, trước câu hỏi của Bernadette: "Thưa Mademoiselle, xin cô vui lòng cho con biết cô là ai?", Đức Maria đã mở rộng hai tay ra hướng về trái đất. Sau đó Đức Mẹ lại chấp hai tay trên ngực, ngước mắt lên trời và nói bằng thổ ngữ địa phương của vùng đó vào lúc bấy giờ: "Que soy era Immaculada Councepciou" - Ta là Đấng Vô Nhiễm Thai! Và Bernadette - tuy đã 14 tuổi, nhưng chưa rước lễ lần đầu và hầu như chưa học giáo lý gì cả - không hề hiểu được câu nói của "Madame trắng" kia. Dĩ nhiên khi đi xem lễ các ngày Chúa Nhật, Bernadette chắc chắn đã được nghe nói về ơn Vô Nhiễm Thai của Mẹ Thiên Chúa, nhưng em không hiểu được các bài giảng bằng tiếng Pháp. Hơn nữa, ý niệm "Vô Nhiễm Thai" đối với em cả là một điều bất khả tri giống như mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi vậy.

-----------Sau biến cố hiện ra của Đức Mẹ, Bernadette đã phải nhắc đi nhắc lại câu nói "Que soy era Immaculada Councepciou" cho Vị Linh mục Quản Xứ của em cũng như các cơ quan chính quyền, nhưng đối với em câu nói đó cũng giống như một câu bùa chú, không thể hiểu được. Cha Peyramale, vị Quản Xứ lúc bấy giờ, rất ngạc nhiên về kiểu nói khác thường này, vì lúc bấy giờ người ta thường chỉ nói "sự vô nhiễm thai của Đức Maria" hay "Đức Maria vô nhiễm", chứ không một ai xưng tụng Đức Mẹ bằng tước hiệu "Đấng Vô Nhiễm Thai" cả. Chỉ về sau vị Quản Xứ mới hiểu ra được rằng kiểu nói đó là một minh chứng hùng hồn cho sự tinh tuyền tuyệt đối của Mẹ Thiên Chúa và việc Mẹ được cưu mang không hề vương vấn tội nguyên tổ. Chính tính chất đặc biệt của câu nói "Ta là Đấng Vô Nhiễm Thai" đối với vị Quản Xứ - người vào lúc đầu hoàn toàn nghi ngờ về tính cách chính xác của việc Đức Mẹ hiện ra – đã trở thành luận cứ cho sự khả tín của sứ điệp trời cao, bởi vì bé gái thị kiến chưa đủ khả năng để hiểu được câu nói khó hiểu và bất bình thường đó.

-----------Sứ điệp Lộ Đức gắn bó chặt chẽ với đặc sủng Vô Nhiễm Thai của Đức Mẹ, mà trước đó bốn năm – năm 1854 – đã được ĐTC Piô IX long trọng công bố thành tín điều. Như vậy, qua lời tự nhận mình là Đấng Vô Nhiễm Thai, Đức Mẹ đã gián tiếp chuẩn y quyền giáo huấn vô ngô của Đức Giáo Hoàng Roma, mà Công đồng chung Vatican I vào năm 1870 đã khẳng định như một giáo huấn bó buộc. Đức Piô XII trong Thông điệp dịp kỷ niệm 100 năm biến cố Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức, đã cho rằng: "Chắc chắn lời phán quyết vô ngộ của Đức Giáo Hoàng Roma, của Đấng diễn giải chính thức của chân lý mặc khải, không cần đến sự chuẩn y của trời cao hầu trở thành có giá trị cho đức tin của các tín hữu. Nhưng dân Kitô giáo và các chủ chăn của mình đã cảm thấy vô cùng xúc động và biết ơn khi câu trả lời của trời cao được phát ra trên môi miệng Bernadette: "Ta là Đấng Vô Nhiễm Thai!"

-----------Nhưng lý do nào đã khiến Mẹ Thiên Chúa – qua biến cố hiện ra với Bernadette vào ngày 25.3.1858 - chuẩn y tín điều đã được Đức Piô IX công bố?

2. Sự diễn biến lịch sử của tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm
-----------Ở đây chúng ta không bàn về sự can thiệp của trời cao, nhưng chúng ta chỉ dựa theo lý do về lịch sử các tín điều và về tình trạng tinh thần đặc biệt vào giữa thế kỷ 19. Chúng ta có thê bắt đầu với một cái nhìn vào sự phát triển có tính cách lịch sử của định tín. Thật ra chưa có một tín điều nào đã phải trải qua một thời gian nghiên cứu và đầy tranh cãi lâu như tín điều Vô Nhiêm Thai của Đức Maria. Nguyên tắc nền tảng của tín điều là sự mặc khải được dựa trên sự liên kết chặt chẽ của Mẹ Thiên Chúa với chương trình cứu độ của Đức Kitô.

