Love Telling JB.Lưu Hùng Vương nhắn với TCVN: Happy Birthday lần thứ 12: Website https://thanhcavietnam.net 18.05.2007 -- 18.05.2019 cat nhắn với Bác gioanha: Hôm nay 27/12 Lễ kính Thánh Gioan - bổn mạng bác Gioanha. Xin Chúa chúc lành cho bác nhiều sức khỏe, nhiều niềm vui, mãi là tông đồ nhiệt thành phụng sự Chúa. An Phúc nhắn với Peter Nguyễn: Hôm nay 23.7, mừng ngày em thêm tuổi mới. Chúc em luôn vui khỏe và an bình. Nguyện xin Mẹ Maria cùng đồng hành với em trong cuộc sống. An Phúc nhắn với Peter Nguyễn: Em hiện tại bây giờ ở đâu? Hãy liên lạc với mình nhé. bethichconlua nhắn với DD TCVN: bé xin mến mời cả nhà cùng hiệp dâng giờ kinh nguyện. Tháng Hoa Kính Mẹ Maria. Vào lúc 11 giờ 30' trưa Việt Nam. Xin Mẹ thương chúc lành. Amen bethichconlua nhắn với TCVN: bethichconlua xin kính chúc toàn thể gia đình TCVN luôn tràn đầy ơn Chúa và luôn làm sáng danh Chúa. Amen onggiachonggay_99 nhắn với Gửi TCVN: Xin toàn thể gia đình TCVN cầu nguyện cho ông cố Giuse Dương Phách là nhạc Phụ của Già onggiachonggay_99 nhắn với Gửi Gia Đình TCVN: Xin toàn thể gia đình TCVN cầu nguyện cho ông cố Giuse Dương Phách là nhạc gia của Già cat nhắn với daohong2310: Chúc mừng bổn mạng bà quản daohong2310 (Thánh Rosa Lima Lễ nhớ ngày 23/8) phale nhắn với admin: Ngày 13/6 Lễ nhớ Thánh Antoine de Padoue. Chúc mừng bổn mạng admin. LUCIA_HUONG nhắn với TCVN: Lucia Nguyen xin Thien Chua và Mẹ Maria ban cho tất cả Quý OBACE được BÌNH AN trong tháng HOA của Mẹ . Thank mlien07 nhắn với Gia đình Thánh ca: Xin Chúa Phục Sinh luôn đồng hành cùng ACE trong mọi bước đường của cuộc sống. Xin cho chúng ta luôn sống và làm chứng cho Chúa Phục Sinh. Amen. JB.Lưu Hùng Vương nhắn với TCVN: Chúng con cậy vì danh Chúa nhân từ,  xin cho Linh hồn Đức Ông Phêrô Nguyễn Quang Sách được sớm hưởng phúc quê Trời. JB.Lưu Hùng Vương nhắn với TCVN: Chúng con cậy vì danh Chúa nhân từ, xin cho tôi tớ Chúa là Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Hòa được sớm hưởng phúc quê Trời. ThanhCaVN nhắn với Gia đình TCVN: Valentine's Day, kính chúc ACE luôn vững bền trong Tình Yêu ĐÃ - ĐANG và SẼ đoan hứa. ThanhCaVN nhắn với Gia đình TCVN: Kính chúc Quý Cha, Quý Tu sỹ Nam Nữ, Ca - Nhạc sỹ và ACE năm mới ĐINH DẬU: Tràn đầy HỒNG ÂN CHÚA bethichconlua nhắn với TCVN: Chúc cả nhà tràn đấy ơn Chúa mlien07 nhắn với Ace: Chúc anh chị em bình an đón Chúa đến vui vẻ. phale nhắn với F.X Nhatdong: Chúc mừng bổn mạng F.X Nhatdong! Chúc người tông đồ nhỏ mãi là tông đồ nhiệt thành! Ước mong em mãi yêu DĐTCVN và cùng chung tay xây dựng nhà nhỏ. JB.Lưu Hùng Vương nhắn với mimosa_jolly: MỪNG SINH NHẬT Chị mimosa_jolly

+ Trả lời chủ đề + Gửi chủ đề mới
kết quả từ 1 tới 5 trên 5

Chủ đề: BỐN BÀI GIÁO LÝ ĐẦU VỀ THÁNH PHAOLÔ CỦA ĐỨC THÁNH CHA BÊNÊĐICTÔ XVI

  1. #1

  2. #2
    Teacher's Mập
    Khách viếng
    Teacher's Mập's Avatar

    Default

    BÀI I








    THÁNH PHAOLÔ THÀNH TARSÔ

    Nhằm mục đích cung cấp cho các tín hữu Việt Nam những tài liệu để học hỏi về Năm Thánh Phaolô, chúng tôi xin giới thiệu bài huấn từ I của ĐTC Bênêđictô XVI về Thánh Phaolô trong buổi Triều Yết Chung tại Quảng Trường Thánh Phêrô, ngày 25 tháng 10, 2006.

