Love Telling Trang Ngô nhắn với ThanhCaVN: SỐNG ĐỨC KHÔN NGOAN, ĐỂ ĐƯỢC THIÊN CHÚA YÊU THƯƠNG JB.Lưu Hùng Vương nhắn với TCVN: Happy Birthday lần thứ 12: Website https://thanhcavietnam.net 18.05.2007 -- 18.05.2019 cat nhắn với Bác gioanha: Hôm nay 27/12 Lễ kính Thánh Gioan - bổn mạng bác Gioanha. Xin Chúa chúc lành cho bác nhiều sức khỏe, nhiều niềm vui, mãi là tông đồ nhiệt thành phụng sự Chúa. An Phúc nhắn với Peter Nguyễn: Hôm nay 23.7, mừng ngày em thêm tuổi mới. Chúc em luôn vui khỏe và an bình. Nguyện xin Mẹ Maria cùng đồng hành với em trong cuộc sống. An Phúc nhắn với Peter Nguyễn: Em hiện tại bây giờ ở đâu? Hãy liên lạc với mình nhé. bethichconlua nhắn với DD TCVN: bé xin mến mời cả nhà cùng hiệp dâng giờ kinh nguyện. Tháng Hoa Kính Mẹ Maria. Vào lúc 11 giờ 30' trưa Việt Nam. Xin Mẹ thương chúc lành. Amen bethichconlua nhắn với TCVN: bethichconlua xin kính chúc toàn thể gia đình TCVN luôn tràn đầy ơn Chúa và luôn làm sáng danh Chúa. Amen onggiachonggay_99 nhắn với Gửi TCVN: Xin toàn thể gia đình TCVN cầu nguyện cho ông cố Giuse Dương Phách là nhạc Phụ của Già onggiachonggay_99 nhắn với Gửi Gia Đình TCVN: Xin toàn thể gia đình TCVN cầu nguyện cho ông cố Giuse Dương Phách là nhạc gia của Già cat nhắn với daohong2310: Chúc mừng bổn mạng bà quản daohong2310 (Thánh Rosa Lima Lễ nhớ ngày 23/8) phale nhắn với admin: Ngày 13/6 Lễ nhớ Thánh Antoine de Padoue. Chúc mừng bổn mạng admin. LUCIA_HUONG nhắn với TCVN: Lucia Nguyen xin Thien Chua và Mẹ Maria ban cho tất cả Quý OBACE được BÌNH AN trong tháng HOA của Mẹ . Thank mlien07 nhắn với Gia đình Thánh ca: Xin Chúa Phục Sinh luôn đồng hành cùng ACE trong mọi bước đường của cuộc sống. Xin cho chúng ta luôn sống và làm chứng cho Chúa Phục Sinh. Amen. JB.Lưu Hùng Vương nhắn với TCVN: Chúng con cậy vì danh Chúa nhân từ,  xin cho Linh hồn Đức Ông Phêrô Nguyễn Quang Sách được sớm hưởng phúc quê Trời. JB.Lưu Hùng Vương nhắn với TCVN: Chúng con cậy vì danh Chúa nhân từ, xin cho tôi tớ Chúa là Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Hòa được sớm hưởng phúc quê Trời. ThanhCaVN nhắn với Gia đình TCVN: Valentine's Day, kính chúc ACE luôn vững bền trong Tình Yêu ĐÃ - ĐANG và SẼ đoan hứa. ThanhCaVN nhắn với Gia đình TCVN: Kính chúc Quý Cha, Quý Tu sỹ Nam Nữ, Ca - Nhạc sỹ và ACE năm mới ĐINH DẬU: Tràn đầy HỒNG ÂN CHÚA bethichconlua nhắn với TCVN: Chúc cả nhà tràn đấy ơn Chúa mlien07 nhắn với Ace: Chúc anh chị em bình an đón Chúa đến vui vẻ. phale nhắn với F.X Nhatdong: Chúc mừng bổn mạng F.X Nhatdong! Chúc người tông đồ nhỏ mãi là tông đồ nhiệt thành! Ước mong em mãi yêu DĐTCVN và cùng chung tay xây dựng nhà nhỏ.

+ Trả lời chủ đề + Gửi chủ đề mới
Trang 1/2 12 cuốicuối
kết quả từ 1 tới 40 trên 54

Chủ đề: Chân dung linh mục Việt Nam

  1. #1
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,695 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Linh Mục Phêrô Nguyễn Văn Kiều
    (1903-1971)


    1903: Sinh tại xứ Quan Lãng, giáo phận Vinh, thuộc tỉnh Nghệ An
    1916: Vào tiểu chủng viện Xã Đoài, giáo phận Vinh
    1924: Thầy giảng giúp xứ Đồng Tháp, Thành Trài và Thanh Bích
    1930: Học trường lý đoán (đại chủng viện) Xã Đoài
    21/12/1935: Thụ phong linh mục tại Xã Đoài
    1936: Phó xứ Thọ Hoàng, giáo phận Vinh
    1937: Chánh xứ Yên Phúc, giáo phận Vinh
    1941: Chánh xứ Bột Đà, giáo phận Vinh
    1942: Chánh xứ Làng Truông, giáo phận Vinh
    1952: Quản hạt Ngàn Sâu, giáo phận Vinh
    1955: Di cư vào miền Nam
    1955: Chánh xứ Vinh Hà, Bình Giã, nay thuộc giáo phận Bà Rịa
    1955-1971: Chánh Xứ Vinh Hà – Bình Giã
    28/4/1971: Qua đời tại bệnh viện Sùng Chính, Sài Gòn
    02/5/1971: An táng tại khuôn viên thánh đường xứ Vinh Hà, Bình Giã, nay thuộc giáo phận Bà Rịa.

    Trong Năm Linh mục, Hội đồng Giám mục Việt Nam gợi ý cho chúng ta đi tìm những mẫu gương sống cho đời linh mục, không phải từ những vị thánh chói ngời nhân đức, nhưng từ những mục tử giản đơn, bình dị, đã từng hiện diện giữa đoàn chiên nơi các giáo phận. Nhìn vào cách sống của những người đi trước, chúng ta không đòi hỏi một mẫu hình tuyệt hảo trong mọi lãnh vực, nhưng chỉ mong bắt gặp những đường nét khắc họa lại khuôn mặt của Vị Mục Tử nhân lành, những điển hình minh họa cho nếp sống của đời tận hiến vì Nước Trời.

    Từ cuộc đời cha Phêrô Nguyễn Văn Kiều, một trong những vị tiền bối của linh mục đoàn giáo phận Bà Rịa, chúng ta xin được ngắm nhìn mẫu gương của người môn đệ thân tín đồng thời cũng là một mục tử đầy yêu thương.

    “Ở lại trong tình yêu của Thầy”

    Hình ảnh cha xứ lặng lẽ cầu nguyện trong nhà thờ ngoài những giờ phụng vụ hằng ngày, đã là một ấn tượng khó phai nơi những người ở bên cạnh cha Phêrô. Khi kể về nếp sống thường ngày của cha, người dân Vinh Hà luôn phải sử dụng điệp khúc “cha lại ra nhà thờ…” Những giờ kinh Nhật tụng, những tràng kinh Mân côi kính Đức Mẹ, những giây phút cầu nguyện riêng, và cả đến việc đọc sách thiêng liêng, cha đều thực hiện trước Thánh Thể. Ngôi Nhà Chầu đã như là điểm hẹn thân quen, nơi mà cả sáng trưa chiều, mỗi khi có được thời gian, cha lại tìm đến. Nếu nhà xứ là nơi cha tiêu hao chính bản thân mình khi phục vụ đoàn chiên, thì nhà thờ là nơi cha tìm lại sức mạnh thiêng liêng từ Thánh Tâm của Đấng Mục Tử nhân lành. Chắc hẳn lòng yêu mến Thánh Thể đã làm nền cho các nhân đức cũng như nếp sống thanh tịnh, vâng phục và khó nghèo rất nổi bật nơi cha Phêrô. Đó còn là động lực cho các thực hành đạo đức cá nhân như hy sinh hãm mình, kể cả ăn chay đánh tội, cùng với thái độ cung kính và sốt sắng khi chầu Thánh Thể, nhất là khi cử hành Thánh lễ, đến độ cha đã nhiều lần bật khóc khi đọc lời Truyền phép.

    Lòng mến Chúa của cha Phêrô còn như được củng cố nhờ vào tâm tình yêu kính Đức Mẹ cách đặc biệt. Với tràng chuỗi luôn mang trong người, cha thầm thĩ những lời kinh Mân côi gần như liên lỉ suốt ngày để dâng kính Mẹ.

    Nếu những tâm tình và cách thể hiện lòng đạo đức chỉ là cá biệt của riêng cha Phêrô, thì lòng yêu mến Thánh Thể của người đi trước vẫn có thể trở thành mẫu gương cho chúng ta hôm nay. Chắc chắn ai cũng thâm tín về sức mạnh của tình yêu Thánh Thể, ai cũng muốn đáp trả tiếng gọi của tình yêu Thánh Tâm, nhưng việc thường xuyên đến cầu nguyện trước Nhà Chầu ngoài những giờ phụng vụ phải chăng đã không còn là thực hành, có khi cả không là ý định, nơi nhiều linh mục của thế hệ chúng ta? Việc viếng Thánh Thể phải chăng đã lâu lắm rồi, thậm chí là chưa bao giờ, được đặt vào trong thời khóa biểu hằng ngày? Không vào nhà thờ sớm, dù chỉ năm mười phút trước giờ dâng lễ, rời phòng áo ngay khi vừa thay xong lễ phục. Thời gian có mặt tại nhà thờ chỉ vỏn vẹn vừa đủ cho việc cử hành các bí tích, phải chăng đã đủ để thể hiện lòng yêu mến?

    Nhìn vào gương cha Phêrô, chúng ta chỉ mong có thêm những giây phút cầu nguyện trước Thánh Thể, tạo lại những gặp gỡ thân tình, dù biết rằng đây chỉ là một thể hiện bên ngoài, để có thể cảm nghiệm được tâm tình của người môn đệ muốn “ở lại trong tình yêu của Thầy”, để cầu nguyện cho mình và cho đoàn chiên, đồng thời để kín múc nguồn sức cho đời tông đồ.

    “Như Thầy yêu thương”

    Nếu phải kể về cha Phêrô, những giáo dân trong các xứ mà cha đã coi sóc sẽ nhắc ngay đến cách cha yêu thương mọi người. Cuộc đời cha qua đi, nhưng vẫn còn lưu lại mãi những ký ức về một cha xứ hiền lành, ân cần, tận tụy và nhiệt thành chăm sóc đoàn chiên. Cha tận tâm phục vụ những người chung quanh cả phần hồn lẫn phần xác.

    Đối với mọi người, lòng yêu thương được thể hiện ngay trong cách cha vui vẻ tiếp đón những ai đến xin cha giúp đỡ, dù là để xin thuốc chữa bệnh hay để xin xưng tội, xức dầu bệnh nhân. Cha tìm đủ cách để giúp đỡ những người túng nghèo hoặc đau bệnh, từ việc phát thuốc miễn phí, đến việc đích thân băng rửa vết thương ghẻ lở, từ việc gửi tiền hoặc quà bánh, đến việc đi tới tận nhà thăm viếng, ủi an. Cha chân thành thương mến mọi người, không phân biệt lương giáo, già trẻ, giàu nghèo. Ngay cả sau khi cha đã qua đời, cho đến hôm nay, hằng ngày vẫn có nhiều người tìm đến cha, với ước mong gặp được niềm an ủi, hoặc xin cha bầu cử cho trước Nhan Chúa, ngày giỗ cha hằng năm (28/4), nhiều người đến thánh đường xứ Vinh Hà tham dự thánh lễ và viếng mộ phần của cha để tỏ lòng yêu mến và tri ân.

    Đối với đoàn chiên xứ đạo, tấm lòng mục tử của cha Phêrô Nguyễn Văn Kiếu đã biến cha nên người phục vụ không biết mệt mỏi. Có thể nói, cha không còn nghĩ đến bản thân khi phải lo cho các linh hồn. Đặc biệt trong việc trao ban bí tích hoà giải, cha Phêrô không hề giới hạn giờ giấc, thậm chí có lần cha đang dùng bữa, có người đến xin xưng tội, cha lập tức bỏ ngang bữa cơm, mặc áo dòng đi ra nhà thờ giải tội, sau đó mới trở vào ăn tiếp. Vào các dịp lễ trọng, bởi thương giáo dân hơn cả bản thân, cha dành lấy phần mệt về mình để nhiều người đỡ mệt, nên cha sẵn sàng đạp xe đến tận các nhà nguyện giáo họ để giải tội. Theo cha, “giải tội cho kẻ có tội là nhiệm vụ hàng đầu của linh mục. Cần đem tình thương cho họ đi tìm Chúa để được bình an trong tâm hồn, nên mình phải hy sinh giấc ngủ, giờ ăn hoặc các công việc phần xác khác”.

    Dĩ nhiên, cách hành xử của cha Phêrô có thể phần nào quá đặc biệt, nếu không nói là quá đáng, nhưng chính sự “quá đáng” này của đức ái mục tử lại trở nên lời chất vấn cho chúng ta bây giờ. Nếu những mục tử như lòng Chúa mong muốn, hôm qua cũng như hôm nay, không chỉ dẫn chiên đi bằng đôi tay và khối óc, mà còn phải bằng cả trái tim của mình, thì có đúng chăng khi chúng ta đặt giới hạn cho đức ái, và sợ những “quá đáng” của tình yêu ? Có đúng chăng khi chúng ta đặt ưu tiên cho thời giờ và sức khoẻ bản thân, chỉ làm việc trong những giờ “hành chánh”, để rồi chưa dám như Chúa “yêu thương những kẻ thuộc về mình, và yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1)?

    Đi tìm một mẫu gương, có lẽ chúng ta không muốn chỉ thấy được trong đó bóng hình của người đã đi trước, nhưng đúng hơn, chúng ta muốn nhận ra chính mình trong hiện tại. Một thoáng nhìn vào cuộc đời cha Phêrô, thật ra chỉ là để có cơ hội nhìn kỹ hơn vào chính mình, và cuối cùng, dù có nhìn vào ai, mắt chúng ta chắc chắn sẽ không bao giờ rời khỏi Đức Kitô Mục Tử, mẫu hình tuyệt hảo và ngàn đời sống động cho những kẻ Người đã gọi làm môn đệ và đã chọn làm tông đồ.
    GP Bà Rịa
    thay đổi nội dung bởi: Damsan, 18-07-2009 lúc 09:18 AM
    Chữ ký của Damsan
    Nàng đẹp quá, bạn tình ơi, đẹp quá !
    Đôi mắt nàng là một cặp bồ câu.

    (Dc 1,15 )


  2. #2
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,695 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Hôm nay lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI khai mạc Năm Linh mục cho toàn Giáo Hội Công giáo. ĐTC đề cao tấm gương thánh thiện của Cha thánh Gioan Maria Vianney cho các linh mục noi theo và đã đặt thánh nhân làm bổn mạng của các linh mục. Đồng thời, ngài khuyến khích các Giáo Hội địa phương cũng nêu cao những tấm gương linh mục trong đất nước của mình. Theo đó, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã quyết định trong Năm Linh mục, mỗi giáo phận sẽ giới thiệu ít là hai mẫu gương linh mục và phổ biến rộng rãi cho mọi tín hữu được biết. Trong suốt Năm Linh mục, kể từ hôm nay, mỗi tuần WHĐ sẽ giới thiệu một chân dung linh mục Việt Nam. Và xin được bắt đầu với Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.

    Đức Hồng y PHANXICÔ XAVIÊ NGUYỄN VĂN THUẬN
    con người của Hoà bình, Niềm vui và Hy vọng



    Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận được nhiều người biết đến như là con người của hoà bình, niềm vui và hy vọng bởi gương sống đức tin, cuộc đời mục tử với phong thái bình dị, lạc quan, xác tín và hy vọng của ngài trong mọi cảnh huống.
    Đức Hồng y sinh ngày 17-04-1928, tại Phủ Cam, Huế. Ông cố thân sinh là cụ Tađêô Nguyễn văn Ấm, Bà cố là Elizabeth Ngô thị Hiệp. Ngài là người con cả trong gia đình có 8 anh chị em. Sinh trưởng trong gia đình Công giáo có truyền thống đạo đức, tổ tiên từng bị bách hại vì đạo Chúa, lại được thân mẫu thường kể cho nghe hạnh các Thánh, nhất là các chân phúc Tử đạo Việt Nam, cậu bé Thuận sớm có ước muốn dâng mình cho Chúa.
    Gia đình cậu Thuận khá giả, thân phụ e ngại sức khoẻ kém của cậu không kham nổi cuộc sống kỷ cương chủng viện nên lúc đầu không đồng ý. Cậu phải nhờ thân mẫu can thiệp và được chấp thuận để tu học tại Tiểu Chủng viện An Ninh – Quảng Trị, sau đó học triết và thần học tại Đại chủng viện Kim Long – Huế.
    Ngày 11-06-1953 thầy Thuận lãnh chức linh mục tại Nhà thờ Chánh tòa Phủ Cam, Huế, do Đức cha Jean Baptiste Urruthia Thi, Đại diện Tông Tòa Giáo phận Huế chủ phong. Ngài được bổ nhiệm làm cha phó xứ đạo Tam Tòa (Đồng Hới, Quảng Bình). Sau đó, làm cha phó xứ đạo Phanxicô Xaviê, ở Huế.
    Sau 3 năm mục vụ, cha Thuận được cử đi du học tại Đại học Giáo hoàng Urbaniana, Roma – Italia. Trong thời gian theo học, ngài có dịp tiếp xúc với các phong trào Đạo binh Đức Mẹ, Hướng Đạo, Cursillo, Focolare và điều đó đã ảnh hưởng đến đường lối hoạt động mục vụ của ngài sau này. Năm 1959, ngài đậu bằng tiến sĩ Giáo luật với luận án "Tuyên úy Quân đội trên thế giới". Về nước, ngài dạy học tại Tiểu Chủng viện Phú Xuân, sau đó đổi tên là Tiểu Chủng viện Hoan Thiện – Huế. Là cha giám đốc nhưng ngài luôn hỏi han, tươi cười với các chú, thông cảm cho sai sót tuổi trẻ. Không thấy ngài to tiếng hay quở mắng ai bao giờ, đến nỗi cha quản lý thốt lên "Cha bề trên hiền quá, chẳng có chú nào sợ…" Thật ra, ngài chủ trương giáo dục đặt nền tảng trên yêu thương và gương sáng chứ không phải lề luật và trừng phạt. Ngài làm Tổng đại diện Tổng giáo phận Huế từ năm 1964 – 1967.
    Ngày 13-04-1967, cha Thuận được Đức Thánh Cha Phaolô VI bổ nhiệm làm Giám mục Giáo phận Nha Trang, kế vị Đức Cha Marcel Piquet Lợi (1888-1966). Ngài chọn khẩu hiệu "Vui mừng và Hy vọng" (Gaudium et Spes) là tên Hiến chế Mục vụ của Công đồng Vatican II. Phương châm và huy hiệu giám mục của ngài không chỉ nói lên niềm tin yêu, hy vọng của ngài đối với Mẹ Giáo Hội mà còn cho thấy tâm hồn thanh thoát, tươi trẻ, hoà bình, vị tha và hướng thượng, đã được diễn tả trong suốt cuộc đời sứ vụ mục tử của ngài. Ngày 24-06-1967, Ngài được tấn phong Giám mục tại Huế do Đức Khâm sứ Tòa thánh Angelo Palmas chủ phong và về nhậm chức ở Giáo phận Nha Trang ngày 10-07-1967.
    Tám năm trong cương vị chủ chăn giáo phận Nha Trang và một số chức vụ khác trong Hội đồng Giám mục Việt Nam , cũng như thành viên của Hội đồng Giáo hoàng về Giáo dân, tâm hồn mục tử của ngài trải rộng trên mọi thành phần dân Chúa. Ngài quan tâm đặc biệt đến việc phát triển nhân sự, đặt nền tảng hy vọng cho giáo phận nhà và Giáo hội địa phương. Ngài quan tâm mở mang hoặc thành lập các chủng viện, dòng tu, tu hội; tổ chức tu nghiệp và huấn luyện cho hàng giáo sĩ, giáo dân; đẩy mạnh các phong trào, hội đoàn Thanh lao công, Công lý - Hoà bình, Hướng đạo, Cursillo, Focolare… Các thư mục vụ của ngài đầy ắp tâm tình tạ ơn, hy vọng và tín thác nơi Chúa, cũng như thúc đẩy đời sống đức tin cho đoàn chiên giáo phận: "Tỉnh thức và cầu nguyện" (1968); "Vững mạnh trong đức tin, tiến lên trong an bình" (1969); "Công lý và hòa bình" ( 1970); "Sứ mạng của Chúa Kitô là sứ mạng của chúng ta" (1971); "Kỷ niệm 300 năm" (1971); "Năm thánh canh tân và hòa giải" (1973). Dù bề bộn công việc, ngài vẫn luôn vui vẻ, lạc quan, khôn ngoan và khéo léo an ủi, nâng đỡ những người đang gặp phiền muộn đến với ngài.
    Ngày 24-04-1975, ĐGH Phaolô VI bổ nhiệm ngài làm Tổng Giám mục Phó Tổng giáo phận Sài Gòn, hiệu toà Vadesi. Tuy nhiên, thể chế chính trị Việt Nam thay đổi (30-04-1975) và cuộc đời mục tử của ngài cũng sang trang, một trang bi hùng như Người Tôi Tớ của Chúa: tín trung, hoà bình và hoá giải màn đen của ngục tù thành ánh sáng của tha thứ, yêu thương và hy vọng.
    Ngày 15-08-1975, Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, ngài được chính quyền mới mời và bắt giữ tại Dinh Độc Lập, bị giam cầm nhiều nơi từ Nam chí Bắc của đất nước và được trả tự do ngày 21-11-1988, nhằm ngày lễ Đức Mẹ Dâng Mình trong Đền Thờ. Thời gian 13 năm lao tù, trong đó có 9 năm biệt giam, ngài đã viết lại đường hướng tu đức và kinh nghiệm sống đức tin qua các tập sách: Đường Hy Vọng, Đường Hy Vọng dưới ánh sáng Lời Chúa và Công Đồng Vatican II, Người Lữ Hành Trên Đường Hy Vọng như là di chúc tinh thần của Ngài.
    Quản tù ngạc nhiên về sự bao dung của ngài, ngài trả lời: "Cho dù các anh giết tôi, tôi vẫn yêu thương các anh. Tại vì Chúa Kitô đã dạy tôi phải yêu thương tất cả mọi người, cả những kẻ thù. Nếu tôi không làm như vậy, tôi không đáng được gọi là Kitô hữu".
    Trong tù, có những lúc, mỗi ngày, ngài cử hành Thánh lễ với 3 giọt rượu và một giọt nước trong lòng bàn tay. Đó là Bàn thờ của ngài, là Nhà thờ Chính Toà của ngài. Ngài kể lại: "Mỗi lần như thế, tôi được dịp giang tay ra và chịu đóng đinh bản thân trên Thánh Giá với Chúa Giêsu, được uống chén đắng với Chúa. Mỗi ngày khi đọc lời truyền phép, tôi hết lòng củng cố một giao ước mới, giao ước đời đời giữa tôi với Chúa Giêsu, nhờ Máu của Chúa hoà lẫn với máu của tôi".
    Trong lần thứ hai sang Rôma viếng thăm và chữa bệnh năm 1991, Đức cha Phanxicô Xaviê bị ngăn trở, không thể trở về quê hương; nhưng Thánh ý Chúa nhiệm mầu đã dọn con đường mới cho người Tôi Tớ tín trung của Chúa.
    Ngày 09-04-1994, Toà Thánh bổ nhiệm Đức Cha làm Phó Chủ Tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công Lý và Hoà Bình và ngày 24-06-1998, ngài được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng. Ngày 21-02-2001, ngài được vinh thăng Hồng y. Trước và sau khi nhận chức vụ của giáo triều Rôma, ngài đã liên tục đi đến các cộng đoàn của nhiều nước trên thế giới, các đại học, các cơ quan quốc tế để giảng tĩnh tâm, giúp đào tạo và xây dựng cộng đoàn mới. Ngài luôn khơi lên lòng tôn sùng Đức Mẹ, Thánh Giuse và nhất là yêu mến Bí tích Thánh Thể, tâm tình cầu nguyện và sống giây phút hiện tại trong tinh thần phó thác. Đến đâu, ngài cũng chiếu tỏa sự an bình, bao dung, tha thứ, niềm vui và hy vọng.
    Đặc biệt, mùa xuân Năm Thánh 2000, ngài được mời giảng tĩnh tâm Mùa Chay cho Giáo triều Rôma khi Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nói với ngài: "Năm đầu tiên của ngàn năm thứ III, một người Việt Nam sẽ giảng tĩnh tâm cho Giáo triều Rôma. Hãy kể lại cho chúng tôi những chứng tá của Đức cha".
    Ngài còn là tác giả của những đầu sách được ưa chuộng, chứa đầy sứ điệp của tình thương, công lý và hoà bình, xây dựng và hy vọng: Năm Chiếc Bánh và Hai Con Cá, Cầu Nguyện, Hãy Trao Tặng Tuổi Trẻ Nụ Cười, Niềm Vui Sống Đạo, Sứ Điệp Đức Mẹ La Vang, Chứng Nhân Hy Vọng.
    Ngài vẫn thanh thản, vui tươi cả trong thời gian điều trị lâu dài và đau đớn tại bệnh viện. Trong những ngày cuối đời, khi không còn nói được nữa, ngài nằm đó, mắt nhìn chăm chăm vào Thánh Giá Chúa chịu đóng đinh trước mặt. Ngài cầu nguyện trong thinh lặng để nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô trên Thánh Giá và chuẩn bị giây phút quyết liệt ra đi gặp gỡ Chúa Kitô Phục Sinh.
    Ngài được Chúa gọi về chiều ngày 16-09-2002 tại Rôma. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nói trong bài giảng Thánh lễ an táng ngài: "Trong lúc chào vĩnh biệt người sứ giả anh hùng của Tin Mừng Chúa Kitô, chúng ta hãy cảm tạ Chúa vì đã cho chúng ta, nơi con người của Đức Hồng y, một tấm gương sáng ngời về đời sống tín hữu Kitô, phù hợp với đức tin, cho đến độ tử đạo".
    Về phần mình, Đức Hồng y từng nói đơn sơ: "Trong vực thẳm những đau khổ của tôi, tôi không bao giờ ngừng yêu mến tất cả mọi người, tôi không hề loại trừ một ai khỏi tâm hồn tôi".
    GP Nha Trang
    thay đổi nội dung bởi: Damsan, 18-07-2009 lúc 09:17 AM
    Chữ ký của Damsan
    Nàng đẹp quá, bạn tình ơi, đẹp quá !
    Đôi mắt nàng là một cặp bồ câu.

    (Dc 1,15 )


  3. #3
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,695 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Linh Mục Gioan Baotixita Trần Thanh Ngoạn
    nguyên Cha Chính Giáo phận Banmêthuột.



    Người giáo dân Vinh không ai là không biết đến địa danh xứ đạo Thọ Ninh. Đó là một xứ đạo truyền thống "lắm cụ nhiều quan". Nơi sản sinh nhiều nhân vật nổi tiếng đạo đời. Từ trước tới nay, Giáo xứ Thọ Ninh đã cung cấp cho Giáo Hội có đến 79 linh mục triều, dòng? Nhưng nỗi bật hơn cả, phải kể đến cha Gioan Baotixita Trần Thanh Ngoạn. Ngài vừa là Linh mục gốc Giáo Phận Vinh, nhưng cũng là Linh mục của Giáo Phận Banmêthuột với các chức danh: Cha sở, Cha Quản hạt, Cha Tổng Đại diện nhà thờ Chính Tòa Giáo Phận Banmêthuột.
    Ngài sinh năm 1898 trong một gia đình Công Giáo đạo hạnh tại Giáo xứ Thọ Ninh, Đức thọ, Hà tĩnh. Thân phụ là một nhà nho làm nghề đông y nổi tiếng. Sau khi học 6 năm Tiểu Chủng Viện và giúp xứ 6 năm, Thầy Ngoạn được cử đi du học 6 năm tại Đại Chủng Viện Penang, Malacca, một Đại Chủng Viện Quốc tế dành cho các sinh viên miền Đông Á. Tốt nghiệp, Ngài trở về Việt Nam và chịu chức Linh mục dịp Lễ Noel 1932. Sau đó, Ngài lần lượt đảm nhận các chức vụ: Giáo sư Tiểu Chủng Viện (1933-1943); Giáo sư Đại Chủng Viện, rồi Giám đốc Đại Chủng Viện Xã Đoài (1943-1956).
    Biến cố chia đôi đất nước đưa Ngài lên Cao nguyên Banmêthuột cùng với một số giáo dân Vinh. Ngài nhập Giáo Phận Kontum và làm Cha sở Nhà thờ Giáo xứ Banmêthuột. Ngài xây nhà thờ với kiểu dáng giống Nhà thờ Sapa thuộc Giáo Phận Hưng Hóa. Nhà thờ này trở thành Nhà thờ Chính Tòa khi thành lập Giáo Phận Banmêthuột năm 1967.
    Năm 1969, cha Gioan Baotixita Trần Thanh Ngoạn xin nghỉ hưu, vì tuổi già sức yếu. Ngài rút về nhà người cháu là Ông Trần Văn Cung, để nghỉ ngơi và chuyên lo nghiên cứu và đọc sách. Thỉnh thoảng Ngài được mời giảng tĩnh tâm, hay thuyết trình cho các Linh mục, các Dòng tu về Thần học và Tu đức.
    Ngài là một Linh mục thánh thiện, khiêm tốn. Tuy cao niên và là bậc Thầy của nhiều thế hệ Linh mục, Ngài vẫn xưng "con" với người đối diện. Ngài sống rất khó nghèo, đạm bạc… Đơn sơ trong y phục và sử dụng các phương tiện. Những dịp tĩnh tâm hạt, hoặc tĩnh tâm thường niên của các Linh mục Giáo Phận, Ngài thường lưu ý: Phải đọc Thần vụ thong thả để có thể nếm được cái ý vị ngọt ngào và phong phú của Thánh Vịnh. Ngài dâng Lễ sốt sắng, khoan thai. Các bài giảng của Ngài phải nói được là những bài giáo lý mẫu (Keryma) rất hấp dẫn, cụ thể, được minh họa bằng những câu chuyện sinh động, trí thức kinh nể, bình dân hiểu rõ. Các Giáo xứ đến phiên Chầu lượt, đều muốn mời cha già Ngoạn đến giảng về Bí tích Thánh Thể. Được nghe nói về sự thông thái của cha già Ngoạn, trong dịp đi kinh lý dinh điền Eatul (Quảng nhiêu) Tổng thống Ngô Đình Diệm bảo tùy viên mời cha giảng trong Thánh lễ. Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận sau khi tiếp xúc với cha Gioan Baotixita Trần Thanh Ngoạn, thấy được kiến thức uyên bác của Ngài, đã nói: "Banmêthuột có một cuốn từ điển bách khoa sống". Đức Cố Giám mục Paul Seitz(Đức Cha Kim) đã dùng cha Ngoạn làm cố vấn Thần học. Một Linh mục học trò của Ngài kể lại: Khi còn là Giáo sư Đại Chủng Viện Xã Đoài, Giáo Phận Vinh, mỗi dịp đi nghĩ hè, Ngài thường đưa một số đại Chủng sinh đi theo, đến một xứ nào đó, để trình bày về một vấn đề Thần học, hoặc Triết học. Cách trình bày rất bình dân, dễ hiểu, ai cũng có thể tiếp thu.
    Về sự nghiệp văn hóa: Cha Gioan Baotixita Trần Thanh Ngoạn là một "học giả thầm lặng. Có thể gọi Ngài là Nhà Thần học uyên thâm của Giáo Hội Việt Nam".(lời Đức Cha Phêrô Trần Xuân Hạp) Bẩm sinh thông minh, hiếu học, say mê đọc sách. Thích nghiên cứu, sưu tầm đủ loại vấn đề, ghi chép thành "Fiches". Các học trò của Ngài đều được khuyến khích viết Fiches. Ngài có một bộ Fiches khổng lồ mà Ngài gọi là "Silva rerum". Nghĩa là: như một khu rừng tài liệu văn hóa. Rất tiếc là kho tàng quý báu này đã bị tiêu tán mất 2 lần, vào năm 1955(di cư vào Nam) và 1975 (thống nhất đất nước).
    Chính Ngài đã tâm sự thế này: Trong đời Linh mục của tôi đến nay(1975) đã trên 40 năm. Tôi thích đọc sách, nghiên cứu, sưu tầm, rồi làm ra những Répertoires, những feuilles volantes, notes… Có thứ Fiches theo hệ thống decimale có thứ Fiches à la file … Có khi viết ra thành tập như tập "Thế giới vô cùng lớn", "Thế giới vô cùng nhỏ", "Khoa học có thể tạo nên vật sống được không, theo phương diện tín lý"? "Đức tin và Tín ngưỡng", "Đức tin và luân lý", Đức tin và Tôn giáo", "Suy luận về định nghĩa Đức tin theo thần học cổ điển", "Thần học cổ điển và Thần học Thánh Kinh", "Cho được sống mầu nhiệm Đức tin"…
    Còn nhiều tập khác, Ngài không thể nhớ hết. Trong đời Ngài, có 2 lần mất mát mà Ngài cho là l?n nhất, vì là mất những cái mà Ngài cho là Quý Hóa nhất. Đó là mất những biên tập, những ghi chép nói trên. Mỗi lần mất như vậy, là mất hết những công trình sưu tầm trong 20 năm, từ khi làm Giáo sư Tiểu rồi Đại Chủng Viện (1935-1955). Biến cố đất nước chia đôi và cuộc di cư khiến Ngài không mang được gì.
    Tại miền Nam, Ngài lại khởi công sưu tầm, biên chép làm Fiches, ghi notes … và biên tập, như tập "những đặc điểm ngoại thường trong Hiến chế Vui mừng và Hy vọng", và tập viết bằng Pháp văn. "Essai d''une nouvelle exposition de la doctrine Eucharistique "… Những tập Ngài yêu quý nhất là tập "Cho được sống mầu nhiệm Phục Sinh" đang viết dở dang, dày 400 trang vở học sinh, chữ nhỏ. Đùng một cái, vừa đúng 20 năm sưu tầm, tức là ngày 10/03/1975, nhà Ngài bị đạn pháo bắn cháy thiêu hủy tất cả tài sản.
    Sau lần tổn thất to lớn này, Ngài không còn hy vọng tiếp tục công trình sưu tầm, nghiên cứu, vì một phần tuổi già, sức yếu, một phần không thể kiếm lại và mua sắm được những sách vở, tài liệu như trước. Thỉnh thoảng, - như một quán tính, - Ngài vẫn cố nhớ lại những gì Ngài đã viết, đã nghiên cứu. Sự hồi tưởng này giúp Ngài như được nếm những vị ngọt trên trời(Sapere coelestia). Sự cố gắng hồi tưởng và "bươi móc" ký ức, theo Ngài, không những giúp ích thiêng liêng, mà còn có thể thu thập được một số "mãnh vụn"(Fragmenta). Nếu không được "12 thúng" thì ít ra cùng được vài "nhúm tay". Như vậy, cũng không phải là uổng công dã tràng! (Colligite quae superaverunt fragmenta, ne pereant).
    Người ta càng khâm phục và ca ngợi trí thông minh sâu sắc của Cha Gioan Baotixita Trần Thanh Ngoạn, khi biết rằng, tuy được hấp thụ một nền Thần học cổ điển, kinh viện, thời Trung cổ, thế nhưng, Ngài đã có một ngòi bút phân tích và tổng hợp rất hệ thống. Chúng ta hãy đọc những "Fragmenta" Ngài viết trong thời gian nghỉ hưu và bệnh tật :
    1. Đức Tin Phục Sinh.
    2. Những đặc điểm ngoại thường trong Hiến chế Vui mừng và Hy vọng.
    3. Thiên Chúa là Tình Yêu.
    4. Bí tích Thánh Thể theo trào lưu Thần học thời đại Vaticanô II.
    5. Thánh Thần ban sự sống.
    6. Nghệ thuật thuyết giảng của Linh mục.
    7. Thần học cổ điển và Thần học Thánh Kinh.
    8. Đức Tin Và Tín Ngưỡng.
    9. Thế giới vô cùng lớn.
    10. Thế giới vô cùng nhỏ.
    (Viết theo tài liệu do con cháu Cha G.B Trần Thanh Ngoạn cung cấp)
    Linh mục Antôn Vũ Thanh Lịch
    Uỷ Ban Văn Hoá Truyền Thông Giáo phận Banmêthuột
    Chữ ký của Damsan
    Nàng đẹp quá, bạn tình ơi, đẹp quá !
    Đôi mắt nàng là một cặp bồ câu.

    (Dc 1,15 )


  4. #4
    dominico_dung's Avatar

    Tuổi: 56
    Tham gia ngày: Nov 2007
    Tên Thánh: Dominico
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Đàng trong
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 2,836
    Cám ơn
    6,848
    Được cám ơn 17,666 lần trong 2,614 bài viết

    Default Chân dung Linh-Mục Việt Nam

    Linh mục Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp (897–1946)



    Một mẫu gương mục tử: Sống chết vì đoàn chiên



    Ai đã từng đến du lịch ở vùng đồng bằng sông Cửu Long có lẽ sẽ không thể bỏ qua một điểm hành hương nổi tiếng: Tắc Sậy. Từ những năm của thập niên 1980 trở đi, hằng năm cứ vào ngày 11–12/3 dòng người lương giáo từ các nơi tuôn về Tắc Sậy, trên nhiều chiếc xe đò chở khách người ta còn có thể thấy hình một vi linh mục mặt vuông chữ điền rất dễ mến. Họ đến Tắc Sậy để làm gì vậy? Thưa để kỷ niệm lễ giỗ của một vị linh mục có tên là Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp.