-----------Theo "Tiền Phúc Âm" - (Protoevangelium), thì Thân Mẫu Đấng Messia là kẻ thù của "con rắn" (St 3,15) và vì thế Người không bị đặt dưới quyền lực của ma quỷ qua tội nguyên tổ được. Trong lời truyền tin của Thiên thần, Đức Mẹ đã được xưng nhận là Đấng đầy ơn phúc (x. Lc 1,28), Đấng được chính Thiên Chúa kén chọn để giao cho sứ mệnh làm Mẹ Con Một của Người. Từ nền tảng Kinh Thánh này, các thánh Giáo Phụ đã tuyên xưng Đức Mẹ ngay từ thế ký II là "Êvà mới" bên cạnh Đức Kitô, A-dong mới. Đức tin và sự vâng phục của Đức Mẹ đã quân bình được điều Eva gây ra do sự bất phục tòng của bà. Sự công bố long trọng tước hiệu "Mẹ Thiên Chúa" tại Công đồng Ephesus năm 431 đã kêu mời sự tin nhận Đức Maria là Đấng "hoàn toàn tinh tuyền" và Đấng "hoàn toàn thánh thiện".

-----------Từ thế kỷ VI, Giáo Hội mừng kính Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời – xuất phát từ phía đông đế quốc Roma - Nhờ vào sự liên kết đặc biệt của Người với công trình cứu chuộc của Đức Kitô, Đức Maria không thể bị rơi vào vòng hư nát của thể xác phàm nhân, mà tội A-dong đã gây ra. Sự so sánh Êvà-Maria, lời ngợi khen Mẹ Thiên Chúa và việc cử hành việc Đức Mẹ được rước về Trời là nền tảng cho sự phát biểu về nguồn gốc thánh thiện của Đức Maria trong Giáo Hội Đông Phương. Bằng chứng thứ nhất về tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời được tìm thấy trong một bài giảng của Đức Giám Mục Theotechnus thành Livias (ngày nay thuộc nước Gio-đan) vào thế kỷ thứ VI(2).

-----------Thiếu nữ Bernadette (14 tuổi) đã được nhìn thấy Đức Mẹ
-----------Trong khi đó ở Tây phương, lời phát biểu của thánh Augustinô (429) lại mang tính cách khác. Khi phát biểu về Đức Maria, thánh nhân không muốn đề cập đến vấn đề tội lỗi, mặc dù quan điểm thánh nhân về vấn đề tội nguyên tổ nơi Đức Maria cũng không "tích cực" lắm(3). Từ thế kỷ VIII, Giáo Hội Đông Phương theo lễ nghi Hy Lạp mừng Lễ Đức Mẹ được cưu mang trong cung lòng thánh nữ Anna vào ngày 9 tháng 12. Từ thế kỷ XI Lễ này cũng được bắt đầu mừng ở Tây Phương theo lễ nghi La-tinh, khởi đầu từ Anh Quốc. Đan sĩ Eadmer thuộc Dòng Biển Đức, một học trò của thánh Anselm Canterbury (Tk. XII), là nhà thần học đầu tiên đã đề cập rõ ràng về sự thụ thai hoàn toàn không vướng mắc nguyên tội của Mẹ Thiên Chúa.
Trong khi đó, đa số các nhà thần học thời Trung cồ, đặc biệt thánh Tôma Aquinô và thánh Bonaventura, đã không đồng ý quan điểm như thế về Vô Nhiễm Thai của Đức Maria, nhưng cho rằng Đức Mẹ đã được thánh hóa ngay lập tức khi được cưu mang trong cung lòng thân mẫu Mẹ, vì theo các ngài, là một thành phần nhân loại, Đức Maria cũng cần sự cứu rỗi của Đức Kitô. Nghĩa là trong một khoảnh khắc ngắn ngủi nào đó, Đức Maria cũng vướng mắc tội nguyên tổ.

-----------Điểm đột phá thần học rõ ràng và dứt khoát nhất về đặc sủng Vô Nhiễm Thai của Đức Maria là do Duns Scotus (+1308), nhà thần học người Anh thuộc Dòng Phan-xi-cô, phát động. Ông dựa trên tư tưởng "tiền cứu rỗi", qua đó Đức Maria – nhờ vào công nghiệp cứu chuộc của đức Kitô trong tương lại - đã hoàn toàn được gìn giữ khỏi nguyên tội ngay trước khi Mẹ được thụ thai.

