CHƯƠNG VII
MỘT VỤ THƯ ẾM VÀO
GIỮA THẾ KỶ XX
MỘT CUỘC GẶP GỠ KỲ LẠ
Trước khi đề cập đến chính nội dung chủ đề chương này, tôi xin mạn phép đưa ra đây một sự kiện hoàn toàn có tính cách cá nhân. Đang khi bận viết cuốn sách này, thì tôi nhận được lá thư của một linh mục mà tôi chưa hề quen biết, và linh mục này hoàn toàn không biết tôi đang viết một tác phẩm nói về ma quỷ. Linh mục đó cũng vừa đọc một tác phẩm về chủ đề này, và viết thư cho tôi, một cách ngẫu nhiên, để giới thiệu với tôi tài liệu riêng của cha. Ngài nói với tôi:
_ Đương nhiên là con có những hồ sơ ấy.
_ Được rồi, tôi sẽ đọc những hồ sơ của cha, cha hãy đến gặp tôi nhé!
Việc đó tôi tưởng là khó xảy ra, nhưng thực sự cha đó đã tới. Hồ sơ của cha là những tài liệu hết sức quí giá. Cha đã phải mãnh liệt đương đầu với Satan suốt 6 năm nay. Qua người phụ nữ bị bỏ bùa ở Plaisance được đề cập ở chương trước, chúng ta thấy cuộc chiến đấu đó dữ dằn như thế nào. Thế kỷ chúng ta có khuynh hướng nghi ngờ sự hiện hữu của Satan, cũng như đã nghi ngờ biết bao chuyện khác, nhưng thế kỷ này cũng có những bằng chứng về sự hiện hữu của nó, về sức mạnh và hành động của nó, về những phương pháp mà nó dùng khi được Thiên Chúa cho phép, về những tình trạng khủng khiếp mà nó có thể gây ra cho một nạn nhân khốn khổ nào đó của nó.
Tôi được phép cho biết tên của "nhân chứng" đã đương đầu với Satan vào thời đại mà chúng ta đang sống đây. Đó là cha Berger-Bergès, ở Chavagne-en-Pailler thuộc tỉnh Vendée.
Vì chính cha không xuất bản cuốn sách nào cả, nên cha đã nhờ tôi nói thay cho cha rằng cha sẵn sàng trình bày trước bất kỳ một cử toạ nào về những phép trừ quỷ mà cha có nhiệm vụ phải làm trong 6 năm qua, và vào lúc tôi viết bài này, thì cha vẫn đang tiếp tục nhiệm vụ ấy.
Tôi đã tham khảo, đọc qua, đồng thời ghi chú về những hồ sơ ấy, nhưng dĩ nhiên ở đây tôi chỉ có thể đưa ra một cái nhìn bao quát và ngắn gọn về những tài liệu đó thôi.
Đàng khác, tôi không thể ghi rõ tên tuổi của những người có liên quan đến những câu chuyện đó, mà chỉ ghi chữ đầu trong tên của họ, và cũng không chỉ rõ nơi những câu chuyện ấy xảy ra.
Có những trường hợp trừ quỷ tương đối dễ dàng và thành công nhanh chóng. Nhưng cũng có những trường hợp phức tạp hơn, lâu có kết quả hơn. Dường như trong những trường hợp trừ quỷ khó khăn này, như trường hợp ở Plaisance, mỗi lần nhờ việc trừ quỷ mà nạn nhân bớt đau khổ hơn, dễ chịu hơn, thì chỉ ít lâu sau, chứng quỷ nhập tái diễn và trở nên nặng nề hơn, vì những phù phép gây ra chứng quỷ nhập đó lại được người ta thực hiện ở xa.
Trong tất cả những hồ sơ mà tôi đã xem qua, tôi chỉ giữ lại một hồ sơ, vì nó có tính cách tiêu biểu đặc biệt. Đó là hồ sơ nói về trường hợp quỷ nhập của bà G., một người có gia đình và có một cô con gái nhỏ. Hồ sơ này có không dưới 145 tình tiết xảy ra từng đợt từ 14.9.1953 đến 5.2.1959, hiện nay (năm 1959), lúc tác giả viết cuốn sách này vẫn còn đang tiếp diễn.
Nhưng trước tiên, chúng tôi phải nói câu chuyện xảy ra ngay từ đầu như thế nào.
