PDA

View Full Version : Bao dung nhân hậu noi gương Đức Giêsu - Suy niệm CN XXIV TN C



phale
14-09-2013, 01:08 PM
BAO DUNG NHÂN HẬU NOI GƯƠNG ĐỨC GIÊSU
Suy niệm CN XXIV TN C



Lm Đan Vinh


SUY NIỆM:
Khi thấy Đức Giê-su tiếp đón và ngồi ăn đồng bàn với những người thu thuế tội lỗi thì các người pha-ri-sêu và các kinh sư liền lẩm bẩm phê phán Người. Để trả lời cho họ, Đức Giê-su đã kể ra ba dụ ngôn về tình thương của Thiên Chúa đối với các tội nhân: Một là con chiên bị lạc, hai là đồng bạc bị mất và ba là người cha bao dung để tư đó mời gọi mọi người phải noi gương Thiên Chúa đối xử bao dung với các tội nhân có lòng sám hối.

1) Tinh thương bao dung của Thiên Chúa đối với các tội nhân thể hiện qua hai tháiđộ của Đức Giê-su như sau:

a) Không bỏ rơi nhưng ra sức đi tìm: Đức Giê-su là mục tử tốt lành biết rõ và gọi tên từng con chiên (x Ga 10,14), đến để cho chiên được sống và sống dồi dào(x Ga 10,10). Con người thật là đáng quí trước mặt Người. Người tìm kiếm conngười và không muốn một ai bị hư mất. Như người mục tử tốt lành không đành bỏ rơi một con chiên lạc, nhưng quyết tâm đi tìm cho tới khi tìm thấy (x Lc 15,4);Như người đàn bà có mười quan tiền mà bị rớt một đồng, đã không bỏ mặc, nhưng đốt đèn, quét nhà quyết tìm cho bằng được (x Lc 15,8); Như người cha có hai đứa con trai, đã không bỏ mặc đứa con thứ bất hiếu bỏ nhà đi hoang, nhưng hằng ngày mong chờ no sớm hồi tâm trở về (x Lc 15,20).

b) Vui mưng khi tìm thấy và chia sẻ niềm vui với người chung quanh: Đức Giê-su là hiện thân lòng từ bi thương xót của Thiên Chúa khi không muôn tội nhân bị hư mất nhưng muốn họ ăn năn sám hối và được sống. Người vui mừng đón tiếp người tội lỗi sám hối trở về:

Người giống như một mục tử tốt lành khi đã tìm thấy con chiên lạc, liên vui mừng vác nó trên vai đưa về đàn. Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại và nói: “Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó” (Lc15,5-6); Người cũng có thái độ giống như người đàn bà kia sau khi tìm thấyquan tiền bị mất, đã chia sẻ niềm vui với người xung quanh: “Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được đồng quan tôi đã đánh mất” (Lc15,9); Người giống như người cha nhân lành trong dụ ngôn, hằng ngày chờ mong đứa con đi hoang trở về, và khi thấy bóng nó từ đàng xa, đã chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ nó và hôn lấy hôn để. Rồi không để cho nó nói hết câusám hối đã tha thứ và trả lại hết nhưng quyên lợi nó bị mất khi bỏ nhà đi hoang: “Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng ! Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy” (Lc15,20-24).

2) Chúng ta phải làm gì để noi gương nhân hậu của Đưc Giê-su ?
- Thực ra con chiên lạc, đồng bạc mất và cả đứa con hoang đàng đều không đáng để chủ nhân phải hành động “điên rồ”: người chăn chiên phải bỏ lại chín mươi chín con chiên khác; người phụ nữ phải vất vả thắp đèn, quét nhà, moi móc từng góc nhà; người cha phải suốt ngày đứng tựa cửa, héo hắt chờ đợi. Nhưng ở đây phải xét theo giá trị tình thương: Sở dĩ con chiên, đồng bạc hay người con cógiá trị lớn lao là nhờ tình thương của chủ nhân dành cho chúng. Nói cách khác: giá trị của chúng được đo bằng thước đo tình thương hơn bằng giá trị vật chất. Mối tương quan thân thiết và tấm lòng yêu thương của chủ nhân trong ba dụ ngôn nói trên đều phản ảnh tình yêu bao dung của Thiên Chúa đối với tội nhân. Dù chúng ta đã cố tình bỏ nhà đi hoang thì Thiên Chúa vẫn không bỏ rơi chúng ta. Ngài đã dùng nhiều người nhiều cách để tìm kiếm chúng ta và mong chúng ta mau hồi tâm trở về với Ngài. Ngài và cả triều thần thiên quốc đều vui mừng khi thấy các tội nhân thực tâm sám hối như người cha nói với anh con cả trong dụ ngôn: “Nhưng chúng ta phải ăn mừng và hoan hỷ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy” (Lc 15,32).