    Anh Chị Em thân mến,

    Chúng ta đã kết thúc những bài suy niệm về Mười Hai Thánh Tông Đồ, là những vị được Chúa Giêsu trực tiếp gọi trong thời gian Người còn tại thế. Hôm nay chúng ta bắt đầu xem xét đến những khuôn mặt của những nhân vật quan trọng khác trong thời Hội Thánh thời Sơ Khai.
    Các ngài cũng đã hiến đời mình cho Chúa, cho Tin Mừng và cho Hội Thánh. Các ngài là những người nam hay nữ, như Thánh Luca đã viết trong sách Tông Đồ Công Vụ, “đã liều mạng vì Đức Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (15:26).
    Người đầu tiên đã được Chính Chúa, là Đấng Phục Sinh, gọi làm một Tông Đồ thật, chính là Thánh Phaolô thành Tarsô. Ngài nổi bật như một ngôi sao sáng nhất trong lịch sử Hội Thánh, nếu không nói là trong việc thành lập Hội Thánh. Thánh Gioan Kim Khẩu ca tụng ngài như một người cao trọng hơn nhiều thiên thần và tổng lãnh thiên thần (x. Panegirico, 7, 3). Dante Aligheiri trong Hài Kịch của Thiên Chúa (Divine Comedy), cảm hứng bởi câu truyện Thánh Luca kể trong Tông Đồ Công Vụ (x. 9:15), đã diễn tả ngài cách đơn giản là “cái bình được chọn” (inf. 2:28), có nghĩa là: một dụng cụ được Thiên Chúa chọn. Những người khác gọi ngài là “Vị Tông Đồ Thứ 13”, hay cách trực tiếp, “vị trước nhất sau vị Duy Nhất.”
    Chắc chắn rằng sau Chúa Giêsu, ngài là một trong những vị tiên khởi mà chúng ta biết nhiều nhất. Thực ra, chúng ta không những chỉ có câu truyện mà Thánh Luca viết trong sách Tông Đồ Công Vụ, mà còn cả một số Thư mà chính tay ngài viết, là những văn kiện trực tiếp tỏ lộ cá tính và tư tưởng của ngài mà không qua trung gian.
    Thánh Luca cho chúng ta biết tên ngài trước kia là Saulô (x. TĐCV 7:58; 8:1), cũng là Saulê trong tiếng Hipri (x. TĐCV 9:14, 17; 22:7, 13; 26:14), như Vua Saulê (x. TĐCV 13:21), và ngài là người Do Thái lưu vong, vì thành Tarsô tọa lạc giữa AnatoliaSyria.
    Ngài xuống Giêrusalem rất sớm để học tận gốc Luật Môsê theo chân Vị Thầy nổi danh là Gamalielê (x. TĐCV 22:3). Ngài cũng học một nghề thủ công và phổ thông, là đan lều (x. TĐCV 18:3), mà sau này giúp ngài tự cung cấp cho mình để không trở thành gánh nặng cho Hội Thánh (x. TĐCV 20:34; 1 Cor 4:12; 2 Cor 12:13).
    Thật là một bước quyết định cho ngài khi biết có một cộng đoàn của những người tự nhận là môn đệ của Chúa Giêsu. Ngài biết về Đức Tin nhờ họ - được gọi là một “đạo” mới – không đặt Lề Luật của Thiên Chúa ở trọng tâm mà lại đặt con người Giêsu, Chịu Đóng Đinh và đã Sống Lại, mà họ còn nối kết người ấy với việc tha tội. Là một người Do Thái cuồng tín, ngài cho rằng sứ điệp này không những không thể chấp nhận được, mà còn gây gương mù, nên ngài thấy có nhiệm vụ phải bắt bớ những người theo Đức Kitô ngay cả ở ngoài Giêrusalem.
    Chính trên đường đi Đamascô vào đầu thập niên 30 mà theo lời ngài thì “Đức Kitô đã làm cho tôi thuộc về Người” (Phil 3:12). Trong khi Thánh Luca kể lại sự kiện với nhiều chi tiết – như ánh sáng của Chúa Phục Sinh đã chạm đến ngài và biến đổi đời ngài tận căn bản thế nào -, trong các Thư ngài đi thẳng vào điểm căn bản mà không chỉ nói về thị kiến (x. 1 Cor 9:1), mà còn về một sự soi sáng (x. 2 Cor 4:6), và trên hết về một mặc khải và một ơn gọi trong cuộc gặp g với Đấng Phục Sinh (x. Gal 1:15-16).
    Thực ra, ngài sẽ định nghĩa cách dứt khoát mình là “một tông đồ bời ơn gọi” (x. Rom 1:1; 1 Cor 1:1) hay “tông đồ do Thánh Ý Thiên Chúa” (2 Cor 1:1; Eph 1:1; Col 1:1), để nhấn mạnh rằng cuộc trở lại của ngài không phải là kết quả của một sự mở mang tư tưởng hay suy tư, nhưng là kết quả của sự can thiệp của Thiên Chúa, một ân sủng không thể lường được của Ngài.
    Từ đó trở đi, tất cả những gì đối với ngài là có giá trị bị đảo lộn trở thành thua thiệt và phân bón (x. Phil 3:7-10). Và từ giây phút ấy, ngài dồn toàn lực vào việc phục vụ một mình Đức Chúa Giêsu Kitô và Tin Mừng của Người mà thôi. Sự hiện hữu của ngài phải trở nên sự hiện hữu của một vị Tông Đồ muốn “trở nên mọi sự cho mọi người” (1 Cor 9:22) mà không giữ lại điều gì cho mình.
    Từ đó chúng ta rút ra một bài học rất quan trọng: điều chính yếu là đặt Đức Kitô ở trọng tâm của đời sống mình, để căn tính của mình được đánh dấu cách rõ ràng bằng cuộc gặp gỡ [Đức Kitô], qua việc kết hiệp thông với Đức Kitô và với Lời của Người. Trong ánh sáng cùa Người các giá trị khác được phục hồi và được thanh luyện khỏi mọi cặn bã.
    Một bài học căn bản khác mà Thánh Phaolô chỉ cho chúng ta là chiều rộng phổ quát đánh dấu việc tông đồ của ngài. Vì cảm nhận cách sâu sắc vấn đề khó khăn của Dân Ngoại trong việc nhận biết Thiên Chúa, là Đấng ban ơn cứu độ trong Đức Chúa Giêsu Kitô Chịu Đóng Đanh và Sống lại cho mọi người không trừ ai, nên ngài hiến toàn thân để làm cho Tin Mừng này được nhân biết, để công bố ân sủng được tiền định để hòa giải con người với Thiên Chúa, với chính mình và với tha nhân.
    Ngay từ giây phút đầu tiên ngài đã hiểu rằng điều này là một thực thể không những chỉ liên hệ với dân Do Thái hay một nhóm người nào đó, nhưng là một thực thể có giá trị phổ quát và liên hệ với mọi người, vì Thiên Chúa là Thiên Chúa của mọi người.
    Điểm khởi hành của các cuộc hành trình truyền giáo của ngài là Hội Thánh ở Antiôkia nước Syria, nơi mà lần đầu tiên Tin Mừng được rao giảng cho người Hy Lạp và danh xưng “Kitô hữu” được đặt cho những người tin vào Đức Kitô (x. TĐCV 11:20,26).
    Từ đó, trước hết ngài đi Cyprus, rồi vào dịp khác, đến các miền của Tiểu Á (Pisidia, Laconia, Galatia), và sau đó đến các vùng ở Âu Châu (Maceđonia, Hy Lạp). Các thành phố thời danh nhất là Êphêsus, Phillipi, Thessalônica, Côrinthô, mà không quên Berêa, Athens và Milêtô.
    Trong việc tông đồ của Thánh Phaolô cũng không thiếu gì những khó khăn mà ngài đã can đảm đương đầu vì yêu mến Đức Kitô. Chính ngài đã nhắc lại phải chịu đựng “vất vả… tù đầy… đánh đập… nhiều lần chạm trán với tử thần…. Ba lần bị đánh đòn bằng roi, một lần bị ném đá, ba lần đắm tầu, trải qua một đêm và một ngày trên biển cả; phải thực hiện nhiều cuộc hành trình, gặp bao nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm vì Dân Ngoại, nguy hiểm ở thành phố, trong sa mạc, ngoài biển khơi, nguy hiểm do những kẻ giả danh là anh em; tôi còn phải vất vả mệt nhọc, thường phải thức đêm, bị đói khát, nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt trần truồng. Và không kể các điều khác, còn có những áp lực hằng ngày đè nặng trên tôi là mối bận tâm lo cho tất cả các Hội Thánh!(2 Cor 11;23-28).
    Từ một đoạn trong Thư gửi tín hữu Rôma (x. Rom 15:24, 28) xuất hiện một đề nghị của ngài là đi đến cả Tây Ban Nha, đến Phương Tây, để loan báo Tin Mừng khắp nơi, ngay cả đến tận chân trời mà người ta biết đến [vào thời đó]. Làm sao mà chúng ta không thán phục một con người như thế? Làm sao mà chúng ta không cảm tạ Thiên Chúa đã ban cho chúng ta một vị Tông Đồ có một tầm vóc như vậy?
    Chắc chắn rằng ngài đã không thể đương đầu với những khó khăn như thế và đôi khi trong hoàn cảnh tuyệt vọng nếu ngài đã không có một lý do để tin vào một giá trị tuyệt đối, mà trước giá trị ấy không một ngăn cách nào có thể được coi là không thể vượt qua được. Như chúng ta đã biết, đối với Thánh Phaolô lý do này là Đức Chúa Giêsu Kitô, mà ngài đã viết về Người như sau, “Tình yêu của Đức Kitô thúc đẩy chúng tôi… để những người đang sống không còn sống cho mình nhưng sống cho Đấng đã chết và sống lại vì họ” (2 Cor 5:14-15), vì chúng ta và vì tất cả mọi người.
    Thực ra, Thánh Tông Đồ đã làm chứng hùng hồn bằng máu của ngài dưới thời Hoàng Đế Nêrô ở đây, tại Rôma, là nơi mà chúng ta đang giữ và tôn kính hài cốt của ngài. Thánh Clêmentê thành Rôma, vị Tiền Nhiệm của tôi ở Tòa Thánh này, đã viết về ngài trong năm cuối cùng của thế kỷ thứ nhất: “Bởi vì lòng ghen tương và sự bất hòa mà Thánh Phaolô đã bắt buộc phải chỉ cho chúng ta làm thế nào để đạt được phần thưởng kiên nhẫn…. Sau khi rao giảng công lý cho toàn thế giới, và sau khi đã đến tận biên cương của Phương Tây, ngài chịu tử vỉ đạo trước các nhà cầm quyền chính trị; bằng cách ấy ngài từ bỏ cõi đời này và về đến nơi thánh, để trở thành mẫu gương cao quý về kiên trì” (Thư gửi tín hữu Côrinthô, 5).
    Nguyện xin Chúa giúp chúng ta thực hành lời khuyên nhủ mà Thánh Tông Đồ để lại cho chúng ta trong các Thư của ngài: “Anh chị em hãy bắt chước tôi, như tôi bắt chước Đức Kitô” (1 Cor 11:1).

    Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ
    thay đổi nội dung bởi: Teacher's Mập, 07-05-2009 lúc 07:16 PM

  3. #3
    Teacher's Mập
    Khách viếng
    Teacher's Mập's Avatar

    Default

    BÀI 2

    Nhằm mục đích cung cấp cho các tín hữu Việt Nam những tài liệu để học hỏi về Năm Thánh Phaolô, chúng tôi xin giới thiệu bài huấn từ II của ĐTC Bênêđictô XVI về Thánh Phaolô trong buổi Triều Yết Chung tại Quảng Trường Thánh Phêrô ngày 8 tháng 11, 2006

    NHÃN QUAN MỚI CỦA THÁNH PHAOLÔ


    Anh chị em thân mến:

    Trong bài giáo lý trước cách đây hai tuần, tôi đã cố gắng phác hoạ những nét chính yếu về tiểu sử Thánh Tông Đồ Phaolô. Chúng ta đã thấy cuộc gặp gỡ với Đức Kitô của ngài trên đường đi Đamascô đã thực sự cách mạng hóa đời sống của ngài thế nào. Đức Kitô đã trở nên lý do của sự sống còn của ngài và động cơ thâm sâu của tất cả các công việc tông đồ của ngài.

    Trong những thư của ngài, sau danh xưng Thiên Chúa, xuất hiện hơn 500 lần, thì danh xưng được nhắc tới thường xuyên nhất là Đức Kitô (380 lần). Do đó, điều quan trọng là chúng ta nhận ra rằng Đức Chúa Giêsu Kitô có thể ảnh hưởng cách sâu đậm thế nào đến đời sống của một người, và như thế, cũng ảnh hưởng đến đời sống chúng ta. Thực ra, lịch sử cứu độ đạt đến cao điểm nơi Đức Chúa Giêsu Kitô, và do đó Người là điểm phân biệt thật sự trong việc đối thoại với các tôn giáo khác.

    Khi nhìn vào thánh Phaolô, chúng ta có thể đưa ra câu hỏi căn bản: Việc gặp gỡ của một con người với Đức Kitô xảy ra thế nào? Mối liên hệ phát xuất từ cuộc gặp gỡ ấy gồm những gì? Câu trả lời của Thánh Phaolô có thể được hiểu trong hai giai đoạn.

    Trước hết, Thánh Phaolô giúp chúng ta hiểu giá trị căn bản và không thể thay thế được của Đức Tin. Ngài viết trong Thư gởi tín hữu Roma: “Thật vậy, chúng tôi tin rằng, người ta được nên công chính nhờ Đức Tin, chứ không phải vì làm theo Lề Luật” (3: 28).

    Đây là điều ngài viết trong Thư gởi tín hữu Galatê: “Người ta được nên công chính không nhờ làm theo Lề Luật, nhưng nhờ Đức Tin vào Đức Chúa Giêsu Kitô; nên ngay cả chúng ta cũng phải tin vào Ðức Chúa Giêsu Kitô, để được nên công chính nhờ đức tin vào Ðức Kitô, và không phải nhờ làm theo Lề Luật; vì không ai sẽ được nên công chính vì làm theo Lề Luật. (2:16)

    “Được nên công chính” nghĩa là được làm thành chính trực, được sự công minh đầy thương xót của Thiên Chúa chấp nhận để được đi vào sự hiệp thông với Ngài, và nhờ đó có khả năng thiết lập một mối liên hệ đích thực hơn nhiều với tất cả anh em chúng ta: và điều này xảy ra dựa trên việc [Thiên Chúa] hoàn toàn tha thứ các tội lỗi của chúng ta.