-----------Dựa vào thế giá thánh Tôma Aquinô, các nhà thần học Dòng Đa-minh đã trong một thời gian dài gắt gao chống lại sự xác tín lan tràn rộng rãi trong Giáo Hội chủ trương rằng Đức Mẹ đã được thụ thai mà không hề vương vấn nguyên tội; vì theo họ, nếu chủ trương như thế thì Đức Mẹ không được hưởng ơn cứu độ của Đức Kitô. Nhưng ngay trong hàng ngũ các thầy Dòng Đa-minh con số những người ủng hộ quan điểm "Immaculata Conception" mỗi ngày mỗi tăng. Từ thế kỷ XIV, các phân khoa thần học của các đại học danh tiếng ở Âu Châu – khởi đầu từ đại học Sorbonne ở Paris (Pháp), cũng như đại học Köln, Mains (Đức) và Wien (Áo), v.v… - chỉ cấp văn bằng đại học cho những sinh viên đồng thuận với giáo huấn Đức Mẹ Vô Nhiễm. Sự định nghĩa có tính cách tín lý về sự Vô Nhiễm Thai của Đức Maria đã được đề xuất trong Công đồng Basel năm 1439, nhưng về sau vì không được đa số các nghị phụ đồng ý nên Đức Giáo Hoàng tuyên bố vô hiệu lực. Nhưng từ thế kỷ XV trở đi, các Đức Giáo Hoàng đều cổ vũ mỗi ngày một hơn việc tổ chức mừng lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm. Do đó, vào năm 1708, Đức Clemens XI đã cho mừng khắp nơi trong toàn Giáo Hội. Dĩ nhiên, Sách Lễ Dòng Đa-minh có bản văn riêng, và trong đó ghi: "sự giải thoát của Đức Maria khỏi nguyên tội sau khi linh hồn được phó vào trong thể xác". Nhưng cuối cùng, vào năm 1842, câu văn này hoàn toàn bị loại bỏ. Bề Trên Cả Dòng Đa-minh xin phép cho Dòng của ngài cũng được mừng kính Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm cùng với toàn thể Giáo Hội.

caoduc
09-09-2008, 09:47 AM
----------- Về phía Tòa Thánh luôn luôn ủng hộ sự xác tín phổ cập trong Giáo Hội về đặc sủng Vô Nhiễm Thai của Đức Maria. Đức Giáo Hoàng Sixtus IV nghiêm cấm tất cả những chống đối cho rằng giao huấn về sự Vô Nhiễm Thai của Đức Maria là lạc đạo. Còn thánh Giáo Hoàng Piô V, một thầy Dòng Đa-minh, cấm đưa giáo huấn ra bàn cãi một cách công khai, ngoại trừ ở các đại học. Năm 1661 Đức Giáo Hoàng Alexandre VII đã ban hành một Sắc Chỉ nêu lên những yếu tố quan trọng, như một chuẩn bị cho định tín năm 1854.


----------- Vào đầu thế kỷ XIX tín điều vẫn còn bị chống đối nơi một số người thuộc phái Jansénistes (phái Khắc Khổ) ở Pháp, bởi vì theo họ thì sự phát triển thần học của Giáo Hội đã được khép lại với thời thượng cổ (thánh Augustinô). Phái Jansénistes ngày xưa cũng có thể so sánh với một số các nhà thần học ngày nay đã giới hạn việc phát triển các tín điều lại trong thiên niên kỷ thứ nhất mà thôi. Nhưng đại đa số trong Hội đồng Giám Mục Đức và các phân khoa thần học trong vùng lãnh thổ nói tiếng Đức – dĩ nhiên không hẳn vì lý do đại kết Kitô giáo – đã tỏ thái độ hoàn toàn lạnh nhạt với khuynh hướng của các nhà thần học đó.

-----------Bởi vậy, khi giáo sư thần học Georg Hermes (đh. Köln/Đức) và các học trò của ông tuyên truyền sự hoài nghi về đặc sủng vô nhiễm thai của Đức Maria, thì vào năm 1837 Đức Tổng Giám Mục Köln đã đòi buộc các Linh mục trong Giáo phận của ngài phải tuyên tín giáo huấn đó trên giấy tờ hẳn hoi. Ngoài ra, việc công bố cách long trọng tín điều đã được cổ vũ nhờ lời đề nghị của thánh Leonhard Porto Maurizio (1751) triệu tập một "Công đồng bằng văn thư", tức Đức Thánh Cha thăm dò ý kiến của các Giám Mục trên thế giới. Trong thế ký XVII và XVIII, các vua Tây Ban Nha luôn luôn cố gắng vận động ban hành tín điều.