    Đôi dòng tiểu sử

    • Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp sinh ngày 1-1-1897, được Cha Giuse Sớm rửa tội ngày 2-2-1897 tại họ đạo Cồn Phước, làng Tấn Ðức, nay thuộc ấp Mỹ Lợi, xã Mỹ Luông, Chợ Mới, Tỉnh An Giang.
    • Cha ngài là Micae Trương Văn Đặng (1860-1935), mẹ ngài là Lucia Lê Thị Thanh. Gia đình sinh sống tại họ đạo Cồn Phước.
    • Năm 1904, lúc ngài lên 7 tuổi thì mẹ mất. Theo cha, gia đình dời lên Battambang, Campuchia, sinh sống bằng nghề thợ mộc. Tại đây, thân phụ ngài tục huyền với bà Maria Nguyển thị Phước, sinh năm 1890, quê quán họ Mỹ Luông, Chợ Mới, An Giang. Kế mẫu đã sinh cho ngài người em gái tên là Trương thị Thìn (1913), hiện còn sống tại họ đạo Bến Dinh, xã Tân Hoà, huyện Thanh Bình, tỉnh Ðồng Tháp.
    • Năm 1909, cha Phêrô Lê Huỳnh Tiền cho ngài vào Tiểu chủng viện Cù lao Giêng, xã Tấn Mỹ, Chợ Mới An Giang. Mãn Tiểu chủng viện, ngài lên Ðại chủng viện Nam Vang, Campuchia (lúc đó các họ đạo khu vực Ðồng bằng sông Cửu Long trực thuộc giáo phận Phnom Penh, Campuchia).
    • Năm 1924, sau thời gian tu học, ngài được thụ phong linh mục tại Nam Vang, thời Ðức cha GB. Chabalier. Lễ vinh quy và mở tay được tổ chức tại nhà người cô ruột là bà Sáu Nhiều, tại họ đạo Cồn Phước.
    • Năm 1924-1927, được bề trên bổ nhiệm làm cha phó họ đạo Hố Trư, một họ đạo của người Việt Nam sinh sống tại tỉnh Kandal, Campuchia.
    • Năm 1927-1929, ngài về làm giáo sư tại Tiểu chủng viện Cù lao Giêng.

    Sống chết vì đoàn chiên


    Tháng 3 năm 1930, ngài về nhậm họ đạo Tắc Sậy. Trong những năm làm cha sở, ngài quan hệ, giúp đỡ, thành lập nhiều họ đạo vùng phụ cận như: Bà Ðốc, Cam Bô, An Hải, Ðầu Sấu, Chủ Chí, Khúc Tréo, Ðồng Gò, Rạch Rắn.

    Theo lời kể của ông Giacôbê Huỳnh Văn Lập 76t, ngày xưa là chú bé giúp lễ ở với cha (ông Ba Lập hiện vẫn còn sống ở tại Tắc Sậy) thì cha Diệp rất hiền nhưng khi giảng thì có lúc giọng cha rất hùng hồn mạnh mẽ, có lúc lại rất êm đềm. Cha cũng rất thương người nghèo: ông còn nhớ khi có những người nghèo đói bất kể lương giáo hay người lỡ đường cha đều kêu vào rồi mở lẫm lúa cho họ lấy lúa đem ra xay giã lấy gạo (vì lúc đó không có nhà máy xay lúa như bây giờ).

    Hoàn cảnh xã hội nhiễu nhương vì chiến tranh giữa Nhật và Pháp, dân chúng nhiều người di tản. Cha Bề trên điạ phận Phêrô Trần Minh Ký ở Bạc Liêu kêu gọi ngài lánh mặt; người Pháp 3 lần đem xe đến rước, khuyên ngài tạm lánh khi nào tình hình yên ổn thì trở về họ đạo, nhưng ngài trả lời: “Tôi sống giữa đoàn chiên và nếu có chết cũng giữa đoàn chiên. Tôi không đi đâu hết.”

    Ngày 12-3-1946, ngài bị Nhật bắt cùng với trên 70 người giáo dân tại họ Tắc Sậy, tất cả bị lùa đi và nhốt chung tại lẫm luá của ông giáo Sự ở Cây Dừa. Cũng theo lời kể của ông Ba Lập thì họ chất rơm chung quanh tính đốt tất cả, nhưng cha Diệp đứng ra tranh đấu cho dân, đồng thời an ủi những người cùng bị giam. Cha khuyên giáo dân ăn năn tội và giải tội cho họ. Cha bị mời đi làm việc 3 lần và lần thứ ba thì không thấy trở về nữa. Sau khi cha bị mời đi lần thứ ba bổn đạo thấy cửa lẫm để mở ngỏ và họ đã trốn thoát.

    Sau đó vài ngày giáo dân đã tìm thấy xác ngài từ một cái ao của ông giáo Sự, với vết chém sau ót ngang mang tai và thân xác trần trụi như Chuá Giêsu trên thập giá.

    Thi hài ngài được vớt lên và chôn cất trong phòng thánh nhà thờ Khúc Tréo. Ðến năm 1969, hài cốt ngài được di dời về nhà thờ Tắc Sậy, nhiệm sở của ngài thi hành chức vụ chủ chăn trong 16 năm. Ngôi nhà mồ của ngài hiện nay, được trùng tu và khánh thành ngày 4-6-1989. Ngài là cha sở thứ nhì của họ đạo Tắc Sậy.

    Chứng nhân Đức Ái

    Lễ giỗ đầu đầu tiên do cha Antôn Vũ Xuân Vinh tổ chức năm 1979 với thành phần tham dự đến từ những họ đạo chung quanh (chỉ khoảng chừng 30 người). Nhưng dần dần số người nhận được ơn lành nhờ lời bầu cử của cha Diệp ngày càng nhiều và họ đổn thổi về sự hiển linh của ngài nên rất đông đảo người lương cũng như giáo trong nước và cả ngoài nước đều tuôn về Tắc Sậy để cầu khấn với ngài. Số khách hành hương trong ngày lễ giỗ ngày càng tăng, con số lên đến hàng chục ngàn người và không chỉ trong ngày lễ giỗ mà còn thường xuyên trong năm vẫn có những người đến hành hương.

    Vì thế kể từ 21-01-1997 Đức Giám mục Cần Thơ đã chính thức thành lập Trung tâm Truyền giáo Phanxicô tại Tắc Sậy. Từ nơi đây rất nhiều người đã nhận được những ơn lành phần xác cũng như phần hồn.


    Nếu ngày xưa ngài đã vì thương đoàn chiên mà sẵn sàng sống chết vì họ thì ngày nay ngài lại trở thành chứng nhân của Đức Ái qua biết bao nhiêu ơn lạ nhờ lời bầu cử của ngài cho tất cả những ai chạy đến với ngài.


    GP Cần Thơ
    (Thông tấn xã Công Giáo Việt Nam: http://www.vietcatholic.org/News/Html/68782.htm)

    Chữ ký của dominico_dung
    "ĐỪNG SỢ, BỞI VÌ CHA GỌI ĐÍCH DANH CON" (Isaia 43,1)

  5. Có 21 người cám ơn dominico_dung vì bài này:


  6. #5
    dominico_dung's Avatar

    Tuổi: 56
    Tham gia ngày: Nov 2007
    Tên Thánh: Dominico
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Đàng trong
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 2,836
    Cám ơn
    6,848
    Được cám ơn 17,666 lần trong 2,614 bài viết

    Default

    Linh Mục Phanxicô Trương Bửu Diệp


    * Đức Kitô dạy: "Người mục tử tốt lành hiến mạng sống vì đàn chiên", Linh mục Phanxicô Trương Bửu Diệp đã thực hiện lời Đức Kitô trong cuộc sống. Ngài đã hiến mạng sống vì đàn chiên. Chúng ta có thể tóm tắt cuộc đời của Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp là:

    Tận hiến cuộc đời cho Thiên Chúa
    Hy sinh kiếp sống giúp con người.



    Và:


    Sống hiến dâng phó thác
    Chết nêu gương sáng ngời


    để:


    Một đời dâng hiến
    Trọn kiếp vinh quang.

    Hàng năm, khi tiết xuân đương độ dâng cao, vào những ngày 11 và 12 tháng Ba dương lịch, là lúc hàng ngàn người không kể lương giáo, từ khắp nơi dắt dìu nhau, nô nức đến họ đạo Tắc Sậy, một họ đạo nhỏ bé thuộc Giáo Phận Cần Thơ, nằm trong địa bàn của Ấp 2 Xã Tân Phong, Huyện Giá Rai, Tỉnh Bạc Liêu, là nơi chôn cất hài cốt và di ảnh của Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp, để khấn xin, để trút những nỗi lo, gánh nặng vật chất, tinh thần để nhờ ngài chuyển lên Thiên Chúa và Thiên Chúa đã chấp nhận, chúc phúc cho những khấn ước, nguyện xin.


    (Theo tài liệu của chính Lm Lê Ngọc Tỏ, cha sở họ Tắc Sậy hiện nay)

    LM Lê Ngọc Tỏ

    (Thông tấn xã Công Giáo Việt Nam: http://www.vietcatholic.org/News/Clients/ReadArticle.aspx?ID=33082)
    Chữ ký của dominico_dung
    "ĐỪNG SỢ, BỞI VÌ CHA GỌI ĐÍCH DANH CON" (Isaia 43,1)

  7. Có 14 người cám ơn dominico_dung vì bài này:


  8. #6
    dominico_dung's Avatar

    Tuổi: 56
    Tham gia ngày: Nov 2007
    Tên Thánh: Dominico
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Đàng trong
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 2,836
    Cám ơn
    6,848
    Được cám ơn 17,666 lần trong 2,614 bài viết

    Default

    Một lần viếng thăm Nhà thờ Tắc Sậy
    và mộ phần cha Phanxicô Trương Bửu Diệp


    Đáp chuyến xe đò đi Cà Mau tài nhứt từ Xa cảng Miền Tây khi tiết trời hãy còn tờ mờ sáng, thế mà đến lúc đứng bóng chúng tôi mới đến được Nhà Thờ Tắc Sậy, thuộc tỉnh Bạc Liêu, nơi khách hành hương vẫn gọi là “Nhà Thờ Cha Diệp”. Điều bất ngờ đầu tiên đối với tôi là tấm biển trước Nhà thờ: “Thánh đường Công Giáo Tắc Sậy”, một sự minh định xác thực đây chính là nhà thờ của người Công giáo, và đây cũng là cách ghi biển hiệu của các nhà thờ vùng này khi tôi đi dạo vòng quanh Bạc Liêu, chứ không như ở Sài Gòn ghi là giáo xứ …

    Điều bất ngờ thứ hai, chính là sự đồ sộ của công trình xây dựng nhà thờ đang tiến triển, chứ không như trong trí tưởng tượng của tôi vì qua tài liệu được biết nơi đây chỉ là một họ đạo, bất ngờ nhưng rõ ràng tôi cũng khá lỗi thời vì công trình được khởi công từ 24/02/2004 nhưng tới giờ tôi mới biết. Bất ngờ nhưng cũng là tín hiệu mừng vì nhà Chúa đang được xây mới khang trang nơi miền đất gần tận cùng phương Nam này, vùng đất mà cách đó không xa, nhà nước lấy Nhà thờ Công giáo Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, thị xã Bạc Liêu xây nhà trẻ mà đến nay tiếng kêu của Đức Cha Emmanuel Lê Phong Thuận và các linh mục Giáo phận Cần Thơ bao năm nay vẫn rơi vào khoảng không.



    Cầu xin cùng cha Trương Bửu Diệp

    Điều bất ngờ thứ ba là tôi gặp được gia đình hai anh chị nghệ sĩ hài từ Hoa Kỳ xa xôi đang cầu nguyện nơi mộ phần Cha Phanxicô: Quang Minh - Hồng Đào, tiếc là anh chị đi vội quá nên không kịp phỏng vấn, không biết họ đến vì trên tinh thần con cái Chúa (họ là người Công Giáo???) hay chỉ vì “tiếng tăm” của Cha Diệp? vì theo tôi được biết rất nhiều người không Công Giáo cũng đến thăm mộ phần Cha Phanxicô để cầu nguyện riêng. Cầu mong sao Cha Phanxicô vinh hiển xin Chúa Thánh Thần soi sáng để những người đến thăm mộ phần Cha luôn trở về với Chúa như là những người Kitô hữu đích sống theo đường lối Tin Mừng. Mặc dù Lễ giỗ cha Phanxicô đã qua gần cả tuần và dù cái nắng chói chang của một buổi trưa Thứ Bảy mùa nắng, và nhưng dòng người hành hương vẫn lác đác tiến vào khu mộ Cha Phanxicô để cầu nguyện, xin Cha cầu bàu cùng Chúa trong khung cảnh hết sức tĩnh lặng.

    Sau khi cầu nguyện, đến thăm phòng truyền thống có bức tượng bán thân Cha Phanxicô, tiểu sử của ngài, của họ đạo Tắc Sậy vô số những khánh tạ ơn Cha Diệp bằng vàng, tôi thật sự cảm phục Cha đã cầu bàu để Chúa ban ơn cho nhiều người nhưng tôi cũng tiếc là những đồng tiền để dâng khánh vàng như thế phải chi được dùng để chia sẻ những bác gạo, manh áo cho người nghèo, cô thế… Xin Cha Phanxicô cầu Chúa sáng soi để những người đã từng đến Tắc Sậy biết sẻ chia mảnh cơm, manh áo cho những người xung quanh.

    Chúng tôi tìm gặp cha Trần Đức Hùng, hiện đang coi sóc họ đạo Tắc Sậy, nhưng ngài vắng nhà và cũng được biết ngài phải đi bệnh viện vì tắc ruột mới về. Chúng tôi tìm đến phòng xin lễ, tiếp chuyện chúng tôi là một nữ tu (xin được giấu tên), Sr. nói rằng hôm lễ giỗ cha Diệp khách hành hương đến rất đông, họ tham dự Lễ giỗ chật kín cả khuôn viên rất rộng của nhà thờ, chỗ trọ hiện hữu của họ đạo thì luôn quá tải, khách hành hương phải thuê bên ngoài. Sr. cho biết đa số những ý chỉ xin lễ thường là cầu bình an, xin chữa bệnh, cầu cho công ăn việc làm. Sr. cũng cho hay Nhà thờ sẽ được khánh thành vào năm sau nhân dịp Lễ giỗ cha Diệp, Sr. nói người dân ở đây rất nghèo, Cha Hùng cũng đã phát gạo, thực phẩm… trợ giúp người nghèo trong vùng và đa số tiền xây nhà thờ được quyên góp từ khách hành hương. Sr. nói rằng ngoài nhà thờ chính được xây mới, họ đạo còn xây thêm những khu dành cho khách hành hương trú ngụ họ đạo hiện nay luôn trong tình trạng quá tải. Đang trò chuyện với chúng tôi, thì có một đoàn 2 xe khách 50 chỗ ngồi đến từ La Ngà, Đồng Nai đến hỏi Sr. chỗ trọ, nhưng Sr. nói chỉ còn một phòng tập thể chỉ chừng 20 người nghỉ qua đêm và họ đành phải tìm thêm chỗ trọ bên ngoài. Cầu Chúa cho những người hành hương ở khắp mọi nơi khi chạy đến với Chúa thì không rơi vào cảnh nhọc nhằn.

    Thời gian ngắn ngủi tại Nhà thờ không kịp để chúng tôi tham dự Thánh Lễ chiều Thứ Bảy vì phải trở lại thị xã Bạc Liêu theo như đã hẹn để viếng thăm người bà con. Nhưng lại thêm một bất ngờ nữa là trên một bàn thờ của người bà con này (tôi chưa hề biết mặt qua) có ảnh thờ Cha Diệp và tượng Thánh Gia Thất tuy họ là người Lương. Con cầu xin Chúa cho một ngày nào đó họ được trở về với Chúa.

    Một chuyến đi ngắn ngủi, nhưng xúc động vì gặp bao bất ngờ nhất là đến nơi đây tôi càng cảm thấy thân phận mình yếu hèn khi đọc tiểu sử Cha Phanxicô và chính vì điều đó càng thúc giục tôi trở về với Chúa trên con đường đích thực, nhất là trong mùa Chay Thánh này.




    Nguyễn Hoàng Thương
    (Thông tấn xã Công Giáo Việt Nam: http://www.vietcatholic.org/News/Clients/ReadArticle.aspx?ID=42458)
    Chữ ký của dominico_dung
    "ĐỪNG SỢ, BỞI VÌ CHA GỌI ĐÍCH DANH CON" (Isaia 43,1)

  9. Có 13 người cám ơn dominico_dung vì bài này:


  10. #7
    dominico_dung's Avatar

    Tuổi: 56
    Tham gia ngày: Nov 2007
    Tên Thánh: Dominico
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Đàng trong
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 2,836
    Cám ơn
    6,848
    Được cám ơn 17,666 lần trong 2,614 bài viết

    Default NGƯỜI ĐÀN BÀ TÌM VỀ “TẮC SẬY”

    NGƯỜI ĐÀN BÀ TÌM VỀ “TẮC SẬY”


    Ông Da-kêu, người đứng đầu những người thu thuế và là người giầu có, tìm cách để cho biết Chúa Giêsu là ai, nhưng không được vì dân chúng lại đông mà ông ta lại lùn. Ong liền chạy về phía trước, leo lên một cây sung để xem Chúa Giêsu. Khi Chúa Giêsu tới chỗ ấy, thì Người nhìn lên và nói với ông:“ Này ông Da-kêu, xuống mau đi vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông “. Ong vội vàng tụt xuống và đón tiếp Người. Thấy vậy mọi người xầm xì với nhau:“Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!”. Còn ông Da-kêu thì đứng mà thưa với Chúa rằng:” Thưa Ngài, này đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn.” Chúa Giêsu nói về ông ta rằng:” Hôm nay ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Ap-ra-ham. Vì con người đến để tìm và cứu những gì đã mất. ( Luca,19,1-10)

    Khi đọc xong bài phúc âm này, tôi liên tưởng ngay đến người đàn bà bằng xương bằng thịt và rất gần gũi với tôi vì hai chữ Kontum thân yêu. Chị tên là Mỹ Diễm, năm nay 35 t. Chị sinh sống tại thành phố Pleiku trong một gia đinh giầu có.

    Đến tuổi 20, chị lấy chồng rồi chuyển về thị xã Kontum. Chồng chị tên Minh là bộ đội phục viên. Sau khi xuất ngũ anh xin vào làm trong ban tài chánh của thị xã, rồi với ý chí phấn đấu qua hơn 10 năm, anh trở thành cán bộ lãnh đạo cấp cao của một công ty có vai vế trong tỉnh. Còn chị thì làm y tá trong bệnh viện đa khoa của tỉnh.

    Sau gần 15 năm sống với nhau, chị vẫn không có con để bồng ẫm, để nối dõi tông đường. Chị khao khát. Nỗi khát khao vô tận. Chị hao gầy mòn mỏi trông mong. Lê thê. Bất cứ ai chỉ bầy vẽ loại thuốc hiếm muộn nào chị cũng uống cũng cố chạy cho bằng đuợc để tìm lấy hy vọng dù mong manh. Mãi rồi cũng vô vọng.

    Khi bệnh viện Từ Dũ đã thành công với những công trình thụ thai trong ống nghiệm, chị hớn hở bàn cùng chồng để tiếp cận những tiến bộ mới trong y khoa tại Saigon. Cả hai đã mau chóng ưng thuận và vội vã vào thành phố phồn vinh đó để ước nguyện được thành đạt. Tài chánh thì không còn là điều bận tâm vì anh Minh lúc này đã là tổng giám đốc của một công ty nhà nước rất có uy tín. Sự quyết tâm rất cao ngút vời vợi. Chị xin nghỉ việc để vào thành phố bám đuổi những thành quả của y học. Chị mua lại một căn nhà làm nơi cư trú trong suốt thời gian lưu lại nơi đây để tiến hành nhiều cuộc xét nghiệm cần thiết và đòi hỏi chi phí rất tốn kém. Sau nhiều tháng chờ đơi, kết quả xét nghiệm làm chị ngỡ ngàng chao đảo. Người chồng của chị đã không có tinh trùng trong tinh dịch mà chị đã bao năm ôm ấp trông ngóng vổ về. Chi ngao ngán rồi than thân trách phận:“ Sao cái số của tôi đen đủi đến thế! “Sao qủa tạ” đã chiếu lầm lên đầu chị rồi! Lạy trời xin cho con một chút, một chút mầm sống thôi, nhưng trời cao nào có thấu! ”. Chị đi không biết cơ man nơi nào mà kể. Chùa Bà. Chùa Ong. Chùa nào linh thiêng là chị tới.