    Thánh Phaolô công bố thật rõ ràng rằng điều kiện này của đời sống không tùy thuộc vào những việc lành chúng ta có thể làm, nhưng hoàn toàn tùy thuộc vào ân sủng của Thiên Chúa: Chúng ta “được trở nên công chính nhờ ân sủng của Thiên Chúa như một ân huệ, nhờ ơn cứu độ trong Đức Chúa Kitô Giêsu” (Rom 3:24). Bằng những lời này, Thánh Phaolô diễn tả nội dung cơ bản của sự trở lại của ngài, chiều hướng mới của đời sống ngài là hiệu quả của cuộc gặp gỡ Đức Kitô Phục Sinh của ngài.

    Trước khi trở lại, Thánh Phaolô không phải là một con người xa lạ gì với Thên Chúa hay Lề Luật của Ngài. Trái lại, ngài là một ngươi trung thành tuân giữ Lề Luật đến độ cuồng tín. Tuy nhiên, trong ánh sáng của cuộc gặp gỡ Đức Kitô, ngài đã hiểu rằng với sự [cuồng tín] này ngài đã chỉ tìm cách gầy dựng cho mình, cùng sự công chính riêng của mình, và với tất cả sự công chính này ngài đã chỉ sống cho chính mình.

    Ngài đã ý thức rằng ngài tuyệt đối cần một hướng đi mới cho cuộc đời mình. Và chúng ta thấy hướng mới này được diễn tả bằng chính lời ngài: “Đời sống mà hiện nay tôi đang sống trong xác phàm, là sống trong Đức Tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu tôi và đã hiến chính Mình Người cho tôi” (Gal 2: 20).

    Cho nên, Thánh Phaolô không còn sống cho chính mình, hay cho sự công chính của mình nữa. Ngài sống cho Đức Kitô và với Đức Kitô: bằng cách hiến chính mình, ngài không còn tìm kiếm hay gầy dựng cho chính mình nữa. Đó là sự công chính mới, hướng đi mới mà Chúa đã ban cho chúng ta qua Đức Tin.

    Trước Thánh Giá của Đức Kitô, là cách diễn tả cực đoan nhất của sự hiến mình của Người, thì không ai có thể tự hào về mình, về sự công chính do mình tạo ra, cho chính mình! Nơi khác đi, khi nhắc lại lời ngôn sứ Giêremia, Thánh Phaolô giải thích tư tưởng ấy của ngài: “Ai tự hào thì hãy tự hào trong Chúa” (1 Cor 1: 31; Ger 9:22…); hoặc: Không đời nào tôi hãnh diện, ngoại trừ về thập giá Ðức Chúa Giêsu Kitô của chúng ta! Nhờ thập giá đó mà thế gian đã bị đóng đinh đối với tôi, và tôi đối với thế gian.”(Gal 6:14).

    Khi suy niệm về ý nghĩa của sự công chính hóa là gì, không bằng những việc làm nhưng bằng Đức Tin, chúng ta đi tới yếu tố thứ hai định nghĩa căn tính Kitô hữu được Thánh Phaolô diễn tả trong chính đời sống của ngài.

    Căn tính Kitô hữu này bao gồm cách chính xác hai yếu tố: việc tránh tự mình tìm kiếm chính mình, nhưng thay vào đó nhận lấy chính mình từ Đức Kitô và hiến dâng chính mình cùng với Đức Kitô, và như thế chúng ta đích thân tham gia vào sự sống của chính Đức Kitô đến nỗi hầu như được đồng hóa với Người, và chia sẻ cả sự chết cũng như sự sống của Người. Đây là điều Thánh Phaolô viết trong Thư gởi tín hữu Roma: “Tất cả chúng ta… đã được chịu Phép Rửa trong cái chết của Người… chúng ta đã cùng được mai táng với Người… chúng ta đã được kết hợp với Người… Vậy anh em cũng phải coi mình như đã chết với tội lỗi, và lại sống cho Thiên Chúa trong Đức Chúa Kitô Giêsu” (Rom 6:3,4,5,11).

    Chính những lời cuối cùng này có tính chất triệu chứng: thực ra, đối với Thánh Phaolô, nói rằng các Kitô hữu được chịu Phép Rửa hoặc là tin hữu thì chưa đủ; mà điều quan trọng là phải nói rằng họ đang sống “trong Đức Chúa Giêsu Kitô” (x. Rom 8: 1, 2, 39; 12: 5; 16: 3, 7, 10; 1 Cor 1: 2, 3 vv… ).

    Trong lúc khác đảo lộn từ ngữ lại và viết rằng “Đức Kitô ở trong chúng ta/anh chị em” (Rom 8:10; 2 Cor 13:5) hay “trong tôi”(Gal 2:20).

    Sự đồng hoá cách hỗ tương giữa Đức Kitô và Kitô hữu, một đặc điểm của giáo huấn của Thánh Phaolô, làm cho bài giảng của ngài về Đức Tin được hoàn hảo.

    Trên thực tế, mặc dầu Đức Tin kết hợp chúng ta mật thiết với Đức Kitô, Đức Tin cũng nhấn mạnh sự khác biệt giữa chúng ta và Người; nhưng theo Thánh Phaolô, đời sống Kitô hữu cũng có một yêu tố chúng ta cỏ thể gọi là “mầu nhiệm,” vì nó đòi hỏi một sự gắn bó chặt chẽ của chúng ta với Đức Kitô và của Đức Kitô với chúng ta. Theo nghĩa này, Thánh Tông Đồ đi xa hơn nữa đến nỗi diễn tả những đau khổ của chúng ta như là “những đau khổ của Đức Kitô” trong chúng ta (2 Cor 1:5), để chúng ta có thể “luôn [mang] trong thân xác sự chết của Chúa Giêsu, ngõ hầu sự sống của Chúa Giêsu cũng có thể được bày tỏ trong thân xác của chúng ta” (2 Cor 4:10).

    Chúng ta phải thích ứng tất cả những điều này vào đời sống thường nhật của mình theo gương Thánh Phaolô, là người luôn sống với trình độ linh đạo cao này. Ngoài ra, Đức Tin phải luôn bày tỏ đức khiêm nhường trước Nhan Thiên Chúa, thật sự là thờ phượng và ngợi khen Ngài.

    Quả thật, chính nhờ Thiên Chúa và chỉ nhờ ân sủng của Thiên Chúa mà chúng ta được làm Kitô hữu. Vì không có gì và không có ai có thể thay thế được Ngài, cho nên điều cần thiết là chúng ta không được tôn thờ bất cứ điều gì hay bất cứ ai ngoài Ngài. Không được để cho ngẫu tượng nào làm ô uế vũ trụ tinh thần của chúng ta, nếu không, thì thay vì vui hưởng sự tự do đã dành được, chúng ta sẽ lại rơi vào một hình thức nô lệ nhục nhã.