-----------Vào năm 1840, 51 Giám Mục người Pháp đã đệ trình Đức Giáo Hoàng Grêgôriô XVI thỉnh nguyện thư xin ban hành thành tín điều. Và sau đó các Giám Mục khác cũng đồng thuận như vậy. Ngoài ra, từ năm 1834 một số lớn các vị Hồng Y, Giám Mục và các Dòng Tu (kể cả Dòng Đa-minh) đã xin Đức Grêgôriô đưa tĩnh từ "vô nhiễm" vào trong Kinh Tiền Tụng ngày Lễ Đức Maria được cưu mang và vào trong Kinh Cầu Đức Bà: "Nữ Vương chẳng hề mắc tội tổ tông", một điều mà các thầy Dòng Phan-xi-cô đã làm từ lâu. Đến năm 1847 thì các sách phụng vụ do Đức Piô X ban hành đều có thêm vào trong Kinh Tiền Tụng va Kinh Cầu Đức Bà tước hiệu Đức Mẹ Vô Nhiễm.


----------- Hiện tượng này đã làm sống động lại tinh thần sống đạo sốt sắng trong Giáo Hội Công Giáo, mà những biến động bất ổn của thời phục hưng cũng như cuộc cách mạng Pháp làm vùi lấp đi. Kho tàng truyền thống của Giáo Hội đặc biệt về Đức Kitô và Đức Maria lại được tái khám phá. Nhiều Dòng Tu mới thành lập đã đề cao lòng sùng kính Đức Mẹ. Biến cố chủ chốt chính là biến cố Đức Mẹ hiện ra cùng thánh nữ Catharina Labouré ở đường "Rue du Bac" ở Paris (1830), trong đó Đức Mẹ đã tự giới thiệu trên bức "Ảnh Đức Mẹ Ban Ơn" với Lời Kinh: "Lạy Đức Maria Vô Nhiễm, xin cầu cho chúng con những kẻ chạy đến nương ẩn nơi Mẹ." Ngoài ra còn có vô số tác phẩm thần học đã đóng góp vào công cuộc soạn sửa cho định tín về Đức Mẹ Vô Nhiễm, trong đó phải kể trước hết công trình đặc khảo của Linh mục Dòng Tên Giovanni Perrone năm 1847.


----------- Từ năm 1848 các Ủy Ban Toà Thánh đã chính thức bắt đầu nghiên cứu vấn đề. Năm 1849, Đức Giáo Hoàng IX đã yêu cầu các Đức Giám Mục trên khắp thế giới cho biết ý kiến về định tín có thể sẽ được công bố. Trong số 603 vị trả lời, có 546 vị ủng hộ việc đưa đặc sủng Vô Nhiễm Thai của Đức Maria đặt thành tín điều. Trong số 57 vị Giám Mục còn lại, thì chỉ có 8 vị là hoàn toàn chống lại việc ban bố tín điều; số các vị còn lại hoặc giữ thái độ trung lập hoặc cho rằng việc lập thành tín điều là quá vội vàng. Dĩ nhiên, tất cả các Giám Mục đều chứng nhận rằng Dân Chúa khắp nơi xác tín rất sâu xa về sự Vô Nhiễm Thai của Đức Maria.


3. Nội dung ý nghĩa của tín điều
-----------Cuối cùng, vào ngày 8.12.1854, qua Sắc Chỉ "Ineffablis Deus", tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Thai đã được long trọng công bố:

-----------"Do quyền năng của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, của hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô và do quyền năng của Ta, Ta giải thích, tuyên bố và minh định rằng giáo huấn cho rằng Đức Trinh Nữ Rất Thánh Maria nhờ ơn thánh và lòng ưu ái đặc biệt của Thiên Chúa Toàn Năng dựa vào công nghiệp Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc nhân loại, đã được giữ gìn tinh tuyền trước vết nhơ tội nguyên tổ, được Thiên Chúa mặc khải và vì thế đòi buộc mọi tín hữu phải tin một cách chắc chắn và bền vững"(4).
----------- Tín điều nhấn mạnh đến việc Đức Maria được gìn giữ hoàn toàn trước tội nguyên tổ. Sắc lệnh của Công đồng Trient về tội nguyên tổ đã định nghĩa: "Tội lỗi là sự chết của linh hồn" (peccatum, quod mors est animae)(5). Sự ghi nhận này người ta có thể tìm gặp trong Công Nghị Orange II năm 529(6) và trong các tác phẩm của thánh Augustinô. Các Giáo Phụ Hy-lạp cũng đồng một quan điểm như thế về hậu quả của tội nguyên tổ. Khác với Luther, một thầy Dòng Augustin và là cha đẻ của hệ phái Tin Lành ở Đức, Công đồng Trient phân biệt giữa tội nguyên tổ và khuynh hướng phạm tội (concupiscence), điều mà thánh Phaolô thỉnh thoảng cũng gọi là "tội"(7), nhưng đó không phải là "tội thực sự", nhưng là khuynh hướng "do tội gây ra và hướng chiều về tội"(8). Tridentinum cho rằng tội riêng của con cháu A-dong là hậu quả của ảnh hưởng tội nguyên tổ, là "sự di truyền của A-dong", và cuộc sống xum họp thân giao với thiên Chúa trên Thiên đàng được đánh dấu bằng ý niệm "sự công chính và thánh thiện"(9), điều mà thánh Phaolô cũng đề cập trong Thư Êphêsô (4,24) như là tình trạng của những người đã được chịu Phép Thánh Tẩy.

-----------Điều quan trọng đáng ghi nhận ở đây là tính cách đặc biệt về việc gìn giữ khỏi tội nguyên tổ "nhờ ơn thánh và lòng ưu ái đặc biệt của Thiên Chúa Toàn Năng" (singulari omnipotentis Dei gratia et privilegio)(10). Ở đây, người ta tự hỏi: Phải chăng đặc sủng này chỉ dành cho một mình Đức Maria mà thôi? Sắc Chỉ "Ineffabilis Deus" đã khẳng định rõ ràng là đặc sủng đó chỉ dành cho Mẹ Thiên Chúa mà thôi, và ngoài Đức Maria không một tạo vật nào được hưởng đặc sủng đó. Tuy nhiên, Đức Piô IX đã không công bố dự kiến xác định tính cách đặc thù tuyệt đối của việc Đức Mẹ Vô Nhiễm. Vì lý do đó, nên những ý kiến ngông cuồng quá khích cho rằng cả Thánh Giuse cũng được ơn vô nhiễm thai, đã không bị kết án một cách công khai.


----------- Nhưng trong Thông điệp "Fulgens Corona" dịp kỷ niệm 100 năm tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm (1953), Đức Piô XII đã tuyên bố rõ ràng rằng ơn Vô Nhiễm là "đặc ân duy nhất không được dành cho bất cứ ai khác ngoài Đức Maria ra." Cuối cùng, bản văn của tín điều đã nhấn mạnh rằng việc Đức Maria được gìn giữ khỏi tội nguyên tổ là "nhờ vào công nghiệp của Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc nhân loại".

-----------Như thế, Đức Maria không bị loại trừ khỏi sự cứu rỗi, nhưng là hiện thực một cách trọn vẹn nhất công trình cứu độ của Đức Kitô. Vì thế, Sắc Chỉ "Ineffabilis Deus" đã nhấn mạnh: "Rất Thánh Trinh Nữ Maria và Mẹ Thiên Chúa, nhờ vào công nghiệp của Chúa Cứu Thế, đã không hề bị vướng mắc tội nguyên tổ, nhưng đã được gìn giữ khỏi vết nhơ tội nguyên tổ ngay trước được cưu mang".

-----------Bởi vậy, biến cố Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức được coi là ấn tín của trời cao chuẩn y ơn vô ngộ của Đức Giáo Hoàng, mặc dù định tín đã được "Công đồng bằng văn thư" của các Đức Giám Mục trên thế giới nhất trí ủng hộ. Đồng thời biến cố Đức Mẹ hiện ra cũng là một cú đòn đánh vào những trào lưu thế tục chống báng Thiên Chúa và Giáo Hội do các ảnh hưởng thời phục hưng để lại. Trong một bài báo vào năm 1870, giáo sư thần học tín lý Mathias Joseph Scheeben, đại học Köln, đã gọi ơn vô ngộ của Đức Giáo Hoàng mà Công đồng Vatican I xác định, và tín điều về Đức Mẹ được Đức Piô IX công bố trước đó là hai "phương dược chính chữa lành cho những sai lầm cơ bản của thời đại chúng ta hôm nay: Chủ nghĩa tự nhiên, cùng với chủ nghĩa duy trí và chủ nghĩa tự do"(11).