    Thế rồi cơ hội cũng đến với chị khi chuyên gia phụ sản riêng của chị cho chị biết phải cấy mô của tinh hòan nơi người chồng may ra mới có chút hy vọng. Nhưng sắc xuất không cao. Với phương pháp cấy mô này dòi hỏi không ít tốn kém. Đúng của trời cho thật vô giá. Anh Minh và chị đi đi lại lại từ Kontum đến Saigon như cơm bữa. Nếu không phải là sếp lớn thì chẳng ai dám mặn mòi với những tiến bộ khoa học tân tiến đang đi dần vào hoàn thiện này. Đã phóng lao phài theo lao cho đến cùng. Đó là suy nghĩ không còn con đường nào khác trong niềm khát khao cháy bỏng này. Mặc dầu để có một đứa con cầu tự chị cũng đã nghĩ đến vài phương cách khác mà ai đó đã chỉ vẽ cho hươu chạy. Nào là cấy tinh trùng của ngân hàng. Nào là sinh nở hộ. Rồi còn có cả một phương sách táo bạo là ăn nằm với người đàn ông khác. Bao nhiêu tuyệt kế là bấy nhiêu dầy vò khắc khoải. Thế rồi chị cũng đi đến một kết luận dứt khoát khi tình yêu với chồng vẫn mãi là tuyệt vời cho dù có phải bán cả tài sản, cơ đồ. Chị đã phải bỏ ra cả những trăm triệu nhưng sau hai lần vẫn trắng tay hòan tay trắng. Chị đã thất vọng. Đã hao tiền tốn của. Đã ngậm ngùi cay đắng. Chị trở về sống với mẹ tại Phố núi.

    Chị đi đây đi đó cho khuây cho khỏa. Chị thăm quê ngoại nơi xứ Huế mộng mơ và cổ kính. Chị chán chường và bạc nhược. Chẳng còn thiết tha gì với đời đã cho chị cay đắng tuyệt vọng dù ước mơ đó bất cứ người đàn bà cũng đều có. Thế nhưng chị lại không!

    Nơi làng quê chị cũng nguôi ngoai cơn khát đến cháy bỏng. Không gian yên tĩnh hiền hòa cũng lắng đọng phần nào sự nóng rát khô khốc kia. Tình người nhân hậu yêu thương nơi đây cũng lan truyền sang chị. Bà mợ của chị mà cậu đã chết là người bổn đạo gốc nên hiểu rất rõ nhửng ẩn khúc trong lòng chị. Bà cảm thông sâu sắc. Mất mát thầm kín nhưng chan chứa của một người đàn bà không được làm mẹ. Bà so đo. Bà dày vò. Bởi cháu rể của bà là một chuyên chính vô sản. Thần thế. Uy lực lại tham vọng. Còn cháu gái không ít nhiều ảnh hưởng cái vô thần bên cạnh sườn của mình và trung thành với tình yêu ấy.

    Trong gia đình dòng tộc của bà thì lại yêu mến Chúa đã bao đời nay. Trước những gian nan thử thách bà chỉ cỏn biết trông cậy vào Chúa vá Mẹ thánh Ngài. Sau nhiều ngày cầu khấn bà đi đến quyết định phải khuyến khích cháu gái của bà đến gặp một vị thánh mà bà đã nghe nhiều nguời ca tụng vì được hưởng ơn lành cua Ngài. Đó là cha Phanxicô Trương Bửu Diệp. Một linh mục đã bị chặt đầu vì danh Chúa và hiện Ngài được chôn cất tại “Tắc Sậy”,một làng quê thuộc tỉnh Cà Mâu, nơi cuối trời đất Việt.

    Với tình yêu nhiệm mầu vào Thiên Chúa, bằng sự cậy trông nơi vị linh mục linh thiêng của người Việt, bà đã thuyết phục được cháu gái não nề của bà trong niềm hạnh phúc vô biên.

    Chị Diễm trở về nhà mẹ và cùng người em gái khăn gói đi tìm họ đạo Tắc Sậy nơi mà không biết bao nhiêu cuộc hành hương từ bắc chí nam đã kéo về miền đất xa xôi mà linh thiêng ấy. Trước khung cảnh nờm nợp người nơi xa xôi hẻo lánh này, chị càng thêm niềm tin hơn. Đứng trước ngôi mộ đầy ăm ắp hoa, nhang nến nghi ngút và vô vàn những tấm bảng tạ ơn óng ánh, sau gần một ngày rong ruổi mệt nhoài, chị đã khấn. Đôi mắt chị nhìn sâu vào đôi mắt to đen của cha Phanxicô, chị thầm nói:” Lạy cha,con đã khao khát bao năm trời một đứa con để ẵm bồng để chăm sóc. Con đã đi nhiều nơi cúng bái nhiều thần linh. Nhưng vẫn chưa được thánh nhân nào phù hộ. Nay con lặn lội đường xa đến đây với niềm tin nơi cha sẽ chúc phúc. Xin cha cho con ơn lành của cha. Tạ ơn cha. Tạ ơn cha đến muôn đời.”

    Rồi chị cung kính bỏ vào hòm tạ ơn một phong bì để chia sẻ với người nghèo như mợ chị đã căn dặn nhắn nhủ kỹ luỡng trước khi hành hương. Hôm ấy chị ra về trong lòng thanh thản. Miệng tươi cười bỏ lại sau lưng nổi não nề u uất mà thời gian vừa qua chị đã lúynh quýnh xót xa đổ nhào.

    Về lại Saigon, chị gọi cho chồng mau chóng đến bệnh viện để tiếp tục thực hiện lần thứ ba bằng phương pháp cấy mô nơi ống nghiệm. Chị ở lại nơi khách sạn để yên tĩnh ngọt ngào chờ đợi tia hy vọng đang dạt dào trong tâm hồn đã bay bổng rực rỡ. Chị như không tin vào tai mình khi chuyên gia phụ sản cho chị biết tin tinh trùng của chồng chị đả đậu vào trong trứng của chị và đã nẩy mầm sống. Chị run lên trong sung sướng. Trái tim chị rôn rã như đảo lộn lên vì tin mừng này. Chị mở mắt reo vui nhảy nhót khi nhìn lên đôi mắt to đen sáng láng trong tấm hình đã lộng lẫy lồng khung ảnh mạ màu vàng ánh mà chị đang đặt nơi đầu giường trong phòng của khách sạn. Sau những phút trầm lắng như để nuốt tất cả mọi rung động vào trong cõi sâu thẳm, chị bấm máy báo tin vui cho chồng. Với em gái, chị tha thiết van nài bằng mọi cách trở lại nơi mộ cha Phanxicô để tạ ơn Ngài một lần nữa.

    Thời gian theo dỏi thai phát triển cũng đến kỳ chuyển sang an tòan nơi cơ thể của chị. Chị đến ở với người em trai vừa mới mua nhà tại con hẻm nho nhỏ của tôi. Chị biết tôi là người công giáo khi chị nhờ điện thoại gọi về cho gia đình. Từ đó tôi mới biết chị, được chị trao đổi tâm tình. Thật đáng quí! Vô vàn trân trọng! “Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất “.

    Vài ngày sau chị ra thăm tôi. Lúc này tôi đang mở trang web cuuthe.com. Hình ảnh cha Phanxico đẫm máu từ cổ chảy xuống đang lồng lộng một màu đỏ rực trước màn hình vi tính. Tôi mời chị ngồi trước máy để nhìn ngắm hình ảnh người đã cho chị mầm sống đang mỗi ngày mổi phát triển to ra thành hình người. Chị đã khóc. Đôi mắt đỏ như phản chiếu từ màn hình hắt ra. Tôi nhìn Ngài như bị thôi miên. Tôi thầm nguyện:“ Xin Chúa lòng lành cho con thêm niềm tin yêu. Xin cho con ân sủng để tìm cách giúp người đàn bà này đã nhận ơn lành thánh của Chúa nhưng lại chưa biết Chúa là Cha mọi loài. Xin giúp chị tìm gặp Chúa vì Chúa đến để tìm và cứu những gì đã mất. Amen “


    Saigon22/11/03

    Phêrô Vũ văn Quí
    (Thông tấn xã Công Giáo Việt Nam: http://www.vietcatholic.org/News/Clients/ReadArticle.aspx?ID=17611)
    Chữ ký của dominico_dung
    "ĐỪNG SỢ, BỞI VÌ CHA GỌI ĐÍCH DANH CON" (Isaia 43,1)

  11. Có 13 người cám ơn dominico_dung vì bài này:


  12. #8
    ailaudu's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Ho Chi Minh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 389
    Cám ơn
    316
    Được cám ơn 1,681 lần trong 344 bài viết

    Default

    Theo mình được biết thì những tiểu thương ở các chợ đầu mối nhất là chợ Bình Tây, rất tin tưởng nơi Cha. Kể cả người bên Lương. Họ thờ phượng Cha ngay tại sạp bán ngoài chợ...

    Xin bổ sung thêm một vài tấm hình về Cha Trương Bửu Diệp...


    Còn đây là 2 tấm hình chụp tại nhà mình...
    Gia đình mình đặt tượng thờ Cha ngay trước cổng nhà. Vì ba mình nói : "Ngoài được ơn của Chúa và Mẹ thì chúng ta còn được ơn của Cha Phanxicô nữa..."





  13. Có 15 người cám ơn ailaudu vì bài này:


  14. #9
    dominico_dung's Avatar

    Tuổi: 56
    Tham gia ngày: Nov 2007
    Tên Thánh: Dominico
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Đàng trong
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 2,836
    Cám ơn
    6,848
    Được cám ơn 17,666 lần trong 2,614 bài viết

    Default

    Chính xác, nếu có ai ở miền Tây Nam bộ thì càng thấy rõ điều này hơn nữa!
    Có thể xem Cha Diệp là một trong những Vị Linh Mục Tử đạo gần thời chúng ta nhất!
    Chữ ký của dominico_dung
    "ĐỪNG SỢ, BỞI VÌ CHA GỌI ĐÍCH DANH CON" (Isaia 43,1)

  15. Có 13 người cám ơn dominico_dung vì bài này:


  16. #10
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,695 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha Giuse Nguyễn Tiến Giản
    (1941 – 1988)
    Một đời gian khó

    Cha Giuse Nguyễn Tiến Giản được nhiều người trong giáo phận Bắc Ninh nhận định là con người đã sống đúng như tên gọi của ngài: giản dị, đơn sơ, trong sáng, khiêm nhường… Trong suốt đời linh mục, cha đã cho thấy hình ảnh của một chủ chiên luôn nhiệt thành và âm thầm thực thi sứ vụ Chúa trao phó trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù là những lúc sống đời sống một người công nhân công trường biết bao khó khăn và cám dỗ, cũng như những lúc thực thi sứ vụ của người linh mục với biết bao khó khăn vất vả nhưng ngài vẫn luôn cho thấy một con người luôn sống Tin Mừng yêu thương.

    Cha Giuse Nguyễn Tiến Giản sinh ngày 11-10-1941 trong một gia đình đạo đức tại giáo xứ Tử Nê, giáo phận Bắc Ninh. Năm 1956, cậu Giản được gửi đi tu học tại Tiểu Chủng viện Gioan Hà Nội. Năm 1960, Tiểu Chủng viện bị buộc phải đóng cửa, cậu đành phải rời Nhà trường và trở về gia đình tiếp tục tự học triết và thần học.

    Trong hoàn cảnh xã hội vô cùng khó khăn tăm tối, thì đêm 13-7-1964, trong căn nhà nguyện nhỏ hẹp chưa đầy 8m2 tại Tòa Giám mục, Đức cha Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng, giám mục giáo phận Bắc Ninh, đã truyền chức linh mục cho thày Giản khi thày mới 23 tuổi. Lễ truyền chức diễn ra âm thầm, đơn giản, không kèn trống, hương hoa.

    Vì hoàn cảnh xã hội gian khó, nên tuy đã lãnh nhận thiên chức linh mục, cha Giuse Nguyễn Tiến Giản không được dâng lễ công khai. Là một linh mục, thay vì được Đức Giám mục sai đi phục vụ giáo xứ, thì ngày 4-10-1965, cha Giản lại bị chính quyền tỉnh Hà Bắc lúc đó quyết định “sai đi” làm công nhân giao thông cầu đường nơi các công trường trong phong trào “Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước”! Cha Giản đương nhiên trở thành “linh mục thợ” bất đắc dĩ vì chỉ được làm thợ, chứ không được làm lễ! Thiên chức linh mục của ngài cùng với việc cử hành các bí tích phục vụ cộng đoàn bị khép lại vô thời hạn. Thay vào đó là đời sống của người công nhân lang thang nay đây mai đó.

    Tuy nhiên, mọi sự đều sinh ích lợi cho những người yêu mến Chúa. Chính khi sống trong môi trường của những thanh niên xung phong, cha Giản lại có dịp để sống đời sống chứng nhân Tin Mừng yêu thương. Cha luôn sống tinh thần bác ái Kitô giáo và tìm cách đưa tinh thần hướng thiện vào lao động và các phong trào văn nghệ của công nhân. Đời sống chung với những người công nhân không thiếu những cám dỗ gọi mời, nhưng nhờ ơn Chúa và nhờ đời sống nội tâm sâu sắc, cha vẫn luôn giữ được lòng trung thành với Chúa, với lý tưởng cha đã chọn.

    Với tinh thần làm muối, làm men và ánh sáng trong môi trường sống, cha không những đã giữ được lý tưởng linh mục của mình mà còn luôn được mọi người xung quanh yêu mến. Từ một đối tượng phải cảnh giác, một thành phần đáng phải đưa đi cải tạo, thì chỉ sau một thời gian sống chung, cha Giản đã trở thành người “có cảm tình nhất” nơi mọi cán bộ và anh em công nhân. Để rồi vào ngày chia tay "anh Giản" đầu năm 1973, trước đông đảo nhiều người, ông thủ trưởng đơn vị đã nói đầy vẻ khâm phục và kính trọng: “Chúng tôi vui mừng được tiễn anh Giản về Toà Giám Mục để “thăng quan tiến chức”, nhưng cũng rất buồn vì tình cảm anh em sống gắn bó với nhau 8 năm trời nay phải xa cách. Cảm ơn anh đã để lại cho chúng tôi một tấm gương sáng trong cuộc sống”. Sau 8 năm lao động vất vả trong các công trường, cha Giản được trở lại Tòa Giám Mục.

    Ngày 2-1-1974, cha Giản chính thức được chính quyền tỉnh Hà Bắc công nhận là linh mục và bắt đầu công khai thi hành sứ vụ linh mục của mình. Sau đó, cha được Đức Giám mục giáo phận đặt làm cha quản hạt giáo hạt Bắc Giang trải rộng khắp tỉnh Bắc Giang, gồm 8 giáo xứ và 46 họ đạo với khoảng 10 ngàn giáo dân. Giáo hạt Bắc Giang lúc đó là một vùng vô cùng khó khăn cả vật chất lẫn tinh thần; các nhà thờ thì bị tàn phá gần hết, chỉ còn lại 4 ngôi nhà thờ vững chắc, còn giáo dân vùng này vẫn được coi là vùng khô khan nhất giáo phận, hơn nữa lại có nhiều thành phần ra sức chống phá đạo. Các hội đồng giáo xứ hầu hết đều có người của Mặt trận gây nhiều khó khăn cho việc điều hành giáo xứ.

    Ngày 25-04-1975, sau khi lãnh nhận phép lành của Đức Giám mục giáo phận và chào mọi người, cha Giản buộc túi balô vào xe và đạp xe một mạch vượt quãng đường 20 km đến nhận giáo xứ Bắc Giang. Không có cảnh tưng bừng đón chào cha xứ mới, mà đập vào mắt là cảnh giáo xứ hoang tàn khủng khiếp đã khiến cha phải rơi lệ. Nhà thờ xứ bị bom phá sập, đất đai nhà xứ bị một số giáo dân lấn chiếm, chỉ còn lại duy nhất ngôi nhà xứ 5 gian mà sau này được sử dụng làm nhà thờ. Mấy bà giáo dân đạo đức nghẹn ngào thưa với cha xứ mới: “Giáo xứ chúng con đổ nát lắm cha ơi”!

    Giữa cảnh hoang tàn, cha Giản đã cùng với giáo dân thu dọn, xếp lại những viên gạch nơi nhà thờ đổ nát, bắt đầu xây dựng lại giáo xứ. Từ đó, chính trên nền nhà thờ đổ nát này đã là nơi hội tụ tin yêu của hàng ngàn tín hữu trong giáo hạt Bắc Giang vào những ngài đại lễ. Tưởng cũng nên biết những qui định khắt khe của chính quyền trong những năm tháng linh mục của cha Giản như: ấn định thời gian cho mỗi buổi kinh lễ; không được dạy giáo lý hay tổ chức hội họp các đoàn thể Công giáo; khi tổ chức lễ lớn, cha xứ và hội đồng giáo xứ phải làm đơn xin phép chính quyền và các tín hữu tới dự lễ không được ngủ đêm trong khu nhà thờ, nhà xứ; linh mục xứ đi đâu và làm gì phải trình báo và công an cho phép mới được đi. Nhiều năm, cha bị cấm không được về Tòa giám mục Bắc Ninh hiệp thông tham dự thánh lễ Truyền Dầu thứ Năm Tuần Thánh. Tuy nhiên, những qui định khắt khe như thế vẫn không thể cản bước cha đi đến với đoàn chiên của ngài. Cha còn có một cuốn sổ ghi chi tiết tình hình sống đạo vẽ sơ đồ đường đi lối xóm của từng xứ họ.

    Giữa muôn vàn khó khăn, cha Giản đã mạnh mẽ cổ võ việc suy tôn Lời Chúa nơi các họ đạo, để nhờ Lời Chúa mà xây dựng sự hiệp nhất và nuôi dưỡng tín hữu sống tinh thần Tin Mừng. Đồng thời, cha dành nhiều thời gian để đào tạo và huấn luyện những tông đồ giáo dân nhiệt thành. Trước tiên là các hội đồng giáo xứ, cha có lịch trình gặp gỡ họ hàng tháng để huấn luyện họ hiểu biết thêm giáo lý, xây dựng đời sống đức tin trưởng thành, làm gương mẫu cho giáo dân và can đảm làm việc mục vụ được giao. Có một số thành viên hội đồng giáo xứ ban đầu thuộc thành phần chống đối, thì sau mấy năm làm việc với cha, họ đã trở thành những con người nhiệt tình, hết mình vì đạo Chúa.

    Cùng với việc huấn luyện hội đồng giáo xứ, cha tụ họp và đào tạo những người nam người nữ muốn tận hiến đời mình làm việc tông đồ phụng sự Chúa và phục vụ Giáo Hội. Cha cũng trực tiếp giảng dạy những môn học cần thiết cho các người trẻ có ý hướng đi tu, nhất là thăng tiến họ về đời sống nhân bản và tu đức. Nhiều người trong số này hiện nay đã trở thành linh mục và tu sĩ nam nữ đang phục vụ trong cánh đồng truyền giáo của giáo phận.

    Trong khi thi hành mục vụ, cha Giản đã sáng tác nhiều bài hát, vần thơ diễn tả nội dung Tin Mừng một cách đơn sơ, dễ hiểu, dễ học, dễ nhớ. Trong dịp Tuần Thánh, cha có nhiều sáng kiến mục vụ diễn tả cuộc thương khó và phục sinh Chúa Kitô đánh động lòng người. Đặc biệt trong dịp này, cha có thể ngồi tòa giải tội hầu như thâu đêm nhiều ngày để giải tội cho tín hữu từ nhiều nơi kéo đến.