    Hơn nữa, sự tùy thuộc triệt để của chúng ta vào Đức Kitô và sự kiện “chúng ta ở trong Người” phải làm thấm nhuần trong chúng ta một thái độ hoàn toàn tín thác và niềm vui vĩ đại. Tóm lại, thực ra chúng ta phải kêu lên với Thánh Phaolô: “Nếu Thiên Chúa về phe chúng ta, thì ai có thể chống lại chúng ta được?” (Rom 8:31). Câu trả lời là không có gì và không ai “sẽ có thể tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa trong Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rom 8:39).Do đó, đời sống Kitô hữu chúng ta được dựa trên tảng đá vững chắc và an toàn nhất mà sức người có thể tưởng tượng được. Và từ đó chúng ta rút ra tất cả nghị lực của mình, hoàn toàn đúng như Thánh Tông Đô đã viết : “Tôi có thể làm được tất cả mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi” (Phil 4:13).

    Do đó, chúng ta hãy trực diện đời sống của chúng ta với những nỗi vui buồn của nó nhờ được nâng đỡ bởi những cảm tình nồng nhiệt này mà Thánh Phaolô đã ban tặng cho chúng ta. Qua việc có kinh nghiệm về những điều này, chúng ta sẽ nhận ra điều mà chính Thánh Tông Đồ đã viết là sự thật như thế nào: Cha biết cha đã tin vào ai, và xác tín rằng, Người có thể bảo toàn vật ký thác của cha cho đến Ngày đó” (2 Tim 1:12), ngày chúng ta chắc chắn được gặp Đức Kitô, Vị Thẩm Phán, Đấng Cứu Độ thế gian và chúng ta.

    Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ
    thay đổi nội dung bởi: Teacher's Mập, 04-05-2009 lúc 07:34 PM

  4. #4
    Teacher's Mập
    Khách viếng
    Teacher's Mập's Avatar

    Default

    BÀI 3
    THÁNH PHAOLÔ VÀ CHÚA THÁNH THẦN


    Nhằm mục đích cung cấp cho các tín hữu Việt Nam những tài liệu để học hỏi về Năm Thánh Phaolô, chúng tôi xin giới thiệu bài huấn từ III của ĐTC Bênêđictô XVI về Thánh Phaolô trong buổi Triều Yết Chung tại Quảng Trường Thánh Phêrô ngày 15 tháng 11, 2006.


    Anh chị em thân mến: Hôm nay cũng như hai bài Giáo Lý trước, chúng ta trở lại với Thánh Phaolô và những tư tưởng của ngài. Chúng ta có ở trước mặt mình một người phi thường, không chỉ vì những việc tông đồ ngài thực sự đã làm mà còn vì những giáo huấn thần học sâu sắc và cảm khích phi thường của ngài.
    Sau khi chúng ta đã suy niệm lần trước về những điều Thánh Phaolô đã viết về vị trí trọng tâm mà Đức Chúa Giêsu Kitô trong đời sống Đức Tin của chúng ta, hôm nay chúng ta hãy nhìn đến những gì thánh nhân đã nói về Chúa Thánh Thần và về sự hiện diện của Ngài trong chúng ta, bởi vì ở đây, Thánh Tông Đồ cũng có những điều rất quan trọng để dạy chúng ta.
    Chúng ta biết về những gì Thánh Luca nói cho chúng ta về Chúa Thánh Thần trong bài diễn tả về biến cố Ngũ Tuần trong Sách Tông Đồ Công Vụ. Chúa Thánh Thần của Lễ Ngũ Tuần mang theo với Ngài một sự thúc đẩy mạnh mẽ về quyết tâm truyền giáo để làm chứng cho Tin Mừng trên khắp các nẻo đường thế gian.
    Thật vậy, Sách Tông Đồ Công Vụ kể lại hàng loạt những cuộc truyền giáo mà các Tông Đồ đã thực hiện, đầu tiên ở Samaria, rồi ở vùng ven biển Palestine, sau đó đến Syria. Trên hết là việc kể lại ba cuộc hành trình truyền giáo vĩ đại của Thánh Phaolô mà tôi đã nhắc đến trong những lần gặp gỡ vào các thứ tư trước.
    Tuy nhiên, trong các Thư của ngài, Thánh Phaolô cũng nói cho chúng ta về Chúa Thánh Thần từ một khía cạnh khác. Thánh nhân không kết thúc bằng cách chỉ diễn tả động lực và bình diện tích cực của Ngôi Ba của Thiên Chúa Ba Ngôi, nhưng cũng phân tích sự hiện diện của Ngài trong đời sống của các Kitô hữu, là điều đánh dấu căn tính của họ.
    Nói cách khác, trong suy tư của Thánh Phaolô về Chúa Thánh Thần thánh nhân không những giải thích ảnh hưởng của Ngài trên hành động của các Kitô hữu, mà còn trên con người của họ. Thật vậy, chính thánh nhân là người đã nói rằng Thần Khí Thiên Chúa ngự trong chúng ta (x. Rom 8:9; I Cor 3:16) và rằng “Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con Ngài vào lòng chúng ta (Gal 4:6).
    Cho nên theo ý kiến của Thánh Phaolô thì Chúa Thánh Thần tác động tận đáy lòng chúng ta. Đây là môt số lời của ngài về đề tài này là đề tài có một ý nghĩa quan trọng: “Vì luật của Thần Khí ban sự sống trong Ðức Giêsu Kitô đã giải phóng tôi khỏi luật của tội lỗi và sự chết… anh em đã không nhận được thần khí nô lệ làm cho anh em lại phải sợ hãi, nhưng anh em đã nhận Thần Khí làm nghĩa tử, bởi đó cho chúng ta kêu lên, ‘Abba! Lạy Cha!’, chính Chúa Thánh Thần” (Rom 8:2,15) là Đấng nói trong chúng ta bởi vì, như là con cái, chúng ta có thể gọi Thiên Chúa “Lạy Cha”.
    Như thế chúng ta có thể thấy rõ ràng rằng ngay trước khi làm việc gì, người Kitô hữu đã có một nội tâm phong phú và hữu hiệu được Thiên Chúa ban cho qua Bí Tích Thánh Tẩy và Thêm Sức, một nội tâm đưa người ấy vào một liên hệ nghĩa tử khách quan và độc đáo với Thiên Chúa. Đó là giá trị cao quý nhất của chúng ta: không những chỉ là hình ảnh mà còn là con cái của Thiên Chúa. Và đó cũng là một lời mời gọi chúng ta sống xứng đáng là con cái, càng ngày càng ý thức rằng mình là nghĩa tử trong gia đình vĩ đại của Thiên Chúa. Đó là một lời mời gọi chúng ta biến đổi ân huệ khách quan này thành một thực thể chủ quan và quyết định cho cách chúng ta suy nghĩ, hành động và sống.