----------- Tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm đồng thời còn là sao mai của ơn thánh trên bầu trời của thế kỷ XIX, là ngôi sao đã loan báo trước "mặt trời ơn thánh xuất hiện trong xác phàm"; còn "ngai toà vô ngộ của Đấng Kế Vị Đức Kitô" là "sao hôm phản chiếu lại trọn vẹn ánh sáng của mặt trời chân lý vĩnh cửu đã lặn khỏi mặt đất", hầu ngăn chặn không để bóng tối vô đạo trở lại trên nhân loại nữa(12). Theo giáo sư Scheeben, hai ngôi sao đã nhận lãnh được "ánh sáng từ Đức Kitô, mặt trời ơn thánh và mặt trời chân lý"(13). Cả hai tín điều trình bày tính cách siêu nhiên của Kitô giáo một cách rõ ràng cụ thể. Với hai ngôi sao sáng chói đó, những tín hữu Công Giáo có thể chiến thắng được "hoả ngục và tinh thần thế tục" đang tự huỷ diệt "trong sự tự phụ về bản chất, lý trí và sự tự do của mình". Bởi vì, chủ nghĩa tự do cũng đã thấm nhiễm vào nhiều người Công Giáo, nhất là tại Đức, nên một sự suy niệm sâu xa về tính chất siêu nhiên của Kitô giáo là một điều hết sức quan trọng (14).

Sang vip boy
09-09-2008, 05:51 PM
Anh lấy thông tin đâu mà nhiếu vậy?
Để em còn biết mà tìm.

caoduc
11-09-2008, 09:25 AM
4. Nội dung sứ điệp Đức Mẹ Lộ Đức
-----------Nếu tại Lộ Đức, Đức Mẹ đã tự giới thiệu là "Đấng Vô Nhiễm", là Trinh Nữ và Mẹ Thiên Chúa Vô Nhiễm Nguyên Tội, thì đó không phải là một sứ điệp lẻ loi riêng biệt, nhưng là tột đỉnh của toàn diện biến cố Lộ Đức. Khởi đầu là lời kêu mời ăn năn sám hối và quay trở về cùng Thiên Chúa. Điều đó được đánh dấu trước hết bằng những đòi hỏi khẩn thiết của Đức Maria vào ngày 24 tháng 2.:


"Hãy ăn năn đền tội, hãy ăn năn đền tội, hãy ăn năn đền tội"
"Hãy cầu nguyện cùng Thiên Chúa cho những kẻ tội lỗi được ơn ăn năn trở lại!"

-----------Và Đức Mẹ nói riêng cùng Bernadette:


"Con hãy cúi mình xuống và hãy hôn mặt đất như là một việc đền bù cho các kẻ có tội."

-----------Sự tinh tuyền không chút bợn nhơ của Đức Maria là một hình ảnh đầy hy vọng chống lại tội lỗi đã từng hạ nhục con người và đồng thời đưa dẫn con người bước đi trên một con đường dốc đầy nguy hiểm. Và tận cùng của con đường này là sự tiêu diệt đời đời, nếu con người không hồi tâm ăn năn trở về cùng Thiên Chúa. Lời kêu mời sám hối phù hợp với lời rao giảng của Đức Giêsu: "Thời kỳ đã mãn, Nước Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng!" (Mc 1,15). Nơi Đức Maria, hình ảnh con người còn mang đầy tính chất nguyên thuỷ của nó như Thiên Chúa muốn, tức không vướng mắc tội lỗi. Nơi Mẹ, "Êvà mới", lại tỏa sáng ơn Thiên đàng và đạt tới sự viên mãn trọn vẹn. Chân lý về Đức Maria như là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội đã củng cố sự can đảm của chúng ta, hầu cùng với ơn Chúa chúng ta có thể thoát khỏi được sự dữ và sống trong niềm hân hoan của Thiên Chúa.

-----------Sứ điệp sám hối vào ngày 25 tháng 2 liên kết chặt chẽ với sự đòi hỏi: "Con hãy đi đến nguồn nước, hãy múc nuớc mà uống và hãy tắm rửa trong đó! Con hãy ăn các cây cỏ mà con tìm thấy mọc ở nơi đó!"

-----------Để làm cho nguồn nước có thể phun chảy lên được, Bernadette đã phải lấy tay đào đất đầy bùn và sau nhiều lần tìm cách làm cho nước chảy ra từ cái vũng đất do em đào lên, Bernadette đã làm bẩn cả mặt mũi. Nhưng khi em bắt đầu ăn các cỏ dại mọc gần đó, nhiều người đã cho em là điên khùng. Nhưng em đã chấp nhận sự hiểu lầm đó của mọi người như của lễ đền bù và cầu nguyện cho kẻ có tội biết ăn năn trở lại.