    Không chỉ quan tâm đến việc cử hành các bí tích và nâng đỡ đời sống tâm linh của người tín hữu, cha Giản còn có những sáng kiến nhằm phát triển đời sống kinh tế cho những người nghèo. Thấy giáo dân mình lam lũ làm việc vất vả mà vẫn cứ nghèo, không đủ ăn, cha đã chỉ cách và cấp vốn nhỏ cho họ làm ăn. Cha chắt chiu từng đồng để có tiền âm thầm cấp vốn cho những gia đình nghèo mua trâu bò, mua lợn gà để chăn nuôi sinh lời. Sau khi cha qua đời nhiều người đã đến xin hoàn vốn cho Tòa Giám Mục.

    Thế rồi, cuộc đời luôn có những bất ngờ ngoài mong muốn của con người. Ngày 4-8-1988, cha Giuse Nguyễn Tiến Giản đã đột ngột qua đời trong một tai nạn giao thông khá bất ngờ bởi lẽ ngài là người nổi tiếng cẩn thận và điềm tĩnh. Nhiều người nhận xét: cha Giản cái gì cũng nhanh: nhanh trí, nhanh tay, nhanh làm linh mục, nhanh chạnh lòng thương và cũng nhanh ra đi! Cái chết của cha như một hi tế dâng lên Thiên Chúa. Mới ở tuổi 47, cha đã giã từ mọi người đi về Nhà Cha, nhưng hình ảnh một linh mục tài đức mãi in sâu vào tâm khảm bao người còn ở lại. Tín hữu giáo phận Bắc Ninh vẫn không thể nào quên hình ảnh một linh mục giữa muôn vàn gian khó, vẫn cứ trung kiên suốt một đời sống tinh thần Tin Mừng: “Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống vì người mình yêu”.
    GP Bắc Ninh
    Chữ ký của Damsan
    Nàng đẹp quá, bạn tình ơi, đẹp quá !
    Đôi mắt nàng là một cặp bồ câu.

    (Dc 1,15 )

  17. Có 14 người cám ơn Damsan vì bài này:


  18. #11
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,695 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Linh mục Anrê Bùi Quang Tịch
    (1895 - 1977)


    Cha Anrê Bùi Quang Tịch sinh ngày 27.6.1895, tại giáo xứ Nam Tây, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, thuộc giáo phận Huế.

    Cha Anrê thuộc về một gia đình đạo đức. Trong dòng họ ngài, ngoài ngài ra, còn có đến bốn linh mục: một bác ruột là cha Bùi Quang Lợi, hai cậu ruột là cha Bùi Quang Tuyển và cha Bùi Quang Hữu, và một người anh bà con là cha Bùi Quang Lược.

    - Năm 1909, 14 tuổi, vào Tiểu Chủng viện An Ninh, Cửa Tùng, Quảng Trị.
    - Năm 1919, 24 tuổi, vào Đại Chủng viện Phú Xuân, Huế.
    - Năm 1926, 31 tuổi, thụ phong linh mục.

    Cuộc đời linh mục của cha Anrê Bùi Quang Tịch được chia ra ba giai đoạn:

    - Giai đoạn làm mục vụ tại giáo xứ,
    - Giai đoạn làm giáo sư và làm giám đốc Tiểu Chủng viện,
    - Giai đoạn vào Dòng Phước Sơn và ở trong lao tù.

    1. Giai đoạn làm mục vụ tại giáo xứ:

    - 3 năm phó xứ giáo xứ Di Loan (12.1.1927 – 2/1930)
    - 4 năm quản xứ giáo xứ Vạn Thiện (1954-1958)
    - 7 năm quản xứ giáo xứ Trí Bưu (6/1961 – 8/1968)

    ● Ngài rất nổi trội trong việc hãm mình. Ăn uống rất thanh đạm, không đòi hỏi gì. Những khi ngồi cầu nguyện lâu giờ trong nhà thờ, ngài không bao giờ dựa lưng vào thành ghế.

    ● Có lần, thấy ngài đi chân không khi ra ngoài đường, giáo dân thương nên xin ngài đi dép kẻo ngài dẫm phải gai nhọn thì họ mất nhờ. Nghe vậy, ngài cũng bằng lòng, nhưng mục đích sâu xa của ngài khi đi chân không, là muốn sống đời hãm mình.

    ● Sáng ngày đi nhận xứ Trí Bưu, ngài ưu tư với một cha bạn, muốn thăm dò tình hình giới trẻ của giáo xứ thế nào, được vị linh mục này vui miệng nói rằng: “Với bộ râu như Cha, thì chẳng thanh niên nào dám đến gần đâu!”. Ngay trưa hôm đó, mọi người ngỡ ngàng khi nhìn thấy cằm cha đã nhẵn trụi, dù bộ râu đã thân thiết với Cha suốt mấy mươi năm. Chiều hôm đó, ngài đến nhận xứ Trí Bưu.

    Ngài sống rất khó nghèo trong việc sử dụng của cải và các đồ dùng riêng, nhưng trái lại, rất rộng rãi trong việc giúp đỡ những ai túng thiếu. Đối với những gì liên quan đến nhà thờ và các đồ phụng vụ, ngài không nệ tốn kém để lo cho được tươm tất, đẹp đẽ, xứng đáng.

    2. Giai đoạn làm giáo sư và làm giám đốc Tiểu Chủng viện (3/1930-1953 và 1958-1961)

    Ngài sống 27 năm ở Tiểu Chủng viện Huế, với tư cách là giáo sư và giám đốc, chuyên lo đào tạo các ơn gọi linh mục.

    Ngài có một chương trình sống rất mẫu mực và nghiêm nhặt. Sáng nào, ngài cũng thức dậy lúc 4 giờ. Sau khi đọc các Giờ kinh Phụng vụ, nguyện gẫm, ngài sốt sắng dâng Thánh lễ, và sau Thánh lễ, ngài luôn dành một tiếng đồng hồ để cầu nguyện và cám ơn Chúa.

    Ngài rất tận tụy trong việc dạy dỗ các mầm ơn gọi linh mục. Ngài dạy tiếng Pháp rất chuyên cần và rất kỹ lưỡng cho các chủng sinh trong các lớp căn bản. Nhờ vậy, các chủng sinh có thể theo học được chương trình Pháp một cách dễ dàng.

    Với lòng đạo đức nội tâm sâu xa, luôn luôn nêu cao gương mẫu trước mặt các chủng sinh, ngài đã góp công rất nhiều vào việc đào tạo nhiều thế hệ linh mục cho giáo phận Huế.

    Tuy tỏ ra nghiêm nghị trong lúc ở Tiểu Chủng viện, nhưng khi chủng sinh về hè, hoặc lúc ngài làm việc mục vụ tại giáo xứ, ngài sống rất bình dân, dễ gần gũi và có tình cha con đối với tất cả với mọi người.

    3. Giai đoạn vào Dòng Phước Sơn và ở trong lao tù

    Sau nhiều năm tận tâm tận lực phục vụ giáo phận Huế, ngày 15.8.1968, lúc đã 73 tuổi, ngài xin nhập Đan viện Thánh Mẫu Phước Sơn (Thủ Đức, Sài Gòn), sống đời đan tu để dọn mình chết lành (theo lời ngài nói). Lần lượt khấn tạm (15.8.1970) và khấn trọn (15.8.1973).

    Theo chứng từ của Đan Viện phụ Duy Ân Vương Đình Lâm, Bề trên Dòng lúc đó cho biết: “Vị đan sĩ linh mục này sống rất đạo đức, khiêm tốn, giữ luật Dòng rất nghiêm nhặt, quảng đại, can đảm...”

    Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, cộng đoàn Phước Sơn quyết định chia ra thành nhiều nhóm nhỏ. Với giấy mời của Đức Giám mục giáo phận Long Xuyên, với giấy phép của chính quyền Thủ Đức cấp, cha Anrê phụ trách một nhóm, ra đi lập nghiệp tại vùng kinh tế mới Rạch Đùng, Kiên Giang (Rạch Giá), thuộc giáo phận Long Xuyên. Nhóm của cha có 7 người, gồm 2 linh mục khác và 4 đan sĩ.

    Gần một năm sau, ngày 24.4.1976, cả nhóm bị bắt giam tại nhà lao Rạch Giá với tội danh là “nhóm sĩ quan trốn học tập cải tạo”.

    Thời gian bị giam giữ, cha lâm bệnh, được đưa về bệnh viện Rạch Giá điều trị. Lúc này, cha vẫn bị canh gác và bị đối xử như một tù nhân.

    Cha khấn xin Đức Mẹ cho cha được về chết giữa các anh em trong cộng đoàn, và Đức Mẹ đã cho cha được toại nguyện. Ngày 6.1.1977, vì lâm trọng bệnh, cha được trả về lại cộng đoàn là trụ sở Dòng Phước Sơn tại Thủ Đức, TP.HCM. Về đến Đan viện trong tình trạng tinh thần vẫn minh mẫn tỉnh táo, ngài gặp gỡ thăm hỏi anh em và sốt sắng lãnh nhận các bí tích sau cùng. Bốn hôm sau, ngày 10.1.1977, lúc 17giờ, cha hoàn tất hiến lễ cuộc đời, thọ 82 tuổi, sau 51 năm làm linh mục với 9 năm đan tu.

    Cha Anrê Bùi Quang Tịch là một linh mục gương mẫu của giáo phận Huế và của Đan viện Phước Sơn. Giáo phận Huế và Đan viện Phước Sơn rất ngưỡng mộ và biết ơn vị linh mục thánh thiện này.
    Giáo phận Huế

    Chữ ký của Damsan
    Nàng đẹp quá, bạn tình ơi, đẹp quá !
    Đôi mắt nàng là một cặp bồ câu.

    (Dc 1,15 )

  19. Có 10 người cám ơn Damsan vì bài này:


  20. #12
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,695 lần trong 1,669 bài viết

    Default


    Đức cha JEAN CASSAIGNE
    (1895 – 1973)
    Vị tông đồ truyền giáo cho anh chị em dân tộc Kơho
    và sáng lập Trại phong Di Linh



    Ông tổ của công cuộc truyền giáo cho người dân tộc
    Trong bản tường trình năm 1920, Đức cha Victor Quinton Giám mục Giáo phận Sài Gòn đã nói đến ý định truyền giáo cho người dân tộc trên cao nguyên Djiring – Langbiang. Nhưng công cuộc truyền giáo này chỉ thực sự bắt đầu khi Đức cha Dumortier đặt cha Jean Cassaigne, một linh mục thuộc Hội Thừa sai Paris đến Di Linh năm 1927. Đức cha Dumortier viết trong bản tường trình năm 1927 như sau:
    "Chúa Quan Phòng đã sắp đặt cho tôi một vị tông đồ như ý để khởi sự công cuộc truyền giáo cho người dân tộc. Tôi thấy cha Cassaigne được chuẩn bị tốt để chịu được gian khổ thiếu thốn. Vừa khi biết chương trình truyền giáo của tôi, cha Cassaigne đã tình nguyện và bày tỏ niềm vui khôn tả khi nghe tôi công bố việc bổ nhiệm ngài vào công cuộc này".
    Thứ tư ngày 20-10-1926, cha Cassaigne lên đường đến thí điểm truyền giáo Di Linh. Ngài đi từ Sài Gòn đến Phan Thiết, rồi từ Ma Lâm lên cao nguyên Di Linh. Nhưng gặp mưa bão càn quét vùng cao nguyên làm con đường từ Ma Lâm lên Di Linh hư hại nặng cho nên ngài phải trở về Sài Gòn.
    Cho đến ngày 24-1-1927, cha Cassaigne mới có thể từ Đà Lạt chính thức đến nhận thí điểm truyền giáo Di Linh. Toà Giám mục Sài Gòn đã chuẩn bị cho ngài một căn nhà mua lại của ông Ngô Châu Liên để làm cơ sở lập thí điểm truyền giáo.
    Ngay trong buổi chiều đầu tiên đến vùng đất Di Linh, cha Cassaigne đã nhìn thấy những người dân tộc lặng lẽ nghi ngại đi ngang qua nhà ngài. Ngài đã nhìn thấy những anh chị em dân tộc được trao phó cho ngài, cả một cánh đồng truyền giáo rộng lớn đang chờ đợi ngài. Để có thể gặp gỡ những người dân tộc rụt rè nhút nhát trước những người xa lạ, cha Cassaigne khởi sự bằng cách học nói tiếng của họ, một ngôn ngữ quá mới mẻ và không có chữ viết. Cha Cassaigne đã phải mày mò ký tự từng chữ trong ngôn ngữ của họ. Công việc này đã cuốn hút vị thừa sai trẻ đầy nhiệt huyết. Vì thế, vào tháng 12-1929 cha Cassaigne đã xuất bản Từ điển Pháp – Kơho – Việt, đây là cuốn từ điển đầu tiên hình thành chữ viết cho ngôn ngữ Kơho, một công trình rất đáng trân trọng vì góp phần giữ gìn bản sắc dân tộc và phát triển cho người dân tộc Kơho.
    Tháng 12-1937 cha Cassaigne xuất bản cuốn: Phong tục tập quán người dân tộc Kơho, đây cũng là một công trình đầu tiên nghiên cứu về người Kơho, một công trình giúp cho cha Cassaigne có thể hiểu và gặp gỡ được với những người dân tộc và từ đó nói về Chúa cho họ. Năm 1938 cha cho xuất bản tập Giáo lý cho người Kơho.
    Chính nhờ việc hiểu được ngôn ngữ và phong tục tập quán Kơho, cha Cassaigne đã thực sự trở thành người khai phá, trở thành Ông tổ của công cuộc truyền giáo cho người dân tộc, và cha đã thành công trong việc đem Ơn Cứu Độ đến cho rất nhiều người dân tộc thuộc các buôn làng trong miền Cao nguyên Di Linh – Langbiang.
    Hoa trái của công cuộc truyền giáo là vào chiều ngày áp lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm, 7-12-1927, cha Cassaigne đã rửa tội cho bà Ka Trut, một bệnh nhân phong cùi thường xuyên nhận sự giúp đỡ của cha. Bà Maria Ka Trut qua đời ngày 20-12-1927 và được an táng ngày 22-12-1927 tại nghĩa trang của người dân tộc Di Linh.
    Tin Mừng của Chúa đã được người dân tộc đón nhận vì họ cảm nghiệm được tình yêu Chúa qua những hành vi bác ái yêu thương của cha Cassaigne. Họ đã thực sự nhận ra cha Cassaigne yêu thương họ qua việc ngài yêu thương đón nhận và nuôi dưỡng những anh chị em phong cùi của họ, những con người bất hạnh vì gia đình và buôn làng sợ hãi bị lây nhiễm đã xua đuổi họ vào trong những khu rừng vắng để họ chết dần chết mòn trong nỗi đau thể xác và tinh thần.
    Ngày 17-2-1929, cha Cassaigne đã quy tụ những người bệnh nhân phong cùi và thành lập Trại Phong Di Linh. Ngài đã xây dựng Trại Phong thành một gia đình ấm cúng che chở những bệnh nhân phong cùi bất hạnh để cho cuộc đời của họ được yên ủi sớm tối có nhau.
    Giám mục phong cùi của người phong cùi
    Nhưng cuộc sống của cha Cassaigne sắp thay đổi một cách bất ngờ. Ngày 20-2-1941, ngài nhận được một bức điện tín khiến ngài buồn bã. Thật là bất thường khi nhìn thấy ngài trong trạng thái này, đến nỗi người ta phải dò hỏi ngài! "Họ đã tấn công dồn dập bắt tôi làm giám mục", ngài càu nhàu trả lời. Quả thật, Đức Giám mục Sài Gòn vừa qua đời năm vừa rồi và Tòa Thánh trong thời kỳ khó khăn này, tìm một người để kế vị và đã chọn vị linh mục của người phong cùi. Vị thừa sai phải rời bỏ Di Linh. Sự chia ly rất đau lòng cho cả hai phía: anh em Thượng và nhất là những bệnh nhân phong cùi mất người cha của họ; vị linh mục phải xa con cái ngài. Dù vậy vị thừa sai không do dự vâng lời Tòa Thánh với đức tin và lòng can trường. "Tôi là kẻ từng mơ thành một thừa sai tầm thường. Tôi, kẻ đã coi sự nghèo khó của mình là niềm hãnh diện và niềm vui, lại trở thành một hoàng tử của Giáo Hội. Nhưng, dù người ta sẽ thay y phục và chỗ ở của tôi, song chẳng ai thay được con người chất phác nơi tôi". Khẩu hiệu "Bác Ái và Yêu Thương" do ngài chọn đã nói lên điều đó rất nhiều.
    Ngày 24-6-1941, ngay từ 7 giờ sáng, chuông các nhà thờ Sài Gòn đồng loạt đổ vang, báo tin lễ tấn phong Đức cha Cassaigne. Nghi lễ diễn ra ở Nhà Thờ Chính Tòa. Đám đông ken dày: có những bạn bè đến từ khắp nơi... và những anh em Thượng đi thành đoàn đại diện. Các anh em Thượng bận y phục ngày lễ; họ làm khách tham dự thấy vui thích, mặc dù nhiều người An Nam tỏ ra khó chịu trước cảnh tượng ấy. Nghi lễ phụng vụ dài, quá dài đối với anh em Thượng. Họ liền rời chỗ để đi tham quan tháp chuông. Khi ra khỏi Nhà Thờ Chính Tòa và bị đám đông xô lấn khiến họ hoảng sợ, họ liền trèo lên cây cao để nhìn đám rước. Đức cha Cassaigne mỉm cười khi nhìn thấy họ.
    Tân Giám mục bắt tay vào công việc. Đó là một con người đơn sơ. Lối vào Tòa Giám mục rộng mở tự do và bất cứ ai cũng có thể gõ cửa văn phòng của ngài. Các nhân chứng ngày nay vẫn còn nhớ lại đã thấy ngài đi xe đạp hoặc xe Vespa thăm các khu nghèo ở Sài Gòn. Ngài rong ruổi khắp địa phận rộng lớn của ngài.
    Ngày 19-12-1954, vào dịp kỷ niệm thụ phong linh mục của ngài, Đức cha Cassaigne dâng Thánh Lễ Tạ Ơn. Nhưng trong khi cử hành Thánh Lễ, ngài thấy trên mặt da mình, chỗ phía trên cổ tay một chút, có một vết đỏ hồng màu rượu. Khi Thánh Lễ kết thúc, ngài lấy một cái kim châm vào chỗ ấy: hoàn toàn không cảm thấy đau! Ngài hiểu đó là bệnh phong cùi. "Linh mục dâng hiến tế Thánh Thể, cũng phải trở thành hy vật", sau này ngài sẽ viết như thế. Công việc vất vả sáu tháng vừa qua đã làm cho các bộ phận cơ thể ngài vốn mệt mỏi, lại bị suy yếu, đến nỗi bệnh phong cùi nằm phục từ lâu, nay phát tác.
    Đức cha Cassaigne giữ bí mật tin này, chỉ cho các bề trên của ngài biết. Thuốc điều trị do các bác sĩ cho, đã làm ngài suy kiệt. Sẽ phải mau chấm dứt thôi! Vết hồng lan rộng gấp đôi. Ngày 5-3-1955, ngài viết cho cha bề trên Hội Thừa sai Paris: "Tôi xin cha cho phép tôi nộp đơn từ chức sang Tòa Thánh và rút lui về Trại Phong Di Linh, bên cạnh những con cái mà tôi yêu thương nhất và Chúa quyền uy, với lòng nhân ái vô biên, đã cho tôi được nên giống như họ".
    Lời cầu xin của ngài được chấp thuận và Tòa Thánh bổ nhiệm một giám mục kế vị ngài, Đức cha Simon-Hòa Nguyễn Văn Hiền, được tấn phong trong Nhà Thờ Chính Tòa của ngài, ngày 30-11-1955. Ngày 2-12-1955, Đức cha Cassaigne trở về Di Linh.
    Từ đây, Đức cha dành trọn cuộc đời còn lại để sống giữa những người con cái để âm thầm yêu thương và phục vụ Trại Phong Di Linh. Tháng 2-1973 Đức cha bị ngã gẫy xương bên đùi phải, và chính vì vết thương này mà ngài phải trải qua gần 8 tháng liệt giường. Bên giường bệnh, Đức cha nói với người nữ tu chăm sóc ngài và một số bệnh nhân thay phiên trực: "Suốt 47 năm dài (1926–1973), cha đã sống giữa các con, đã sống tại Việt Nam này và đã dâng hiến tất cả cho các con. Giờ đây cha không còn tiếc gì về sự dâng hiến toàn diện ấy. Việt Nam chính là quê hương thứ hai của cha, bởi vì Chúa muốn như vậy. Khi về với Chúa, cha vẫn ở với các con, các con đừng lo…"
    Thứ bảy ngày 20-10-1973, Đức cha bắt đầu trở bệnh nặng với những cơn đau khiến phải phải thốt lên: "Tôi đau đớn lắm, tôi đau đớn quá". Mười ngày trôi qua, vào lúc 10g00 đêm ngày 30-10-1973, Đức cha lãnh nhận bí tích Xức dầu lần cuối do cha sở họ Di Linh và rạng sáng hôm sau Đức cha đã được Chúa gọi về hồi 1g25. Đức cha được an táng bên nhà nguyện Trại Phong ngày 5-11-1973.
    Chứng từ
    Cha Phanxicô Darricau, một linh mục MEP, đã viết về sự kiện Đức cha Cassaigne trở lại Trại Phong Di Linh như sau: "Ngài đã về và đã được đón tiếp trọng hậu, tôn kính. Nhưng nhà chưa xây ngay được nên ngài đã đến ở chung với tôi tại Ka-la, cách Trại Phong hai cây số. Nhà xứ của tôi nhỏ, không cung cấp nổi cho ngài một căn phòng riêng. Ngài cũng không muốn lấy phòng của một đồng nghiệp. Chúng tôi lấy tấm màn ngăn phòng ăn làm đôi, một bên là giường nhỏ của ngài, một bên là cái bàn ăn. … Suốt trong sáu tháng, chúng tôi có niềm vui được sống chung với nhau. Sau đó ngài tới sống tại căn nhà dành riêng cho ngài ở Trại Phong. Nhưng trưa nào ngài cũng về Ka-la dùng bữa với tôi, khẩu phần có khá hơn trong trại. … Bao nhiêu sức lực còn lại ngài dành để phục vụ Trại Phong. Sức ngài giảm nhiều so với trước kia, do những đau đớn của căn bệnh…"
    Cha Christian Grison, người quản nhiệm cuối cùng của Trung tâm Thượng Di Linh (từ 1965 đến 1975), người đã gần gũi với Đức cha Cassaigne trong mười năm cuối cùng của ngài tại Trại Phong Di Linh, đã viết về Vị Tông đồ người phong cùi như sau: "Tôi được phúc sống mười năm gần Đức cha Cassaigne, vì thời gian đó tôi phụ trách xứ đạo thượng tại Di Linh. Tôi đã chứng kiến tình cảm ưu ái mà ngài khơi dậy khi ngài trở nên nhỏ bé với những kẻ nhỏ bé, trở nên phong cùi với những người phong cùi. Sự mến phục người ta dành cho ngài đó, không bao giờ ngài sử dụng vì lợi ích riêng của mình; tất cả được hướng về sự cứu trợ cho người phong cùi. Mối quan tâm duy nhất của ngài, tôi có thể nói là nổi ám ảnh đối với ngài cho đến khi ngài chết, đó là tìm nguồn tài trợ cho Trại Phong…"
    Ngày 26-7-2007, bà Maria Nguyễn Thị Lệ, sinh năm 1938 tại Bắc Ninh đã đến viếng mộ Đức cha và để lại chứng từ: "Tôi sinh sống tại khu phố III (ấp Tân Xuân) thị trấn Di Linh từ năm 1975 đến 1983. Tôi bị bệnh thấp khớp và đặc biệt là bị đau buốt dây thần kinh tọa. Một bác sĩ cho biết bệnh tôi rất khó chữa, nhưng tôi cũng kiên trì chịu đựng và chỉ uống một số thuốc đau nhức thông thường nên chỉ giảm đau chốc lát, vì nghèo không có tiền đi bệnh viện. Năm 1983 tôi bị những cơn đau dữ dội, lết đi không nổi, đau đớn đến độ chán nản thất vọng vì bệnh tật, đau khổ vì hoàn cảnh nghèo khổ cơ cực, bữa no bữa đói... Dầu vậy, tôi không bỏ Chúa, cố gắng bước đi chậm chạp, đau buốt với một bàn chân bị sưng tấy nặng nề. Khoảng tháng 6 năm 1983, sau giờ chầu Thánh Thể ban chiều, tôi đến trước tượng Đức cha Cassaigne ở cuối nhà thờ vừa khóc vừa than vì sự đau đớn, nghèo nàn của mình và tôi thưa với Đức cha: Cha ơi, thương con, kẻo con chết vì con đau đớn quá, con nghèo khổ chẳng có tiền chữa bệnh, con chỉ muốn chết cho yên, con xin Đức cha cầu xin Chúa và Đức Mẹ cất bệnh đau đớn cho con, nếu đẹp lòng Chúa và Đức Mẹ; còn nếu không, thì xin Đức cha thêm sức cho con để con chịu đựng cơn bệnh này cho nên. Từ từ, ngày qua ngày, con cảm thấy sự đau buốt giảm dần, và sau một thời gian con khỏi bệnh hẳn, đi đứng bình thường. Cuối năm 1983 con bỏ Di Linh về Đắc Nông với gia đình người con để làm ăn, cho đến nay là được 24 năm con lành bệnh. Con xin tạ ơn Chúa, tạ ơn Đức cha Cassaigne. Con, Maria Nguyễn Thị Lệ".
    Một chứng từ khác do bác sĩ K’Đỉu chia sẻ bên phần mộ Đức cha Cassaigne trong đêm canh thức dịp lễ Giỗ năm 2007: "Dân gian thường nói: Không có mợ, chợ cũng đông! Nhưng với Trại Phong chúng con nói chung và bản thân con nói riêng, trải qua kinh nghiệm của cuộc sống, con đã nhận ra rằng: nếu không có sự hiện diện của Đức cha Jean Cassaigne thì có lẽ không có Trại Phong Di Linh và chắc chắn cũng không có con trên cuộc đời này. Nhưng nhờ tình yêu thương của Đức cha, ba mẹ con đã can đảm sống với căn bệnh đáng sợ mà còn được hạnh phúc vì được làm con Chúa.
    Khi Đức cha ra đi về với Chúa, thì con mới được 5 tuổi, với thời gian đó và tuổi thơ, con chưa biết Đức cha được bao nhiêu. Nhưng càng ngày qua các biến cố của cuộc đời, con đã nhận ra từng bước bàn tay yêu thương quan phòng của Chúa dìu dắt chúng con, như lời Đức cha đã hứa: Trên thiên đàng, cha sẽ biết được nhiều, biết rõ hơn về nhu cầu của chúng con; cha sẽ cầu nguyện đắc lực và nhiều hơn gấp bội cho chúng con.
    Với ngọn đèn rực sáng đức tin và tình bác ái mà Đức cha đã thắp sáng bằng sự dâng hiến tất cả cho Chúa và cho chúng con, và với lời cầu bầu của Đức cha bên cạnh Chúa mà con đã nhận được biết bao hồng ân trong cuộc sống: được dạy dỗ nuôi nấng, được yêu thương chăm sóc, và được học hành như bao người khác, có thể nói còn hơn nhiều người khác nữa. Nhờ tình thương và hồng ân của Đức cha, nhờ những người đã tiếp nối vòng tay yêu thương của Đức cha và nhờ những ân nhân xa gần mà ngày hôm nay, có thể nói được, là con đã thành đạt trong cuộc sống, có chỗ đứng trong xã hội: con đã là bác sĩ chuyên khoa ngoại, điều vượt ra ngoài mơ ước của con.
    Đây là cảm nghiệm của riêng con, xin được chia sẻ như một chứng từ về tình yêu thương mà Đức cha cố dành cho chúng con".
    GP Đà Lạt
    Chữ ký của Damsan
    Nàng đẹp quá, bạn tình ơi, đẹp quá !
    Đôi mắt nàng là một cặp bồ câu.