    Thiên Chúa coi chúng ta là con cái Ngài, đã nâng chúng ta lên giống Chính Chúa Giêsu, là Con thật của Thiên Chúa, nếu không phải là đồng phẩm giá với Người. Địa vị làm con và sự tự do đáng tin cậy của chúng ta trong tương quan với Chúa Cha được ban tặng hay phục hồi nơi Người.

    Như thế chúng ta khám phá ra rằng đối với các Kitô hữu, Chúa Thánh Thần không còn chỉ là “Thần Khí của Thiên Chúa”, như được diễn tả trong Cựu Ước và như người ta vẫn còn nhắc lại trong ngôn ngữ Kitô giáo (x. Stk 41:38; Xh 31:3; I Cor 2:11, 12; Phil 3:3;…). Ngài cũng không còn là “Thánh Khí” mà người ta thường hiểu trong Cựu Ước (x. Is 63:10,11; Tv 50[51]:13), và trong các bản văn của chính Đạo Do Thái (Qumran, rabbinism).

    Thực thế, việc tuyên xưng một sự chia sẻ Thánh Thần nguyên thủy này bởi Chúa Phục Sinh, chính là Đấng trở nên một “Thần Khí ban sự sống” (I Cor 15:45), là một phần của nét đặc trưng của Đức Tin Kitô giáo.

    Chính vì lý do đó mà Thánh Phaolô đã nói thẳng về “Thần Khí của Đức Kitô” (Rom 8:9), về “Thần Khí của Con Ngài” (x. Gal 4:6) hay là “Thần Khí của Đức Chúa Giêsu Kitô” (Phil 1:19). Có vẻ thánh nhân muốn nói rằng không phải chỉ Thiên Chúa Cha được thấy nơi Chúa Con (x. Ga 14:9), nhưng Thần Khí của Thiên Chúa cũng tự tỏ Mình ra trong cuộc đời và hành động của Chúa Chịu Đóng Đinh và Phục Sinh!

    Thánh Phaolô dạy chúng ta một điều quan trọng khác: ngài nói rằng không có cầu nguyện thật nếu Chúa Thánh Thần không hiện diện trong chúng ta. Thánh nhân viết: “Thần Khí cũng giúp đỡ sự yếu đuối của chúng ta; vì chúng ta không biết phải cầu nguyện thế nào như chúng ta phải cầu nguyện, nhưng chính Thần Khí cầu bầu cho chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả. Và Ðấng thấu suốt tâm can biết Thần Khí muốn gì, vì Ngài cầu bầu cho các thánh theo ý của Thiên Chúa” (Rom 8:26-27).

    Nói như thế cũng giống như nói rằng Chúa Thánh Thần, là Thần Khí của Chúa Cha, và Chúa Con, từ nay trở đi thành linh hồn của linh hồn chúng ta, là nơi kín đáo nhất của con người chúng ta, mà từ đó phát sinh một sức thúc đẩy chúng ta cầu nguyện không ngừng với Thiên Chúa, mà ngay cả Lời Ngài chúng ta không thể bắt đầu giải thích được.

    Thực ra, Chúa Thánh Thần luôn tỉnh thức trong chúng ta, hoàn bị hoá những gì còn thiếu xót nơi chúng ta và dâng lên Đức Chúa Cha việc tôn thờ và những khát vọng sâu xa nhất của chúng ta.

    Đương nhiên là điều này đòi hỏi một mức độ hiệp thông cao cả và sống còn với Chúa Thánh Thần. Đó là một lời mời gọi trở nên nhạy cảm hơn với, và chú ý hơn đến sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong chúng ta, để biến đổi sự hiện diện này thành cầu nguyện, để cảm thấy sự hiện diện này, và nhờ đó học cầu nguyện, thưa chuyện với Chúa Cha như con cái trong Chúa Thánh Thần.

    Còn một diện đặc thù khác về Chúa Thánh Thần mà Thánh Phaolô dạy cho chúng ta: Sự liên hệ của Ngài với tình yêu. Như Thánh Tông Đồ đã viết: “hy vọng không làm chúng ta thất vọng, vì tình yêu của Thiên Chúa đã được đổ vào tâm hồn chúng ta, qua Chúa Thánh Thần mà Ngài đã ban cho chúng ta” (Rom 5:5).

    Trong Thông Điệp Thiên Chúa Là Tình Yêu của tôi, tôi đã dẫn chứng một đoạn văn hùng hồn nhất của Thánh Augustinô: “Nếu bạn thấy bác ái, bạn thấy Chúa Ba Ngôi (Số 19), và tôi đã giải thích tiếp: “Thực ra, Chúa Thánh Thần là sức mạnh nội tâm làm cho trái tim các tín hữu hòa hợp với Thánh Tâm Đức Kitô và đưa họ đến yêu thương anh em họ như Đức Kitô đã yêu thương họ” (ibid). Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta chìm ngập trong nhịp điệu của Đời Sống Thiên Chúa, đó là một đời sống yêu thương, cho chúng ta được chia sẻ cách riêng mối liên hệ giữa Chúa Cha và Chúa Con.

    Việc Thánh Phaolô đặt bác ái lên hàng đầu của những yếu tố làm thành hoa quả của Thần Khí không phải là không có ý nghĩa: “hoa quả của Thần Khí là bác ái, vui mừng, bình an,… (Gal 5:22).

    Và theo định nghĩa thì tình yêu liên kết, trước hết Chúa Thánh Thần là Đấng Sáng tạo nện sự hiệp thông trong cộng đoàn Kitô hữu, như chúng ta mượn lời của Thánh Phaolô mà nói khi mở đầu Thánh Lễ: “Nguyện xin ân sủng của Ðức Giêsu Kitô, và tình yêu của Thiên Chúa Cha, cùng sự hiệp thông của Chúa Thánh Thần ở cùng anh chị em.” (II Cor 13:14).

    Tuy nhiên, hơn nữa, cũng đúng là Chúa Thánh Thánh khuyến khích chúng ta đan những liên hệ bác ái với tất cả mọi người. Cho nên, khi yêu thương, chúng ta dành chỗ cho Chúa Thánh Thần và cho Ngài thời giờ để bày tỏ Mình ra cách đầy đủ trong chúng ta.

    Như vậy chúng ta hiểu tại sao Thánh Phaolô đặt cạnh nhau hai lời khuyên trong cùng một đoạn ở Thư gửi tín hữu Rôma: “Hãy nhiệt thành với Thần Khí” và “Đừng lấy ác bào ác” (Rom 12:11,17).