- Trong cuộc sống đời thường, chúng ta thường có thái độ giống như biệt phái và Kinh sư Do thái khi hay xét đoán và kết án lỗi lầm của tha nhân. Nhưng Tin Mừng hôm nay cho thấy thái độ của Đức Giê-su thật từ bi nhân hậu: Người cảm thông khi sẵn sàng ngồi đồng bàn với các người thu thuế tội lỗi. Người chọn một người thu thuế tên là Lê-vi vào số mười hai Tông đồ. Người bênh vực người phụ nữ phạm tội ngoại tình khỏi bị ném đá chết. Chỉ có một tội không bao giờ được tha là “xúc phạm đến Chúa Thánh Thần” của các người Pha-ri-sêu và Kinh sư Do thái, khi họ cố chấp không tin nhận Đức Giê-su là Đấng Thiên Sai và không gia nhập vào Nước Trời do Người thiết lập.

- Nếu Thiên Chúa đã tỏ lòng từ bi nhân hậu tha thứ tội lỗi chúng ta, thì Người muốn mỗi người chúng ta cũng phải sẵn sàng tha thứ các tội xúc phạm của tha nhân đối với chúng ta,như người cha trong dụ ngôn đã yêu cầu người anh cả hãy tiếp nhận đứa em đã phạm tội bỏ nhà đi hoang. Trong thực tế, người ta chỉ dễ tha thứ lỗi lầm của kẻ khác khi ý thức được tình trạng tội lỗi của mình. Có nhận mình cũng là tội nhân, người ta mới dễ cảm thông và tha thứ cho kẻ khác.Chúng ta đừng đòi kẻ có tội phải bị trừng phạt thì mới hài lòng. Mụcsư Mác-tin Lu-thơ Kinh (Martin Luther King) đã nói như sau: “Nếu cứ áp dụng luật “mắt đền mắt” thì chắc mọi người đã trở thành những kẻ mù lòa từ lâu rồi !”.

- Phải tha thứ thế nào? : Một phóng viên đã hỏi Tổng thống A Lincoln là ông sẽ đối xử thế nào đối với dân Miền Nam sau khi cuộc nội chiến tại Hoa Kỳ chấm dứt ? Ông liền trả lời rằng: “Tôi sẽ đối xử với họ như họ chưa bao giờ bỏ nhà ra đi”. Đây cũng chính là cách đối xử của Thiên Chúa đối với các tội nhân. Người sẵn sàng tha thứ, “phục hồi trọn vẹn” cho Phê-rô, như thể ông chưa bao giờ phạm tội chối Thầy. Đây cũng chính là cung cách chúng ta phải cư xử với những kẻ có lỗi với chúng ta: phải sẵn sàng tha thứ vô điều kiện để đem họ về với Chúa, cư xử với họ với một tình thương bao dung như Thiên Chúa đã đối xử nhân từ bao dung với chúng ta như lời kinh Lạy Cha: “Và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con” (Mt 6,12). Vì nếu chúng ta đối xử với tha nhân thế nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đối xử với chúng ta như thế như lời Đức Giê-su : “Anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong cho anh em đấu ấy” (Mt 7,2).

4. THẢO LUẬN: Giả như bạn là người anh cả trong dụ ngôn hôm nay thì bạn sẽ làm gì: vào nhà cha để cùng tham dự bữa tiệc vui đón đứa em đi hoang trở về, hay đứng bên ngoài kêu trách lòng nhân hậu của Cha, như các người Pha-ri-sêu và kinh sư xưa đã làm ?

5. NGUYỆN CẦU:- LẠY CHA.Chúng con thường hay cư xử như người con thứ trong bài dụ ngôn khi muốn tự do bay nhảy ngoài vòng tay che chở của Cha. Nhưng chính sự tự do ấy đã biến chúng con trở thành nôlệ cho ma quỷ, thế gian và xác thịt mình, và những hạnh phúc do thế gian ban tặng cuối cùng cũng chỉ là thứ hạnh phúc bọt bèo chóng qua. Cũng như người con thứ trong bài Tin mừng hôm nay, chúng con bỗng cảm thấy mình bị rơi xuống hố sâu tội lỗi và nếm mùi đau khổ cùng cực.

- LẠY CHA đầy lòng bao dung nhân hậu.Xin dẫn dắt chúng con mau quay về với Cha, giúp chúng con năng điều chỉnh những sai lỗi. Xin hãy nâng chúng con mau trỗi dậy vì tin rằng tình thương của cha còn lớn gấp muôn ngàn lần những tội lỗi của chúng con.Ước gì vấp ngã sẽ làm chúng con nên trưởng thành hơn, thấy được sự mỏng dòn yếu đuối của bản thân và cảm nghiệm được lòng bao dung nhân hậu của Cha. Ước gì sau mỗi lần được Cha tha thứ, chúng con cũng biết đối xử bao dung hơn đối với những kẻ đã xúc phạm đến chúng con.