    (Dc 1,15 )

  21. Có 14 người cám ơn Damsan vì bài này:


  22. #13
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,695 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha ANTÔN DEN(1) (HỌC)
    (1903 - 1987)
    Giáo phận Kontum





    Cha Antôn Den là một trong ba người đầu tiên thuộc sắc tộc Bahnar được phong chức linh mục (1932) trên Miền Truyền giáo Kontum, sau 84 năm Tin Mừng được gieo vãi nơi đây, kể từ ngày thày phó tế Nguyễn Do, theo lệnh Đức cha Đại diện Tông tòa Stêphanô Cuenot (Thể), thành công trong việc mở đường đưa các vị thừa sai xâm nhập vùng Tây Nguyên (1848). Qua cuộc sống hiền lành, khiêm nhường và tận tụy hy sinh trong việc mục vụ, và qua những công trình to lớn của ngài có liên quan đến tôn giáo và văn hóa, ta có thể coi ngài là một trong những gương mặt linh mục tiêu biểu của giáo phận Kontum.


    1. Gia đình
    :
    Gia đình cha Den theo đạo Công giáo từ thời ông nội của ngài, là ông Bâu. Chuyện kể rằng (2), năm 1856, ông Bâu, người Bahnar làng Kontum (3), có đứa con trai bị lở miệng, hôi thối lắm. Một hôm, Cha Hòa đi dạo vào làng, thấy nó, hỏi nó là con ai. Khi nghe là con của ông Bâu, ngài liền lên nhà hỏi thăm và nói với ông sao con đau như vậy mà không lo chạy chữa cho nó, để vậy chắc nó sẽ chết… Ông Bâu thưa mình đã tốn kém nhiều rồi, song tiền mất tật mang, không được gì. Cha hỏi ông mua thuốc gì mà tốn dữ vậy? Ông thưa rằng đâu có thuốc thang gì, chỉ rước Bơjâu (phù thủy) cúng vái xin thần linh cho nó khỏi, tốn bao nhiêu là bò, là heo, là dê, nhưng hết của thì có, còn bệnh nó chỉ trơ trơ, chẳng biết sao nữa! Cha nghe vậy động lòng thương, an ủi và khuyên giải cho ông hiểu việc cúng quải là vô ích và tốn kém mà thôi, vì Bơjâu chỉ phỉnh phờ để kiếm chác; nếu có theo đạo kính thờ Đấng Tạo Hóa thì Ngài sẽ phù hộ cho. Khi ấy ông Bâu không nói gì, nhưng suy nghĩ trong lòng có lẽ Chúa của kẻ có đạo có khi lại linh hơn chăng. Sau cuộc nói chuyện đó, cha ra về và lo kiếm thuốc chữa cho thằng bé. Cách vài hôm, cha trở lại gặp những người có thế giá trong làng và khuyên họ theo đạo. Chẳng có ai muốn, ngoại trừ ông Bâu… Cha Hòa vui mừng lắm, lo dạy dỗ, chăm nom, cùng lo săn sóc thuốc thang cho đứa nhỏ. Chẳng bao lâu, nhờ Ơn Trên, nó được lành, nhưng đành phải mang tật sứt môi, vì bị lở nặng quá. Người trong làng gọi đứa nhỏ ấy là Huêng (bởi tiếng hueh là sứt mẻ). Về sau, Huêng khôn lớn, lập gia đình, giữ đạo hẳn hoi và sinh được thầy Chơrơng, giúp việc nhà trường Kontum cùng linh mục Antôn Den.
    2. Thân thế
    Antôn Den, sinh ngày 13 tháng 6 năm 1903 tại họ đạo Kontum, thời cha Bề Trên Vialleton (Truyền) làm chánh xứ, là con ông Huêng và bà Oih.
    Năm 1912, cậu Den được cha sở lúc đó là cha Giuse Décrouille tuyển chọn và giới thiệu cho cha Martial Jannin (Phước), giám đốc Trường Á Thánh Cuenot. Cậu Den được chính thức ghi danh vào lớp học sinh mới, theo học lớp do cha Bober (bok Ber) và chú Luen, chú Xonh và chú Dơu4. phụ giúp
    Năm 1914, cha giám đốc Jannin gởi ba em học sinh là Antôn Den, Giuse Châu và Phêrô Hóa đi tu làm linh mục. Cả ba em này đều xuất thân từ làng Kontum. Sáng thứ hai ngày 2 tháng 11 năm1914, ba em đã từ giã các cha, các thầy, cha mẹ, bà con và bạn bè ra đi xuống miền xuôi tu học tại Tiểu chủng viện Làng Sông, thuộc Hạt Tông Tòa Đông Đàng Trong, sau này là Quy Nhơn (1924). Buổi chia tay diễn ra rất cảm động (5).
    Năm 1923, sau gần 10 năm học tập tại Làng Sông, ba thầy Antôn Den (Học), Giuse Châu và Phêrô Hóa đã được Đức cha Đại diện Tông tòa Đông Đàng Trong gởi qua học tại Đại chủng viện Penang (Mã Lai). Về học tập và tu đức, ba thầy được Bề Trên và các cha giáo đánh giá cao: giỏi về sinh ngữ, nhất là cổ ngữ Latinh; các môn triết và thần học không thua kém các bạn đồng lớp; đời sống đạo đức thì gương mẫu, được mọi người khen ngợi và mến thương.
    Năm 1930, sau khi học xong các môn triết và thần học tại Penang, ba thầy về nước và trở lại Miền Truyền giáo Kontum để thực tập cuộc sống mục vụ tương lai. Cha Bề Trên Miền đã phân chia các thầy đi giúp ở những nơi cần thiết: thầy Antôn Den tại Dak Kơna, thầy Giuse Châu tại vùng Jrai-Habâu và thầy Phêrô Hóa tại vùng Plei Pơnuk (Plei Rơngol Khop).
    Năm 1931, ba thầy trở lại Đại chủng viện Đại An (Quy Nhơn) để học thêm tiếng Việt, chuẩn bị thụ phong linh mục.
    Ngày 29 tháng 6 năm 1932, ba thầy người sắc tộc lần đầu tiên được tiến chức: Thầy Antôn DenChâu và thầy Phêrô Hóa nhận thánh chức linh mục từ tay của Đức cha Jannin (Phước), vị giám mục tiên khởi của Hạt Tông Tòa Kontum vừa được tách ra khỏi Hạt Tông Tòa Quy Nhơn (18-01-1932). Đây là ngày trọng đại và vui mừng cho toàn thể Hạt Tông Tòa, ghi dấu ấn một hoài bão đã thành hiện thực. Tờ Báo Tòa Thánh đã đăng hình và viết bài có tựa đề "Linh mục Bahnar đầu tiên". Nhưng đây là khởi đầu cuộc hành trình mới vừa đầy vinh dự lại vừa đầy thách đố cho cuộc sống của ba tân linh mục người sắc tộc đầu tiên. cùng với hai thầy Giuse
    3. Công tác mục vụ:
    1933 – 1934: Cha Antôn Den được đặt làm cha phó Habâu, giúp Cha Corompt (Hiển) coi sóc 8 họ đạo chung quanh.
    1934-1936: Phụ trách Kon Mahar gồm 10 họ đạo.
    1936-1938: Phụ trách Kon Long Buk gồm 6 họ đạo.
    1938-1939: Cha phó Kontum.
    1939-1941: Phụ trách Kon Mơnei Kơtu gồm 10 họ đạo.
    1942: Phụ trách Dak Mut gồm 10 họ đạo.
    1943: Phụ trách Kon Hơring gồm 14 họ đạo.
    1944: Phụ trách Kon Du gồm 7 họ đạo.
    1945: Phụ trách Plei Jơdrâp gồm 7 họ đạo.
    1946: Phụ trách Plei Rơhai gồm 8 họ đạo.
    1853: Trở về phụ trách Kon Mahar gồm 10 họ đạo.
    1955: Phụ trách Kon Mah gồm 10 họ đạo.
    1956: Về dạy học tại trường Cuenot.
    Trong thời gian này, cha khởi sự dịch bộ Kinh Thánh sang tiếng Bahnar; viết báo Hlabar Tơbang; dịch các sách Phụng Vụ, sách Kinh, Hạnh Các Thánh, sách Giáo Lý, các bản Thánh Ca; hiệu chính Từ Điển Bahnar-Việt vừa để đáp ứng nhu cầu Phụng vụ, vừa nâng cao sự hiều biết cho anh em dân tộc.
    1978: Sau khi Trường Cuenot bị trưng dụng, cha qua sống bên nhà xứ chính tòa Kontum cho đến lúc qua đời.
    1987: 18 giờ 30, ngày 17 tháng 10, ngài trút hơi thở cuối cùng, thọ 84 tuổi, với 55 năm linh mục.
    Cha Antôn Den sống lâu hơn hai vị linh mục Bahnar đồng sự. Ngài là linh mục Bahnar đầu tiên tại Việt Nam, có một chỗ đứng và vai trò đặc biệt trong lịch sử Truyền Giáo tại Việt Nam nói chung và tại Giáo phận Kontum nói riêng.
    Khi còn trẻ, cha đã âm thầm, tận tụy trong sứ vụ mục vụ trực tiếp trong các buôn làng xa xôi, với bao vất vả và hiểm nguy. Sau đó, cha đã dâng hiến trọn cuộc đời còn lại cho công tác dịch thuật Kinh Thánh, hiệu chính các bản văn Phụng Vụ và chuyển đạt Lời Chúa hoặc Lịch Sử Địa Phận qua sách báo như Tờ Nguyệt San Échos hay Hlabar Tơbang.
    Những năm tháng cuối đời, cha đã dành trọn ngày sống để tiếp đón anh em thuộc các dân tộc Bahnar, Xơđang, Rơngao, Jrai... từ khắp nơi trong giáo phận tuốn về. Trong tình thân thương, thể hiện qua những hy sinh và phục vụ, cha đã ban cho họ bí tích Hòa Giải, Lời Chúa và Mình Thánh Chúa. Mỗi giây phút trong cuộc đời của cha như là những hạt thánh đức kết thành tràng chuỗi yêu thương, hy sinh và quên mình.



    * Chú thích:
    (1). Đọc là "Đen". Ngài còn có tên theo người Kinh là Học.
    (2). X. Linh mục Phaolô Ban và Simon Thiệt, Mở Đạo Kontum, Quy nhơn, 1933, tr. 113-119.
    (3). Làng ban đầu có tên là Dak Tum, vì ở gần cái hồ. Tum có nghĩa là hồ, ao, bàu.
    (4). X. Hlabar Tơbang, 1913, số 34, tr. 90.
    (5). X. Hlabar Tơbang, 1914, số 42, trang 52.
    GP Kontum
    thay đổi nội dung bởi: dominico_dung, 01-08-2009 lúc 12:25 PM Lý do: sửa trình bày đẹp, dễ đọc...
    Chữ ký của Damsan
    Nàng đẹp quá, bạn tình ơi, đẹp quá !
    Đôi mắt nàng là một cặp bồ câu.