    Sau cùng, theo Thánh Phaolô thì Chúa Thánh Thần là một số tiền đặt cọc quảng đại mà Chính Thiên Chúa ban cho chúng ta như là bảo chứng và đồng thời một bảo đảm cho việc chúng ta được thừa tự trong tương lai (x. II Cor 1:22; 5:5; Eph 1:13-14).

    Cho nên chúng ta học từ Thánh Phaolô rằng các hành động của Chúa Thánh Thần hướng đời sống chúng ta về các giá trị cao quý của bác ái, vui mừng, hiệp thông và hy vọng. Công tác của chúng ta là cảm nghiệm điều này mỗi ngày, bằng cách tuân theo những thúc đẩy của Chúa Thánh Thần trong lòng mình, và giúp đỡ nhận thức của mình qua sự hướng dẫn rõ ràng của Thánh Tông Đồ.


    Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

  5. #5
    Teacher's Mập
    Khách viếng
    Teacher's Mập's Avatar

    Default

    BÀI 4

    Nhằm mục đích cung cấp cho các tín hữu Việt Nam những tài liệu để học hỏi về Năm Thánh Phaolô, chúng tôi xin giới thiệu bài huấn từ IV của ĐTC Bênêđictô XVI về Thánh Phaolô trong buổi triều yết chung tại Quảng trường Thánh Phêrô ngày 22 tháng 11, 2006.