-----------Còn việc tắm rửa trong nước từ nguồn nước mà Đức Mẹ làm cho vọt chảy lên qua trung gian của Bernadette, nhắc nhủ đến Phép Rửa ăn năn sám hối của Gioan Tẩy Giả, Đấng đã đến để dọn đường cho Đức Giêsu trong lòng con người. Nước là tượng trưng cho sự tinh luyện cần thiết khỏi tội lỗi, nhưng đồng thời cũng là biểu hiệu của sự sống mới trong ơn thánh, một sự sống được ban cho nhờ Bí tích Rửa Tội. Ai đi hành hương Lộ Đức, sẽ canh tân lại ơn Rửa Tội, nhất là khi người đó chịu Bí tích Thống Hối. Nước là biểu hiệu cho sự sống sung mãn của ơn thánh phù hợp với cuộc sống thần linh mà Đức Maria đã được nhận lãnh ngay từ trước khi Mẹ được cưu mang, nhờ vào công cuộc cứu chuộc trong tương lai của Đức Giêsu, Con Mẹ. Trong đặc sủng Vô Nhiễm Thai của Đức Maria, mục đích sự ăn năn trở lại của chúng ta tỏa sáng lên, tức trở thành những con người mới, được Đức Kitô cứu rỗi.

5. Những biểu hiệu đặc trưng của Đức Mẹ Lộ Đức
-----------Chính biến cố hiện ra của Đức Maria cũng cho thấy rằng đặc sủng Vô Nhiễm Thai đã rực sáng lên trong vẻ đẹp thiêng liêng của Thiên đàng. Mẹ Thiên Chúa đã hiện ra với Bernadette như một thiếu nữ trẻ, mĩm cười và được bao bọc bởi một luồng ánh sáng huyền nhiệm. Đức Mẹ mặc áo trắng với dây thắt lưng màu xanh da trời, trên tay mang một tràng chuỗi Mân Côi màu trắng, trên hai chân điểm hai nụ hoa hồng màu vàng cùng mầu với dây tràng chuỗi Mân Côi. Tâm hồn Đức Maria đầy tràn ơn thánh - vì Mẹ được vô nhiễm nguyên tội – đã toả ra qua sự kiều diễm bên ngoài của Mẹ, đó điều mà Bernadette đã ghi nhận được một cách rõ ràng.

-----------Màu áo trắng Đức Maria mặc trên mình muốn nói lên sự tinh tuyền thuần khiến của con người Mẹ, không hề vướng mắc bất cứ vết nhơ tội lỗi nào, nhưng đồng thời cũng nói lên rằng Mẹ đã hiện đến từ Trời Cao. Trong Kinh Thánh Tân Ước, màu "áo trắng" là tượng trưng cho sự hiển dung của Đức Giêsu và đồng thời cũng là biểu hiệu cuộc sống thánh thiện tinh tuyền của các Thiên thần và các thánh trên Thiên đàng. Tiếp đến, màu trắng, mầu của ánh sáng tinh tuyền, là dấu hiệu của tính cách siêu thoát cao thượng và của niềm hân hoan, của sự tinh tuyền và của sự vinh hiển vĩnh cửu. Vì thế, mầu trắng là mầu phù hợp với Đức Maria nhất, Đấng được cưu mang vô nhiễm nguyên tội và là Đấng đã được đón nhận vào trong sư vinh hiển của Thiên đàng. Tiếp đến, mầu xanh dương cũng là một mầu tượng trưng cho Trời. Còn vàng là một dấu hiệu của sự cao quý nội tâm và phẩm hàm vương đế. Phẩm hàm vương đế và sự tham dự vào niềm hân hoan Thiên đàng đặt nền tảng trên đặc sủng độc nhất vô nhị của Mẹ, đó là Mẹ được cưu mang mà không hề bị nhiễm mắc nguyên tội và sự cộng tác bản thân của Mẹ vào trong công trình cứu chuộc của Ngôi Hai Thiên Chúa.