    (Dc 1,15 )

  23. Có 15 người cám ơn Damsan vì bài này:


  24. #14
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,695 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha GIUSE MARIA HOÀNG GIA HUỆ
    (1886 – 1954)

    Mẫu gương đời sống mục vụ và tinh thần hy sinh






    1886 : Sinh tại giáo xứ Phú Nhai, giáo phận Bùi Chu
    13/8/1904 : Nhập Tiểu Chủng viện Bùi Chu
    13/8/1910 : Đại Chủng viện Bùi Chu
    1912-1914 : Phụ giảng tại Tiểu Chủng viện Bùi Chu
    1914-1918 : Học thần học tại Đại Chủng viện Bùi Chu
    1918 : Thụ phong linh mục tại nhà thờ Chính Toà Bùi Chu
    1918-1921 : Phó xứ Báo Đáp
    1921-1925 : Phó xứ Quần Phương
    1925-1927 : Phó xứ Lục Thuỷ
    1927-1928 : Chánh xứ Ngọc Tiên
    1928-1930 : Làm việc mục vụ tại đảo Phú Quốc, giáo phận Nam Vang (Campuchia)
    1930-1936 : Chánh xứ kiêm quản hạt Ninh Cường
    1936-1937 : Giám đốc Tiểu Chủng viện Trung Linh
    1937-1938 : Giám đốc Tiểu Chủng viện Ninh Cường
    1938-1940 : Giám đốc Đại Chủng viện Phú Nhai
    1940-1951 : Giám đốc Đại Chủng viện Quần Phương
    1951-1954 : Chánh xứ kiêm quản hạt Quần Phương
    30/6/1954 : Qua đời trên đường đi lao tù ở Thanh Hoá

    Mẫu gương đời sống mục vụ

    Nhìn vào đôi dòng tiểu sử của cha Giuse Maria Hoàng Gia Huệ, chúng ta có thể thấy được hình ảnh của một vị mục tử luôn mải miết với những công việc mục vụ trong suốt cuộc đời, từ khi lãnh nhận thiên chức linh mục cho đến khi qua đời. Với mỗi giáo xứ nơi cha Huệ đến làm công tác mục vụ, cha luôn để lại cho các tín hữu một ấn tượng, một mẫu gương tốt đẹp về một vị mục tử tốt lành, thánh thiện, vui tươi, khiêm nhường, đức độ trong lời ăn tiếng nói cũng như trong đời sống thường ngày: “Ngài là một linh mục gương mẫu mà chúng tôi hằng ngưỡng mộ và cố gắng noi theo. Ngài có một nền đạo đức vui tươi, không lộ vẻ gì khắc khổ, tuy thật sự, đời sống của ngài rất nhiệm nhặt” (Lm.Phạm Châu Diên, Hồi ký đời tôi).

    Nhà nguyện là nơi ngài dành nhiều thời giờ hơn hết. Chính nhờ những giờ phút cầu nguyện bên Chúa Giêsu Thánh Thể, mà ngài đã kín múc được những ân sủng, giúp thăng tiến đời sống thiêng liêng và mục vụ của ngài và làm lan toả những ân huệ đó cho các tín hữu.

    Khi nói về đời sống mục vụ của cha Huệ, tất cả những ai đã từng tiếp xúc đều nhận thấy nơi ngài có cách cư xử của một người mục tử nhân lành, thấm nhuần sự khôn ngoan và tinh tế với một tinh thần khiêm nhu, bác ái, đặc biệt đối với những người nghèo khổ. Đối với các chủng sinh, ngài không bao giờ lớn tiếng, nhưng lại rất công bình. Khi cần phải góp ý, ngài nhắc nhở nhẹ nhàng, kín đáo đầy tình thương yêu xứng bậc làm thầy.

    Ngài có lòng sùng kính Thánh Thể cách đặc biệt và cổ võ cho các tín hữu làm theo. Vì vậy, các bài giảng trong thánh lễ ngài cử hành luôn đầy những lời lẽ thúc giục các tín hữu đến với Chúa Giêsu Thánh Thể, là lương thực thiêng liêng nuôi dưỡng đời sống đức tin. Đồng thời ngài cũng ra sức cổ võ Kinh Mân Côi và việc siêng năng lần hạt Mân Côi: đâu đâu trong các giáo xứ, giáo họ của cha cũng thấy vang lên những lời kinh kính Đức Mẹ thật tốt lành và sốt sắng. Ngoài ra, ngài cũng hay dành thời gian đến hỏi thăm những gia đình trong xứ đạo, khuyến khích động viên họ giữ đạo sốt sắng, sống hoà thuận, yêu thương nhau, biết giúp đỡ nhau trong những lúc gặp khó khăn hoạn nạn. Với những người khô khan nguội lạnh, cha tìm lời lẽ khuyên răn, lôi kéo nhiều tâm hồn lầm lạc trở về với Chúa. Nhờ vậy, đời sống đạo nơi các giáo xứ cha coi sóc ngày một thăng tiến.

    Một trong những điểm nhấn về sự hy sinh phục vụ của cha Huệ là vào năm 1928, cha vâng lời bề trên và vì thương những tín hữu “bơ vơ không người chăn dắt”, ngài đã rời giáo phận mẹ Bùi Chu thân yêu để đến đảo Phú Quốc làm mục vụ cho hơn 2000 giáo dân thuộc giáo phận nhà đang làm việc tại đây do hợp đồng đưa người lao động và gia đình của họ từ Bùi Chu di cư lập ấp đến quê hương mới. Tại Phú Quốc, ngài đã giúp các tín hữu ổn định cuộc sống mới và củng cố đời sống đạo cho họ bằng việc cổ võ lòng sùng kính mến yêu Thánh Thể, siêng năng lần hạt Mân Côi. Bản thân ngài hy sinh đến từng nhà để thăm hỏi, động viên, khuyến khích họ sống và giữ đạo sốt sắng trong hoàn cảnh hoàn toàn mới mẻ. Nhờ đó, chỉ qua một thời gian ngắn, đời sống đạo ở đây đã có những tiến bộ. Tuy nhiên, khi cuộc sống tạm thời đi vào ổn định thì công ty tại đảo Phú Quốc bị phá sản, cha Huệ lại phải lo liên hệ với hai giáo xứ Rạch Giá và Hà Tiên thuộc giáo phận Nam Vang (Campuchia) để sát nhập hơn 2000 tín hữu tại Phú Quốc vào hai giáo xứ này.

    Nhờ ơn Chúa và Đức Mẹ thương, việc này cũng đã diễn ra tốt đẹp. Từ đây các tín hữu này đã có một quê hương mới tươi đẹp hơn, nhờ vị mục tử khôn ngoan và đạo đức.

    Trong suốt những năm mục vụ của cha, người ta nhận thấy có một sức sống mới nơi các xứ đạo. Ngài đã hướng tín hữu đến một đức tin sống động thay vì những tập tục phô trương. Trong các nhà thờ nơi ngài cử hành thánh lễ có nhiều người tham dự không kể sáng tối, ngày thường cũng như ngày Chúa Nhật. Giáo hữu tham dự thánh lễ sốt sắng và rước lễ rất đông vì ngài chịu khó ngồi toà giải tội. Tất cả những thành quả đó, ngoài ơn Chúa và Đức Mẹ giúp, còn có công lao khó nhọc, tấm lòng mục tử vì đoàn chiên mà cha Huệ đã thực hiện trong suốt cuộc đời mình.

    Mẫu gương tinh thần hy sinh

    Tinh thần hy sinh của cha Huệ được thể hiện cụ thể nơi cách cư xử, lối sống thường ngày của ngài. Ngài không những hy sinh chay tịnh phần xác, mà còn hy sinh chay tịnh trong tâm hồn nữa. Cố linh mục Giuse Phạm Châu Diên đã ghi lại trong Hồi ký đời tôinhư sau: “Bữa sáng, món điểm tâm của ngài là một bát nước cơm, hay một ly cà phê. Bữa trưa, tuy đồng bàn với các cha, nhưng ngài dùng cơm của chủng sinh, viện cớ là để theo dõi cho biết mà sửa chữa khi cần. Buổi tối, ngài chỉ ăn cháo qua loa [...]. Áo trong của ngài phần nhiều là cũ vá, như khi đi tắm biển với ngài, tôi đã từng thấy. Ngài thường lấy các mảnh giấy vụn mà viết thư [...]. Phòng ngài ở rất đơn sơ, không có một thứ gì đáng giá. Bàn giấy giám đốc chỉ là một cái bàn nhỏ, xách một tay còn nhẹ”.

    Tinh thần hy sinh vì đoàn chiên của cha Huệ còn thể hiện cách đặc biệt nơi toà giải tội. Ngài là vị tông đồ miệt mài nơi toà giải tội như cha thánh Gioan Maria Vianney. Có những ngày đông người, ngài phục vụ liên tục từ 15-16 giờ đồng hồ, vì cha luôn tâm niệm rằng: không để ai đã chịu khó bỏ công việc, đến nhà thờ dọn mình xưng tội mà không được vào toà xưng tội. Những việc làm này của cha, không phải để cho thiên hạ thấy, mà vì lòng mến Chúa thúc đẩy, như lời thánh Phaolô tông đồ đã nói: “Tình yêu Đức Kitô thúc bách tôi” (2 Cr 5,14). Đó cũng là lý tưởng và mục đích đời tu của cha Huệ.

    Nhìn vào cuộc đời của cha Giuse Maria Hoàng Gia Huệ, chúng ta thấy ánh lên mẫu gương về một vị mục tử tốt lành, luôn hy sinh cho lợi ích phần rỗi các linh hồn. Cái chết thảm thương của ngài là một chứng từ sống động của đức tin kiên trung, niềm hy vọng vững vàng và lòng yêu mến thiết tha đối với Chúa và với Giáo Hội.

    Qua gương sáng và đời sống của ngài, chúng ta cảm tạ Chúa vì Chúa đã ban cho Giáo Hội những vị mục tử thánh thiện, nhiệt thành. Những lời của Công đồng Vaticanô II thật phù hợp để áp dụng vào đời sống chứng tá của Cha Huệ: “Là những vị cai quản và chăn dắt dân Chúa, các ngài được tình yêu của Chúa Chiên nhân lành thúc đẩy hiến mạng sống cho con chiên, và sẵn sàng hy sinh đến tột bậc, theo gương của nhiều linh mục, ngay cả trong thời hiện đại, không quản ngại hiến mạng sống mình. Là những nhà giáo dục trong đức tin và ‘được lòng can đảm bước vào nơi chí thánh nhờ Máu Chúa Kitô’ (Dt 10,19), các ngài tới gần Thiên Chúa, ‘với một tấm lòng chân thành tràn đầy đức tin’ (Dt 10,22); các ngài gây niềm hy vọng vững vàng cho các tín hữu của mình, để nhờ chính sự khích lệ mà Thiên Chúa đã khích lệ các ngài, các ngài có thể an ủi họ trong mọi cơn thử thách, là những vị hướng dẫn cộng đoàn, các ngài thực hành việc khổ chế riêng biệt của vị chăn dắt các linh hồn: từ bỏ những tiện nghi riêng, không tìm kiếm tư lợi nhưng tìm lợi ích cho nhiều người, để họ được cứu rỗi, luôn tiến bộ trong việc chu toàn hoạt động mục vụ cách hoàn hảo hơn và khi cần, các ngài sẵn sàng đi vào những con đường mục vụ mới mẻ, dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần tình yêu, Đấng thổi nơi nào Ngài muốn” (Công đồng Vaticanô II, Sắc lệnh về chức vụ và đời sống linh mục Presbyterorum Ordinis, 13).


    GP Bùi Chu
    Chữ ký của Damsan
    Nàng đẹp quá, bạn tình ơi, đẹp quá !
    Đôi mắt nàng là một cặp bồ câu.

    (Dc 1,15 )

  25. Có 8 người cám ơn Damsan vì bài này:


  26. #15
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,695 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha Antôn PHÙNG QUANG MẠNH

    (PHÙNG SANH)

    (1922 – 2004)






    A. Từ một người ngoại đạo


    Cha Antôn Phùng Quang Mạnh chào đời ngày 12 tháng 9 năm 1922 trong một gia đình ngoại giáo tại thành phố Mỹ Tho. Cha của ngài là ông Phùng Hiệp, một bang trưởng Quảng Đông giàu có với nhiều hiệu buôn lớn và phố xá tại thành phố kỳ cựu này. Mẹ của ngài là bà Hà Thị Mai, một phụ nữ Nam Bộ hiền hậu. Cha của ngài quyết định sau này, khi lớn lên, ngài sẽ tiếp tục công việc kinh doanh rất phát đạt của ông. Nhưng ý Chúa lại định thể khác…


    B. Trở nên con cái Chúa
    Ngày 22-12-1928, cha Phêrô Nguyễn Văn Tiên, cha sở Mỹ Tho lúc bấy giờ, đã ban bí tích Thánh Tẩy cho toàn thể gia đình của ngài. Bắt đầu cuộc hành trình đức tin, Chúa gởi đến cho gia đình ngài biết bao thử thách gian truân: Ông Cố Phùng Hiệp bị bà con bên nội và bạn bè đồng hương chỉ trích dữ dội và quyết liệt tẩy chay vì họ cho rằng Ông Cố đã bỏ tổ tiên ông bà khi theo đạo Chúa; rồi cũng trong năm đó, Bà Cố lâm trọng bệnh và qua đời khi mới 32 tuổi; 4 năm sau, 1932, tất cả các hiệu buôn đều bị phá sản, phố xá bị tịch thu và trong lúc gia tài khánh kiệt, Ông Cố lại qua đời vào năm 1934. Thế là 7 anh chị em trở nên côi cút, bơ vơ, từ chỗ giàu sang rơi xuống cảnh bần cùng, thiếu thốn trăm bề, vô vàn khổ sở. Nhưng trong cảnh khốn cùng đó, Chúa đã gởi đến cho 7 trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ một người mẹ khác thật tuyệt vời: đó là dì Ba, em gái của Bà Cố Mađalêna. Chính dì Ba là người tận tình nuôi dưỡng và nghiêm khắc dạy dỗ các cháu của mình nên những người Kitô hữu tốt, giúp các cháu giữ vững niềm tin trong cơn thử thách, và cũng chính dì Ba đã vun trồng ơn gọi linh mục cho các cháu trai của mình, nhờ đó 3 trong số 4 cháu trai đã trở thành linh mục của Chúa, đó là cha Antôn Phùng Quang Mạnh (giáo phận Sài Gòn), cha Antôn Phùng Thành (giáo phận Phú Cường), cha Giuse Phùng Cảnh (giáo phận Đà Lạt).

    C. Trở thành linh mục của Chúa
    Cha Antôn Mạnh chịu chức linh mục ngày 21-9-1947 tại nhà thờ Chính toà Sài Gòn cùng với 6 anh em khác, trong số đó có Đức Cố Tổng Giám mục Philípphê Nguyễn Kim Điền. Hành trình phục vụ của ngài kéo dài 57 năm: từ nhà thờ Thánh Phanxicô Xaviê (nhà thờ Cha Tam) ở Chợ Lớn, đến nhà thờ Bình Đại ở miền Duyên Hải tỉnh Bến Tre, hoặc lên Vườn Xoài hay qua Gia Định, ngài luôn để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp trong lòng giáo dân, cách riêng ở Gia Định, nơi ngài đã gắn bó suốt 43 năm, từ ngày 24-6-1961 cho đến khi ngài được Chúa gọi về vào sáng sớm ngày 16-1-2004. Mọi người đều nhận thấy nơi ngài:
    1. Một cha sở đặc biệt có tinh thần Giáo Hội: Ngài luôn đặt lợi ích Giáo Hội lên trên lợi ích cá nhân, rất có lòng chung với công việc của giáo phận: từ việc xây dựng Nhà Hưu Dưỡng Linh Mục ở Chí Hoà cho đến công trình xây dựng Nhà Khách và Văn Phòng Toà Tổng Giám Mục. Mỗi khi Toà Tổng Giám Mục có việc cần nhờ, ngài nhanh chóng điều động giáo dân đến giúp đỡ, chẳng hạn như cuộc đón tiếp Đức Hồng Y Etchegaray (năm 1989), lễ an táng Đức Cố Tổng Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình (5-7-1995), việc rước Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn về nhận giáo phận ngày 2-4-1998; ngoài ra, Chủng Viện là nơi được ngài quan tâm giúp đỡ nhiều nhất.
    2. Một cha sở thật lòng yêu thương anh em linh mục, cách riêng các cha phó của mình: Trong 43 năm làm cha sở Gia Định, cha Antôn có rất nhiều cha phó. Có những cha làm phó cho ngài trên 20 năm, như cha Giuse Nguyễn Hữu Triết (1972-1993), cha Inhaxiô Hồ Văn Xuân (1975-2004). Ngài luôn nâng đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để các cha phó phát huy tài năng. Ngài cũng hết lòng quý mến anh em linh mục cũng như tu sĩ, sẵn sàng giúp đỡ các anh em linh mục nghèo khổ ở các vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh, thậm chí có lần ngài đã vét hết tiền riêng của ngài để chuộc mạng cho một anh em linh mục. Ngài luôn cảm thông và chia sẻ mọi buồn phiền với những anh em linh mục đang gặp đau khổ. Vì thế, nhiều linh mục đã xem ngài như một người cha thiêng liêng hoặc một người anh tinh thần …
    3. Một cha sở hết lòng yêu thương giáo dân: Đối với những ai nghèo khổ bất hạnh, ngài âm thầm giúp đỡ và tìm dịp thăm viếng ủi an; mở phòng khám bệnh và phát thuốc miễn phí vào mỗi chiều Chúa nhật cho hàng trăm bệnh nhân nghèo túng; mở trường Trung Tiểu học Thánh Mẫu để nâng cao trình độ văn hoá của giáo dân; mở trường giúp các trẻ em chậm phát triển tâm thần hội nhập với cuộc sống bình thường; đối với nạn nhân chiến tranh, ngài tạo cho họ công ăn việc làm …
    4. Một cha sở đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng ngôi nhà đức tin cho cộng đoàn Dân Chúa qua các lớp Thần học giáo dân, các lớp Thánh Kinh chuyên biệt, các cuộc cử hành bí tích sốt sắng, cách riêng cổ võ việc hát cộng đồng trong thánh lễ giúp thánh lễ trở nên sống động hơn.
    5. Một cha sở sống giản dị, khó nghèo: Tất cả những gì ngài có là dành để phát triển và mở mang họ Gia Định, xây dựng 3 Nhà Nguyện cho 3 họ lẻ: Thánh Giuse 1964, Thánh Mẫu (Đồng Ông Cộ) 1970 và Đức Mẹ Lên Trời (Trần Kế Xương) 1973; trong khi bản thân ngài sống rất giản dị, nghèo khó. Ba ngày trước khi qua đời, lúc đang hấp hối trên giường bệnh, ngài vẫn quan tâm đến việc sửa chữa nhà thờ Gia Định. Rồi khi chết, ngài trối lại tất cả tiền bạc của cải cho họ Gia Định, chỉ xin trả lại cho gia đình ngài pho tượng Đức Mẹ mà Ông Bà Cố của ngài đã chuộc khi mới trở lại đạo vào năm 1928, và ngài đã mang pho tượng quý báu này theo ngài suốt 57 năm cuộc đời linh mục …
    TGP Sài Gòn
    thay đổi nội dung bởi: Damsan, 14-08-2009 lúc 02:13 PM
    Chữ ký của Damsan
    Nàng đẹp quá, bạn tình ơi, đẹp quá !
    Đôi mắt nàng là một cặp bồ câu.