    THÁNH PHAOLÔ VÀ HỘI THÁNH

    Anh Chị Em thân mến,
    Hôm nay chúng ta kết thúc những cuộc gặp gỡ với Thánh Tông Đồ Phaolô bằng cách dành buổi suy niệm cuối cùng này cho ngài. Thực ra, chúng ta không thể tạm biệt ngài mà không đề cập đến một trong những yếu tố quyết định trong các hoạt động của ngài và một trong những đề tài quan trọng nhất trong tư tưởng của ngài: thực tại về Hội Thánh.
    Trước hết chúng ta phải ghi nhận rằng cuộc tiếp xúc đầu tiên của ngài với Con Người Chúa Giêsu đã xảy ra qua chứng từ của cộng đồng Kitô hữu tại Giêrusalem. Đó là một cuộc tiếp xúc đầy sóng gió. Một khi đã gặp nhóm tín hữu mới này, ngài lập tức trở thành tên khủng bố dữ tợn đối với họ. Chính ngài công nhận điều này ba lần trong nhiều Thư của ngài: “Tôi đã ngược đãi Hội thánh của Thiên Chúa” (I Cor 15:9; Gal 1:13; Phil 3:6), hầu như để trình bày cách đối xử của ngài là một tội ác tầy trời nhất.
    Lịch sử cho cho chúng ta thấy rằng người ta thường đến cùng Đức Kitô qua Hội Thánh! Theo một nghĩa nào đó, như chúng ta đã nói, điều đó cũng đúng đối với Thánh Phaolô, là người đã gặp Hội Thánh trước khi gặp Chúa Giêsu. Tuy nhiên trong trường hợp của ngài, cuộc tiếp xúc đó bất lợi; nó thay vì đưa đến tình thân hữu lại đưa đến một cuộc thanh trừng tàn bạo.
    Đối với Thánh Phaolô, sự gắn bó với Hội Thánh được xảy ra nhờ sự can thiệp trực tiếp của Đức Kitô, là Đấng trong lúc tự tỏ mình ra cho ngài trên đường Đamascô, đã đồng hoá mình với Hội Thánh và làm cho Thánh Phaolô hiểu rằng bắt bớ Hội Thánh là bắt bớ Chính Người, là Đức Chúa.
    Thực ra, Đấng Phục Sinh đã nói với Phaolô, kẻ bắt bớ Hội Thánh, rằng: “Saulô, Saulô, tại sao ngươi bắt bớ Ta?” (Tdcv 9:4). Khi bắt bớ Hội Thánh là thánh nhân đang bắt bớ Đức Kitô.
    Cho nên, Thánh Phaolô đã cùng một lượt vừa trở lại với Đức Kitô và vừa trở lại với Hội Thánh. Điều này giúp người ta hiểu tại sao Hội Thánh sau này hiện diện quá nhiều trong tư tưởng, trái tim và hoạt động của Thánh Phaolô.
    Trước hết, Hội Thánh hiện diện quá đến nỗi hầu như ngài đã xây dựng nhiều Giáo Đoàn trong nhiều thành phố khác nhau là những nơi ngài đã đến như một nhà truyền giáo. Khi ngài nói về “mối bận tâm cho cho tất cả các Giáo Đoàn” (2 Cor 11: 28), ngài nghĩ tới những cộng đồng Kitô hữu khác nhau đã được lần lượt được hình thành tại Galatia, Ionia, Macedonia và Achaia.
    Một số trong những Giáo Đoàn này cũng làm cho ngài bận tâm và bất mãn, thí dụ như đã xảy ra với các Giáo Đoàn ở Galatia, mà ngài thấy “theo một tin mừng khác” (Gal 1:6), là điều mà ngài phản đối với một quyết tâm kiên vững.
    Nhưng ngài cảm thấy gắn bó với các Cộng Đồng mà ngài đã thiết lập không phải một cách lãnh đạm và quan liêu, mà một cách mãnh liệt và say mê. Thí dụ, ngài đã diễn tả những người Phipphê như là “những anh em mà tôi hằng thương mến và nhớ nhung, là niềm vui và triều thiên của tôi (Phil 4:1).
    Trong những dịp khác ngài so sánh những Cộng Đồng khác với một thư giới thiệu độc nhất vô nhị: Chính anh em là thư giới thiệu của chúng tôi, được viết trong tâm hồn chúng tôi, mà mọi người đều nhận ra và đọc được(2 Cor 3:2).
    Còn ở những lúc khác ngài tỏ ra một mối tình đích thực không những là tình phụ tử mà còn là tình mẫu tử, như việc ngài quay về những người mà ngài nói với, khi gọi họ là: Hỡi các người con bé nhỏ của tôi, mà tôi lại phải đau đớn sinh ra một lần nữa cho đến khi Ðức Kitô được thành hình nơi anh em”(Gal 4:19; x. 1 Cor 4: 14-15; 1 Thes 2:7-8).
    Thánh Phaolô cũng minh họa cho chúng ta trong các Thư của ngài giáo huấn của ngài về Hội Thánh như thế. Vậy, định nghĩa nguyên thủy của ngài về Hội Thánh là “Thân Thể Đức Kitô,” mà chúng ta không gặp trong những tác giả Kitô giáo khác của thế kỷ thứ nhất, là một định nghĩa thời danh (x. 1 Cor 12:27; Eph 4:12; 5:30; Col 1: 24).
    Chúng ta tìm thấy gốc rễ sâu xa nhất của diển tả kinh ngạc này về Hội Thánh trong Bí Tích Mình Đức Kitô. Thánh Phaolô nói: Chúng ta tuy nhiều nhưng chỉ là một tấm Bánh, một thân thể, vì tất cả chúng ta chia sẻ cùng một tấm Bánh này. (1 Cor 10:17). Trong cùng một Thánh Thể, Đức Kitô ban cho chúng ta Mình Người và biến chúng ta thành Thân Thể của Người. Về điều này, Thánh Phaolô đã nói với tin hữu Galatê: “Tất cả anh em chỉ là một trong Đức Kitô” (Gal 3:28). Bằng cách nói tất cả những lời này Thánh Phaolô giúp chúng ta hiểu rằng không những chỉ có sự lệ thuộc của Hội Thánh vào Đức Kitô, mà còn có một hình thức tương đương và đồng hóa của Hội Thánh với Chính Đức Kitô.
    Cho nên, từ đó nảy sinh ra tính cao sang và cao quý của Hội Thánh, tức là, của tất cả chúng ta là những phần tử Hội Thánh: từ việc chúng ta là chi thể của Đức Kitô, như một nối dài sự hiện diện cá nhân của Người trong thế gian. Và đương nhiên là từ đó nảy sinh ra nhiệm vụ của chúng ta là sống cho thật phù hợp với Đức Kitô.
    Những lời khuyên của Thánh Phaolô về nhiều đặc sủng đem lại sự sống và cấu trúc cho cộng đồng Kitô hữu cũng được khai triển từ đó. Tất cả đều được bắt đầu từ một nguồn duy nhất, là Thần Khí của Chúa Cha và Chúa Con, vì biết rõ rằng trong Hội Thánh không ai thiếu những đặc sủng này, bởi như Thánh Tông Đồ đã viết, Sự biểu lộ của Thần Khí được ban cho mỗi người vì lợi ích chung”(1 Cor 12:7).
    Tuy nhiên, điều quan trọng là tất cả các đặc sủng này cộng tác với nhau để xây dựng cộng đồng, và thay vì đó không trở thành động lực cho sự chia rẽ.
    Về điểm này, Thánh Phaolô tự hỏi mình cách hùng biện: “Có phải Đức Kitô bị chia sẻ chăng?” (1 Cor 1:13). Ngài biết rõ và dạy chúng ta rằng cần phải duy trì sự hiệp nhất trong Thần Khí, bằng mối dây hòa thuận. Chỉ có một thân thể, và một Thần Khí, như anh em đã được kêu mời trong một niềm hy vọng của ơn gọi anh em (Eph 4: 3-4).
    Hiển nhiên, nhấn mạnh đến nhu cầu hiệp nhất không có nghĩa là đời sống Hội Thánh cần phải được tiêu chuẩn hóa hay được san bằng theo một cách làm việc duy nhất. Ở chỗ khác Thánh Phaolô dạy: “Đừng dập tắt Thần Khí” (1 Thes 5: 19), nghĩa là, phải rộng rãi để dành chỗ cho động lực không thể thấy trước của những sự tỏ bày đặc sủng của Thần khí, Đấng luôn là nguồn mạch mới của nghị lực và sinh lực.
    Nhưng nếu có một chủ trương mà Thánh Phaolô cương quyết đi theo là việc xây dựng lẫn nhau: Hãy làm tất cả những việc ấy để xây dựng (1 Cor 14:26). Tất cả phải đóng góp vào việc đan một tấm vải Hội Thánh một cách bằng phẳng, không những không có những miếng vá rời rạc, nhưng cũng không có lỗ thủng hay vết rách.
    Sau đó còn có một Thư của Thánh Phaolô trình bày Hội Thánh như là Hiền Thê của Đức Kitô (x. Eph 5: 21-33).
    Với cách trình bày này, Thánh Phaolô mượn một phép ẩn dụ tiên tri thời xưa coi dân Israel là Hiền Thê của Thiên Chúa của Giao Ước (x. Hosea 2:4,21; Isaiah 54: 5-8). Ngài làm thế để diễn tả mối liên hệ mật thiết giữa Đức Kitô và Hội Thánh Người, cả theo nghĩa đối với Chúa thì Hội Thánh là đối tượng của tình yêu âu yếm nhất, lẫn theo nghĩa là tình yêu phải có tính hỗ tương, và cả chúng ta, là phần tử của Hội Thánh, phải tỏ ra một lòng chung thủy thiết tha đối với Người.
    Vì thế, tóm lại, một tương quan hiệp thông đang bị đe doạ: một tương quan gọi là tương quan chiều dọc giữa Đức Chúa Giêsu Kitô và tất cả chúng ta, mà còn tương quan chiều ngang giữa tất cả những người khác nhau trong thế giới bởi sự kiện họ “kêu cầu Danh Đức Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (1 Cor 1:2).
    Đây là định nghĩa của chúng ta: chúng ta thuộc vào số những người kêu cầu Danh Đức Chúa Giêsu Kitô. Như thế chúng ta hiểu rõ ràng rằng chúng ta phải ao ước đến mức nào điều mà chính Thánh Phaolô ao ước khi viết cho tín hữu Côrinthô:Nhưng nếu mọi người đều nói tiên tri, mà có người ngoại đạo hay người lạ đi vào, người đó sẽ bị thuyết phục bởi mọi người, và xét xử bởi mọi người. Những bí ẩn trong lòng người đó sẽ bị lộ ra, và như thế, người đó sẽ sấp mình xuống và thờ lạy Thiên Chúa, mà tuyên xưng rằng, ‘Thật sự, Thiên Chúa ở giữa anh em’”(1 Cor 14: 24-25).
    Những cuộc gặp gỡ phụng vụ của chúng ta cũng phải giống như thế, để một người không phải là Kitô hữu đến tham dự một trong những buổi tập họp của chúng ta cuối cùng cũng có thể nói: “Thiên Chúa thật sự ở cùng các bạn.” Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho chúng ta được giống như thế, trong sự hiệp thông với Đức Kitô và trong sự hiệp thông giữa chúng ta.

    Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

  6. Được cám ơn bởi:


+ Trả lời chủ đề + Gửi chủ đề mới

Quyền hạn của bạn

  • Bạn không được gửi bài mới
  • Bạn không được gửi bài trả lời
  • Bạn không được gửi kèm file
  • Bạn không được sửa bài

Diễn Đàn Thánh Ca Việt Nam - Email: ThanhCaVN@yahoo.com