----------- Còn hoa hồng cũng là một biểu tượng nói lên sự Vô Nhiễm Thai. Hơn nữa, hoa hồng cũng là biểu tượng quen thuộc trong thời thượng cổ nơi nhà thi sĩ và là Giáo Phụ La-tinh Sedulius Caelius vào thế kỷ V. Bài thơ thời danh của ngài về "Con Chiên Phục Sinh" (Paschale carmen) được coi như việc diễn giải Kinh Thánh bằng thơ thành công nhất của thời hậu cổ đại. Sedulius ước mong không chỉ những Kitô hữu, nhưng cả những người ngoại giáo biết làm cho con đường đức tin chân chính trở nên êm ái dễ chịu bằng tính chất yêu kiều đáng yêu của những vần thơ. Dựa vào công trình cứu độ của Đức Kitô, Sedulius cũng đưa ra một sự đối chiếu giữa Êvà và Đức Maria. Trong đó, ông trình bày Đức Maria như một bông hồng dịu dàng, tuy trổ sinh giữa những gai nhọn, nhưng vẻ kiềi diễm của Mẹ không hề bị sây sát thương tổn gì cả. Và như là Êvà mới Mẹ đã thanh tẩy những lầm lỗi của bà Êvà qua việc sinh hạ Đức Kitô(15). Sự tinh tuyền vẹn toàn của "Êvà mới" được coi như sự trang bị cần thiết để cộng tác vào công trình cứu độ của Đức Kitô. Trên thực tế, Đức Maria đã được nhận lãnh ơn thánh của Đức Kitô ngay trước khi sự sống của Mẹ được bắt đầu hình thành trong cung lòng thân mẫu Mẹ, hầu về sau trong vai trò là Mẹ Thiên Chúa và là Người đồng công cứu chuộc của Đức Kitô, Mẹ có thể cứu giúp được "mọi con cái Êvà đang bị lưu đày". Vậy, mục đích của ơn Vô Nhiễm chính là sự trang bị ơn thánh cho sự cộng tác của Đức Maria trong chương trình cứu độ của Đức Kitô.

----------- Lời Kinh Thánh nói về "bông hồng giữa bụi gai" quả là một sự trình bày có tính cách thi vị tuyệt vời về sự tinh tuyền thanh khiết của Đức Maria. Ngoài ra, trong nghệ thuật thời Kitô giáo sơ khai, hoa hồng được biểu tượng là hình ảnh của Thiên đàng. Vẻ dịu dàng đáng yêu và sự sung mãn huy hoàng của nó còn làm cho hoa hồng thành hình ảnh của sự huyền nhiệm. "Hoa hồng mầu nhiệm" (Rosa mystica) cũng là một tước hiệu quen thuộc để xưng tụng Đức Maria trong Kinh Cầu Đức Bà. Trong Sách Huấn Ca hình ảnh Đức Maria cũng được nhắc tới, khi nói về Đức Khôn Ngoan - được trình bày có tính cách biểu tượng như hình ảnh người phụ nữ - mọc lên tươi xinh "như khóm hồng ở Giê-ri-cô" (Hc 24,14, bản Vulgata: quasi plantatio rosae in Jericho).

-----------Sau cùng, một dấu chỉ về sự Vô Nhiễm Nguyên Tội còn biểu hiện ra trong ngày Truyền Tin, 25 tháng 3, ngày Thiên Chúa loan báo cho Đức Maria về chương trình giáng thế làm người của Đức Kitô, và trong đó Mẹ giữ vai trò chủ động khi Mẹ tự nguyện chấp thuận bằng hai tiếng "xin vâng" việc thụ thai Con Một Thiên Chúa do quyền năng Chúa Thánh Thần. Vì cũng chính Chúa Thánh Thần, Đấng đã gìn giữ Mẹ khỏi vết nhơ tội nguyên tổ ngay trước khi Mẹ được cưu mang. Như vậy, cả hai thực tại - đặc sủng vô nhiễm và việc thụ thai Con Thiên Chúa – hoàn toàn liên hệ mật thiết với nhau, vì cùng do sự tác động của Chúa Thánh Thần.

----------- Qua tiếng "xin vâng" của mình, Đức Maria xuất hiện như "Êvà mới" thực sự. Vì những gì bà Êvà đã "trói buộc lại" qua sự bất tuân phục của mình, thì Maria, "Êvà mới", lại "tháo gỡ ra" qua sự tuân phục của mình. Đức Maria, "Êvà mới", luôn đứng bên cạnh Đức Kitô, "A-dong mới", Đấng đã chiến thắng được Sa-tan và tội lỗi.

-----------Vậy, tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm là một minh chứng hùng hồn về tâm hồn "đầy ơn phúc" của Đức Maria (Lc 1,28). Nhưng sự đầy ơn phúc không gì khác hơn là mặt trái tích cực của cuộc sống không hề bị vướng mắc vào vết nhơ của tội nguyên tổ. Vì thế, lời tự giới thiệu của Đức Maria: "Ta là Đấng Vô Nhiễm" phù hợp một cách tuyệt diệu với ngày công bố ơn cứu độ của Thiên Chúa, ngày Lễ Truyền Tin.
(Kỷ niệm 150 năm Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức: 1858-2008)
Lm Nguyễn Hữu Thy