Để làm việc này, chúng tôi dựa vào những ghi chép riêng của người chồng nạn nhân. Cách nói, cách trình bày câu chuyện là của chúng tôi, còn tất cả mọi chi tiết, tình tự đều là của ông ta. Và để cho bài tường thuật sinh động hơn, chúng tôi sẽ trình bày như chính ông ta tự thuật, dùng chính những từ ngữ của ông được chừng nào có thể.
MỆT MỎI QUÁ SỨC
Ông G. kể lại: "Lúc đó là tháng 9.1950, con gái của chúng tôi là Annie, 2 tuổi, bị chứng mất ngủ. Từ lúc cháu sinh ra, hầu như vợ tôi luôn luôn phải thức trắng đêm với cháu. Nàng cảm thấy mệt mỏi toàn diện, khiến nàng lo lắng đến nỗi chúng tôi phải cầu cứu tới bác sĩ: nàng không còn muốn làm một việc gì nữa, lúc nào cũng thấy mệt mỏi, người thì gầy hẳn đi, lại hay bị chóng mặt... Tuy nhiên, bác sĩ vẫn trấn an. Theo bác sĩ, tình trạng hiện tại không có gì nghiêm trọng cả. Chỉ cần yên tĩnh, ăn uống và ngủ nghỉ đầy đủ; muốn thế, phải để nàng sống trong một căn nhà yên tĩnh để an dưỡng tối thiểu là 3 tuần.
Nói thì quả là hay lắm, dễ lắm, nhưng chúng tôi đâu có bảo hiểm xã hội. Vợ tôi lại chưa bao giờ rời khỏi căn nhà mà hai vợ chồng tôi sống từ hồi nào đến giờ. Vả lại, việc sống ở ngoài rất tốn kém. Vì thế chúng tôi quyết định bỏ qua ý kiến của bác sĩ. Ba tuần trôi qua, tình trạng sức khoẻ của vợ tôi không có gì khả quan hơn. Một hôm lên thành phố, tôi gặp một bạn gái của vợ tôi hỏi thăm tin tức gia đình tôi. Tôi đã kể hết sự tình, và chị ta trả lời: 'Tại sao anh lại không tới ông B.? Ông ấy đang chữa trị cho con trai tôi, cháu bị đau thần kinh, và tôi rất hài lòng. Con trai tôi bây giờ đã ăn ngon ngủ yên, những khủng hoảng thần kinh hầu như biến mất hoàn toàn'. Nghe chị ta nói chắc chắn như thế, mừng quá, tôi hỏi chị xem ông B. ở đâu. Dường như đó là một thầy lang vườn, rất nổi tiếng trong khắp vùng đó. Chị ấy bảo tôi: 'Thứ bảy nào ông ta cũng tới S.J. và chữa bệnh suốt ngày. Anh thử tới đó xem, không tốn kém gì đâu!'. Nhưng người bạn gái tốt bụng này còn nói thêm, không có vẻ coi chuyện mình nói tới là quan trọng: 'Mới đầu ông ta làm tôi sợ: lần đầu tôi tới đó với cháu nhỏ, ông ta cắt của cháu một mớ tóc và cầm nó giữa các ngón tay. Ông vừa vân vê các ngón tay với nhau, vừa nói: 'Phải rồi, đúng là cháu bị bệnh thần kinh rồi!'. Cùng lúc đó một làn khói xanh từ các ngón tay của ông ta bốc lên!'.
Về tới nhà tôi nói tất cả những việc đó với vợ tôi. Chuyện làn khói xanh và mớ tóc bị cắt không làm cho nàng lo âu chút nào cả. Nàng không tin vào tất cả những chuyện đó. Vì thế chúng tôi quyết định tới ông ta vào thứ bảy kế đó. Nhưng vì lý do đột xuất, ông ta lại không tới S.J. để khám bệnh như thường lệ, nên tôi đã tới thăm mẹ tôi ngay hôm đó, mẹ tôi nói với chúng tôi: 'Ồ! Các con! Mẹ không muốn ngăn cản các con tới ông B. khám bệnh đâu! Nhưng các con biết, mẹ không tin tưởng hắn được. Gia đình hắn gồm toàn những người đểu cáng. Nếu có thể làm được thì hắn sẽ làm cho nửa vùng S.J. này toi mạng hết'.
Tuy vậy, tiếng báo động này không làm cho chúng tôi ngưng thực hiện ý định. Nên thứ bảy sau đó, chúng tôi tới bấm chuông nhà ông thầy lang nổi tiếng ấy.