| Messages older than 504 hours are automatically pruned from ChatBox. |
| Giờ |
User |
Bài viết |
|
|
08-03, 00:00
|
|
|
Chúa Giêsu đáp: “Hỡi bà, hãy tin Ta, vì đã đến giờ người ta sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải ở trên núi này hay ở Giêrusalem. Các người thờ Ðấng mà các người không biết, còn chúng tôi thờ Ðấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ từ dân Do-thái mà đến. Nhưng đã đến giờ, và chính là lúc này, những kẻ tôn thờ đích thực, sẽ thờ Chúa Cha trong tinh thần và chân lý, đó chính là những người tôn thờ mà Chúa Cha muốn. Thiên Chúa là tinh thần, và những kẻ tôn thờ Người, phải tôn thờ trong tinh thần và trong chân lý”. Người đàn bà thưa: “Tôi biết Ðấng Messia mà người ta gọi là Kitô sẽ đến, và khi đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự”. Chúa Giêsu bảo: “Ðấng ấy chính là Ta, là người đang nói với bà đây”.
|
|
|
|
07-03, 23:59
|
|
|
Chúa Giêsu bảo: “Bà hãy đi gọi chồng bà rồi trở lại đây”. Người đàn bà đáp: “Tôi không có chồng”. Chúa Giêsu nói tiếp: “Bà nói “tôi không có chồng” là phải, vì bà có năm đời chồng rồi, và người đàn ông đang chung sống với bà bây giờ không phải là chồng bà, bà đã nói đúng đó”. Người đàn bà nói: “Thưa Ngài, tôi thấy rõ Ngài là một tiên tri. Cha ông chúng tôi đã thờ trên núi này, còn các ông, các ông lại bảo: phải thờ ở Giêrusalem”.
|
|
|
|
07-03, 23:58
|
|
|
Người đàn bà nói: “Thưa Ngài, Ngài không có gì để múc, mà giếng thì sâu, vậy Ngài lấy đâu ra nước? Phải chăng Ngài trọng hơn tổ phụ Giacóp chúng tôi, người đã cho chúng tôi giếng này và chính người đã uống nước giếng này cũng như các con cái và đoàn súc vật của người?” Chúa Giêsu trả lời: “Ai uống nước giếng này sẽ còn khát, nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì không bao giờ còn khát nữa, vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời”. Người đàn bà thưa: “Thưa Ngài, xin cho tôi nước đó để tôi chẳng còn khát và khỏi phải đến đây xách nước nữa”.
|
|
|
|
07-03, 23:57
|
|
|
Một người đàn bà xứ Samaria đến xách nước, Chúa Giêsu bảo: “Xin bà cho tôi uống nước” (lúc ấy, các môn đệ đã vào thành mua thức ăn). Người đàn bà Samaria thưa lại: “Sao thế! Ông là người Do-thái mà lại xin nước uống với tôi là người xứ Samaria?” (Vì người Do-thái không giao thiệp gì với người Sa-maria). Chúa Giêsu đáp: “Nếu bà nhận biết ơn của Thiên Chúa ban và ai là người đang nói với bà: “Xin cho tôi uống nước”, thì chắc bà sẽ xin Người, và Người sẽ cho bà nước hằng sống”.
|
|
|
|
07-03, 23:57
|
|
|
Khi ấy, Chúa Giêsu tới một thành gọi là Sykar thuộc xứ Samaria, gần phần đất Giacóp đã cho con là Giuse, ở đó có giếng của Giacóp. Chúa Giêsu đi đường mệt, nên ngồi nghỉ trên miệng giếng, lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu.
|
|
|
|
07-03, 23:56
|
|
|
|
|
07-03, 23:56
|
|
|
Lạy Chúa Thánh Thần, Đấng khơi lên trong tâm hồn con người niềm khát khao Thiên Chúa, xin đến và mở lòng chúng con trước Lời Chúa hôm nay. Xin giúp chúng con nhận ra “nguồn nước hằng sống” mà Chúa Giêsu muốn trao ban, để tâm hồn chúng con được đổi mới và đầy tràn sự sống.
|
|
|
|
07-03, 23:55
|
|
|
Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen.
|
|
|
|
07-03, 23:55
|
|
|
Cầu nguyện. Chúa Nhật Tuần III Mùa Chay Năm A.
|
|
|
|
06-03, 22:43
|
|
|
Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen.
|
|
|
|
06-03, 22:43
|
|
|
Ước gì mỗi ngày sống của con trở thành hành trình trở về, để con luôn ở lại trong tình yêu của Cha. Amen.
|
|
|
|
06-03, 22:43
|
|
|
Xin biến đổi trái tim con nên giống trái tim của Cha: một trái tim biết cảm thông, biết vui mừng khi người khác được tìm lại.
|
|
|
|
06-03, 22:43
|
|
|
Con cũng nhận ra hình ảnh người con cả trong chính mình: những lúc so sánh, những lúc khó chấp nhận khi người khác được tha thứ.
|
|
|
|
06-03, 22:42
|
|
|
Tin Mừng hôm nay nhắc con rằng trái tim Cha vẫn luôn mở rộng. Con muốn can đảm đứng dậy và trở về. Con muốn đặt lại cuộc đời mình trong tay Cha.
|
|
|
|
06-03, 22:42
|
|
|
Có những lúc con đi xa khỏi Cha bằng những lựa chọn ích kỷ, bằng sự thờ ơ với Lời Chúa, bằng những điều con biết là không đúng.
|
|
|
|
06-03, 22:42
|
|
|
Lạy Chúa là Cha giàu lòng thương xót, con nhận ra mình nhiều lần giống người con thứ: muốn sống theo ý riêng, quên mất tình yêu và sự chăm sóc của Cha.
|
|
|
|
06-03, 22:41
|
|
|
|
|
06-03, 22:41
|
|
|
Thiên Chúa không ngừng chờ đợi. Điều Ngài mong mỏi không phải là lời giải thích dài dòng, mà là bước chân quay về.
|
|
|
|
06-03, 22:40
|
|
|
Câu chuyện không chỉ nói về hai người con, nhưng còn đặt mỗi người chúng ta vào đó. Có lúc ta giống người con thứ – lạc xa và cần trở về. Có lúc ta giống người con cả – ở gần nhưng lòng lại khép kín.
|
|
|
|
06-03, 22:40
|
|
|
Người con cả lại đại diện cho một thái độ khác. Anh ở gần cha, làm việc chăm chỉ, nhưng trong lòng vẫn đầy so sánh và trách móc. Anh sống trong nhà cha mà chưa thật sự hiểu trái tim của cha.
|
|
|
|
06-03, 22:40
|
|
|
Điều đáng chú ý là người cha không đợi con về đến cửa nhà mới ra đón. Khi còn ở đàng xa, ông đã trông thấy, chạy đến ôm lấy con và hôn nó hồi lâu. Tình thương ấy vượt xa mọi tính toán công bằng.
|
|
|
|
06-03, 22:39
|
|
|
Người con thứ đã đòi phần gia tài và ra đi. Cậu muốn sống tự do theo ý mình. Nhưng khi xa nhà, tự do ấy nhanh chóng trở thành cô đơn và túng thiếu. Đến lúc phải chăn heo và đói khát, cậu mới bắt đầu “hồi tâm”.
|
|
|
|
06-03, 22:39
|
|
|
Dụ ngôn người cha nhân hậu là một trong những trang Tin Mừng đẹp nhất về lòng thương xót của Thiên Chúa.
|
|
|
|
06-03, 22:38
|
|
|
|
|
06-03, 22:38
|
|
|
“Người con cả đang ở ngoài đồng. Khi về gần đến nhà, nghe tiếng đàn hát và nhảy múa, anh gọi một tên đầy tớ để hỏi xem có chuyện gì. Tên đầy tớ nói: “Ðó là em cậu đã trở về và cha cậu đã giết con bê béo, vì thấy cậu ấy trở về mạnh khoẻ”. Anh liền nổi giận và quyết định không vào nhà. Cha anh ra xin anh vào, nhưng anh trả lời: “Cha coi, đã bao nhiêu năm con hầu hạ cha, không hề trái lệnh cha một điều nào, mà không bao giờ cha cho riêng con một con bê nhỏ để ăn mừng với chúng bạn; còn thằng con của cha kia, sau khi phung phí hết tài sản của cha với bọn điếm nay trở về, thì cha lại sai làm thịt con bê béo ăn mừng nó”. Nhưng người cha bảo: “Hỡi con, con luôn ở với cha, và mọi sự của cha đều là của con. Nhưng phải ăn tiệc và vui mừng, vì em con đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy”.
|
|
|
|