    (Dc 1,15 )

  27. Có 9 người cám ơn Damsan vì bài này:


  28. #16
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,695 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha GIUSE LÂM QUANG TRỌNG


    (1914 – 1986)

    Cha chính Giuse Lâm Quang Trọng sinh năm 1914 tại Tân Phường, một giáo xứ thuộc Giáo phận Bùi Chu.
    Lớn lên, chú bé Lâm quang Trọng tự nguyện dâng mình cho Chúa nơi Cha già cố Đaminh Phạm Quang Giản lúc đó đang coi xứ Giáo Lạc. Sau một cuộc thi khảo, chú Lâm Quang Trọng được nhận vào Tiểu chủng viện, Trong thời gian ở đó, Lâm Quang Trọng luôn luôn tỏ ra là một chủng sinh chuyên chăm, đạo đức, vui tươi, gương mẫu.
    Học hết Tiểu Chủng viện, thầy Lâm Quang Trọng được gia nhập Đại chủng viện thánh Albertô tại Nam Định, do các cha dòng Đa Minh giảng dạy. Tại đây, thầy học khá xuất sắc. Vì vậy sau ba năm học triết, thầy được Đức cha Hồ Ngọc Cẩn tuyển chọn cho đi du học tại Đại chủng viện Penang, Mã Lai, do các cha thừa sai người Pháp điều khiển. Nơi đây, thầy được chen vai sát cánh và làm quen với các đại chủng sinh từ khắp vùng Đông Nam Á tới thụ huấn. Cũng nơi đây, cái nhìn của thầy bắt đầu hướng về một chân trời mới xa hơn và rộng hơn.
    Sau bốn năm học thần học tại Đại chủng viện Penang, thầy Lâm Quang Trọng trở về Việt Nam. Lúc đó thầy lãnh chức phó tế. Một tương lai tươi sáng đang chờ đón thầy.
    Sáu tháng sau, ngày 20-12-1941, khi mọi chuẩn bị đã hoàn tất, thầy Lâm Quang Trong được thụ phong linh mục, do Đức cha Hồ Ngọc Cẩn truyền chức tại nhà thờ các Thánh Tử đạo tại Quần Phương.
    Sau khi lãnh nhận chức linh mục, cha Lâm Quang Trọng được Đức giám mục trao phó cho hai chức vụ quan trọng: làm giáo sư Đại chủng viện Quần Phương, và Tổng tuyên úy thanh niên địa phận.
    27 tuổi đời, với dáng người cao và nhanh nhẹn, với trí thông minh sắc sảo và nền học thức trổi vượt, cha Lâm Quang Trọng đã thi hành hai chức vụ đó một cách hoàn hảo. Nhiều người trong địa phận lúc đó nhìn về cha với lòng ngưỡng mộ.
    Tại Đại chủng viện Quần Phương, cha dạy môn Luân lý Thần học. Cha được các thầy đại chủng sinh rất tin tưởng và quí mến.
    Đến năm 1946, vì tình hình an ninh không được bảo đảm, ngài rời bỏ trường Thần học Quần Phương, để đến Hà Nội, và sống ở đó một cách âm thầm lặng lẽ.
    Trong những ngày sống lặng lẽ này, cha bắt đầu viết sách. Cuốn sách đầu tay của cha là cuốn: “Mẹ đầy ơn phúc” được xuất bản năm 1950. Sau đó, cha lần lượt cho ra đời những cuốn: “Cuộc đời Chúa Cứu Thế” (1954), “Ánh sáng Phúc Âm” (1955), “Tìm về Thượng Đế” (1956), “Vô thần hay hữu thần” (1956), “Tôn giáo với loài người” (1957), “Vườn hoa muôn sắc” (1975).
    Các sách do cha sáng tác có thể xếp thành hai lọai: tu đức và minh giáo. Lời văn của cha sáng sủa, sống động và điêu luyện; tư tưởng của cha rất mạch lạc; lập luận của cha rất vững chắc.
    Đến năm 1952, tình hình an ninh tại Bùi Chu trở nên tồi tệ. Đại chủng viện Bùi Chu được di chuyển lên Hà Nội. Cha Lâm Quang Trọng lại về Đại chủng viện giảng dạy.
    Hiệp định Genève 1954 chia đôi đất nước. Đại chủng viện Bùi chu được di chuyển vào Sài Gòn. Cha Lâm Quang Trọng lại tiếp tục dạy Thần học Luân Lý tại Đại chủng viện Bùi Chu.
    Năm 1957 sức khỏe của cha sút kém. Cha rời Trường Thần học để đi nghỉ dưỡng bệnh.
    Sau 6 tháng nghỉ dưỡng sức, cha Lâm Quang Trọng được Đức Giám Mục Sài Gòn bổ nhiệm đi coi sóc họ đạo Xuân Lộc, một họ nhánh của giáo xứ Suối Tre với khoảng 500 giáo hữu. Họ đạo Xuân Lộc lúc đó nhỏ bé, tiêu điều, xơ xác, không có nhà xứ, nhà thờ thì nhỏ hẹp với cột gỗ. Hai bên hông nhà thờ đồng bào sống chen chúc, xô bồ, thường hay gây huyên náo và gây lộn cãi nhau ầm ĩ.
    Nhưng rồi với ý chí cương quyết và nhẫn nại, với lòng can trường hiếm có và tài xoay sở tháo vát, cha bắt đầu xây dựng giáo xứ.
    Việc đầu tiên của cha là tậu một ngôi nhà xứ, để lấy chỗ sinh hoạt và làm việc.
    Tiếp đó, cha đi tìm đất, lập cư xá Thánh Mẫu để di chuyển những gia đình sống bên hông nhà thờ tới nơi ở mới. Khi khu vực nhà thờ đã được giải tỏa, cha bắt đầu xây cất Trường tiểu học Thánh Gioan.
    Trong thời kì đó, tỉnh Long Khánh được thành lập. Đồng bào tuôn về sinh sống tại thị xã rất đông. Số giáo dân tăng lên mau chóng. Nhà thờ cũ trở nên quá chật hẹp. Cha dồn hết năng lực để xây nhà thờ mới. Sau ba năm xây cất, ngôi nhà thờ mới được hoàn thành, một ngôi nhà thờ rộng rãi, kiên cố, đồ sộ với ngọn tháp vút cao. Chính ngôi nhà thờ này là nơi qui tụ cho một giáo phận mới, giáo phận Xuân Lộc. Và nhà thờ này đã trở thành nhà thờ Chính tòa của giáo phận mới.
    Việc xây cất nhà thờ đã hoàn tất. cha lại nghĩ tới công cuộc xã hội. Cha xây cất cô nhi viện Bêlem và trao cho các nữ tu Na-gia-rét nhiệm vụ điều hành cô nhi viện mới.
    Để nâng cao văn hóa, cha Lâm Quang Trọng cũng đứng ra xây cất trường Trung học Hòa Bình, một cơ sở giáo dục đồ sộ, lớn lao vào bậc nhất tỉnh Long Khánh.
    Qua những công việc có tính cách tôn giáo, xã hội và văn hóa lớn lao như trên, uy tín của cha lên rất cao. Chính quyền đã trao tặng cha huy chương Mỹ Bội Tinh để tưởng thưởng cha. Đức giám mục giáo phận cũng đặt cha làm Cha Chính Địa Phận, đứng đầu các linh mục trong giáo phận.
    Khi mọi việc đang diễn tiến tốt đẹp, thì biến cố 1975 xảy đến. Tất cả đều thay đổi. Tự cảm thấy mình không còn đủ sức khỏe để thích nghi với hoàn cảnh mới, cha Chính Trọng lặng lẽ đi về thành phố để tĩnh dưỡng trong những ngày xế chiều. Tuy xa cách, nhưng lòng trí ngài vẫn luôn hướng về Xuân Lộc, nơi cha đã đổ ra biết bao mồ hôi nước mắt, đã đầu tư biết bao công sức, đã chịu đựng biết bao sóng gió, đã không ngừng phấn đấu để xây dựng và vun trồng.
    Nguyện vọng tha thiết nhất của cha là được sống, chết và an nghỉ tại Xuân Lộc. Tâm hồn cha mòn mỏi trong nỗi niềm thương nhớ Xuân Lộc. Sức khỏe cha yếu dần. Vào lúc 6 giờ chiều ngày 27 tháng 7 năm 1986, trái tim cha đã ngừng đập, hưởng thọ 72 tuổi. Cha ra đi trong nỗi niềm tiếc thương vô hạn của đoàn chiên. Thi hài cha đã được đưa về an táng tại Xuân Lộc đúng theo nguyện vọng của cha.
    Trong Thánh lễ an táng được tổ chức tại nhà thờ Chính Tòa Xuân Lộc, Đức cha Đaminh Nguyễn Văn Lãng, giám mục giáo phận đã công nhận Cha Chính Giuse Lâm Quang Trọng là một linh mục lỗi lạc. Ngài là đại ân nhân của giáo xứ Chính tòa Xuân Lộc, và đồng thời cũng là đại ân nhân của giáo phận Xuân Lộc vậy.
    GP Xuân Lộc
    Chữ ký của Damsan
    Nàng đẹp quá, bạn tình ơi, đẹp quá !
    Đôi mắt nàng là một cặp bồ câu.

    (Dc 1,15 )

  29. Có 8 người cám ơn Damsan vì bài này:


  30. #17
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,695 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Đức cha Vinh Sơn




    PHẠM VĂN DỤ

    (1922 – 1998)



    Giám mục Chính Tòa tiên khởi giáo phận Lạng Sơn





    Giáo phận Lạng Sơn đã được các linh mục Dòng Ða Minh đến truyền giáo từ năm 1908. Năm 1913, Lạng Sơn thành Phủ Doãn Tông Tòa, và năm 1960 trở thành Giáo phận Chính tòa với vị giám mục đầu tiên người Việt Nam là Ðức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ.

    Ðức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ, sinh ngày 14 tháng 10 năm 1922, trong một gia đình sùng đạo tại Phát Diệm, huyện Kim Sơn, Tỉnh Ninh Bình. Ngày mùng 5 tháng 3 năm 1960, cha Dụ được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Giám mục hiệu tòa, coi sóc giáo phận Lạng Sơn. Ngày 26 tháng 11 năm 1960, cùng với việc thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam, Ðức cha Phạm Văn Dụ lại được bổ nhiệm làm Giám mục chính tòa Lạng Sơn. Nhưng hoàn cảnh lúc đó không cho phép Ðức cha được tấn phong Giám mục. Mãi đến ngày mùng 1 tháng 5 năm 1979, Ðức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ mới được tấn phong Giám Mục, do Ðức cha Phạm Ðình Tụng, giám mục Bắc Ninh. Sau đây là sơ lược tiểu sử và hành trình ơn gọi của ngài.
    Những năm tháng ẩn dật (1960-1990)
    Theo lý tưởng chung của các gia đình công giáo đạo hạnh thời đó, mấy anh em của Vinh Sơn đều muốn đi tu cả. Phạm Văn Thuyết là anh cả vào học chủng viện nhưng không bền đỗ. Anh thứ hai là Phạm Văn Lượng đi tu dòng Đaminh được gởi sang học tại Hồng Kông và đã khấn dòng nhưng cũng không lên tới chức linh mục. Phạm Thị Nhiệm là em gái út đi tu dòng nữ Đa minh tại Waterloo bên Bỉ.
    Lúc còn nhỏ, Vinh Sơn theo học trường đệ tử dòng Phanxicô Thanh Hóa. Năm 1939 Vinh Sơn xin vào Tiểu Chủng Viện Thánh Têrêxa Lạng Sơn trong chương trình lớp đệ nhị. Sau đó thì được gởi đi Đại chủng viện Xuân Bích, Hà Nội. Thầy Dụ đã chịu chức linh mục năm 1948 do tay Đức cha Hedde. Sau khi ngài chịu chức, Đức cha có ý định gởi ngài xuống làm phụ tá cha Jeffro lúc đó đang làm bề trên nhà dòng Đa Minh. Nhưng vì địa phận chuẩn bị mở lại Tiểu chủng viện, cha Dụ được gởi lên làm cha phó tại Đồng Đăng để cha Haag rảnh rang về Lạng Sơn tu sửa khu Văn Miếu làm Tiểu chủng viện.
    Sau khi Đức cha Jacq, cha Guibert và cha Nerdeux là những vị truyền giáo cuối cùng đã bị trục xuất khỏi địa phận Lạng Sơn, cha Dụ được Tòa Thánh đặt lên chức Tổng quản địa phận. Khi được tin ấy, chính quyền Việt Nam đề nghị cha Dụ lên Thất Khê coi xứ thay cha Guibert.
    Tại Thất Khê, ngày 5 tháng 3 năm 1960 cha Dụ được Tòa Thánh bổ nhiệm Giám mục, hiệu tòa Boseta. Thế rồi, ngày 26 tháng 11 năm 1960, cùng với việc thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam, Đức cha Dụ được đặt lên làm Giám mục chính tòa Lạng Sơn. Dù vậy, Đức cha vẫn không được đi đâu để chịu lễ tấn phong Giám mục. Ngay trong dịp Đức cha Hedde qua đời tại Lạng Sơn ngày 4 tháng 5 năm 1960, Đức cha Dụ cũng không có mặt trong đám tang. Với Đức cha Dụ, theo nguyên tắc, Lạng Sơn đã thành địa phận Chính tòa, sau khi được các cha Đaminh Pháp tỉnh Lyon gầy dựng vun tưới trong vòng 50 năm. Lúc này, ngoài Đức cha Dụ ra, chỉ còn 3 linh mục phục vụ trong địa phận: cha Thu ở Cao Bằng, cha Khái ở Mỹ Sơn và cha Đức ở Lộc Bình.
    Từ khi lên Thất Khê 1960, Đức cha Dụ sống âm thầm một mình, rất ít liên lạc với thế giới bên ngoài. Khi quân Trung Hoa tràn sang Việt Nam năm 1979, Đức cha Dụ đã cùng với một số giáo dân tản cư về Bắc Ninh. Thừa dịp này, Đức cha Phạm Đình Tụng, giám mục Bắc Ninh đã làm lễ tấn phong cho Đức cha Dụ trong một nhà nguyện nhỏ tại Tòa Giám Mục Bắc Ninh ngày 1 tháng 5 năm 1979. Sau lễ tấn phong, Đức cha đã trở về Thất Khê, không có sự thay đổi gì.
    Ngày 2 tháng 4 năm 1979, Đức cha Micae Nguyễn Khắc Ngữ từ Long Xuyên báo tin ra ngoại quốc như sau:
    “Đức Cha Dụ biên thư cho tôi từ Bắc Ninh ngày 15 tháng 3 năm 1979 và Đức cha Tụng ngày 19 tháng 3, Ngài cho biết là Đức cha Dụ sau mười ngày tản cư qua rừng, đã tới Bắc Ninh ngày 28 tháng 2 để bắt đầu Mùa Chay. Tại đây có thầy Quỳnh và 100 giáo hữu Lạng Sơn cũng tản cư về. Còn cha Khái đã về Bùi Chu, cha Đức không tin gì, thầy Thảo có lẽ bị pháo kích chết tại Đồng Đăng. Đàng khác, quân Tầu phá sụp gác chuông Nhà thờ Chính tòa Lạng Sơn; khu nhà các bà Notre Dame des Missions (Văn Miếu) ở Cửa Nam cũng bị phá. Nhà xứ Thất Khê chỗ thì mất mái, chỗ đổ tường. Còn Cao Bằng chưa rõ tin gì… Những ngày hai Đức cha ở cùng nhau vui vẻ êm đẹp lắm, và như vậy tinh thần Đức Cha Dụ lên khá cao, để trở về tái thiết giáo phận từ con số không. Ngài xin chúng tôi giúp đỡ, chúng tôi sẽ cố.”
    Ngày 30 tháng 12 năm 1986 Đức cha Vinh Sơn viết ra ngoại quốc: “Tháng 7 vừa qua chúng tôi bị một cơn lụt kinh khủng, đến nóc nhà thờ Thất Khê. Không bị ai chết, nhưng về đồ đạc của cải thì giục xuống bùn cả. Ngẫm nghĩ mà thấy ứng nghiệm biết bao lời của các cụ xưa đã bảo: nạn vô đơn chí.”
    Từ năm 1987 thì Đức cha có vẻ tự do hơn về tin tức. Ngày 25 tháng 8 năm 1987 ngài viết: “Tôi ngồi đây gần 30 năm rồi, có được tự do đi đến đâu đâu! Hội đồng Giám mục thế giới đến nơi, dĩ nhiên tôi chả hy vọng chút nào được đi. Tôi thông công bằng lời cầu nguyện vậy…”
    Năm 1987, chị dòng Phạm Thị Nhiệm, người em gái của Đức cha ở Âu châu có được về thăm ngài trong những ngày từ 15 đến 21 tháng 11. Chị viết:
    “Nhìn thấy cái bàn giấy của anh sao mà buồn thế; có mấy quyển sách nó xấu xí; con hỏi tại sao thì anh nói bị ướt vì năm vừa rồi bị lụt. Bàn ghế cũng chả ra sao cả. Rồi cái màn cửa để chia từ phòng giấy qua phòng ngủ lại là một miếng bao tải, trông thảm ơi là thảm. Sau khi con hỏi những sách em gởi về ở đâu. Ngài nói, “Có người họ cần hơn, anh để cho người ta”.
    Chị chia sẻ tiếp: “Con thấy anh con sống rất là đơn sơ, không có vội vã và rất là bình tĩnh, con thì lo sợ, xong thấy anh con cứ rửng rưng. Con có cảm tưởng như có người anh “độc ẩn sĩ” và mục đích của anh là sống theo tinh thần Phúc âm.”
    Ngày 11 tháng 2 năm 1989 Đức cha viết: “Năm nay tôi được lên dâng lễ Noel mãi trên Cao Bằng. Lễ nửa đêm sau vài chục năm im lặng, không khí cảm động khác thường. Đứng trên bàn thờ, tôi phải im lặng đến hơn 15 phút, vì họ chen chúc nhau đông quá, tưởng như nhà thờ sắp bể.”
    Những năm tháng hy vọng (từ 1991 đến 2-9-1998)
    Năm 1990, Đức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ về Lạng Sơn sau 31 năm ẩn dật tại Thất Khê. Toà giám mục được tạm thời đặt tại khu Văn Miếu, Cửa Nam.
    Trong tạp chí “Các Giáo Hội Á Châu” (Pháp ngữ) cũng đề cập đến Đức cha Vinh Sơn Phạm Văn Dụ. Theo nguồn tin của tạp chí này số 101 ngày 16 tháng 12 năm 1990 cho hay, chính quyền Việt Nam đã thừa nhận Đức cha Vinh Sơn là Giám mục Lạng Sơn Cao Bằng sau khi phái đoàn Hồng y Etchegaray gặp gỡ và thương lượng với chính phủ từ ngày 6 đến ngày 12 tháng 11 năm 1990. Dầu vậy Đức cha Vinh Sơn vẫn không thu xếp kịp để cùng đi với 21 Giám mục Việt Nam sang triều yết Đức Thánh Cha vào những ngày cuối tháng 11 và đầu tháng 12 năm 1990.
    Sau khi được thừa nhận làm Giám mục, Đức cha bắt đầu được tự do đi lại. Ngày 21 tháng 1 năm 1991 Đức cha đã viết sang Pháp cho cha Phạm Phúc Khánh như sau:
    “Chắc cha đã cầu nguyện nhiều nên nay tôi được viết mấy chữ này cho cha từ thành phố Hồ Chí Minh. Phải, cha có thể tưởng tượng được không? Tôi đã được giấy vào đây 25 ngày để thăm Đức cha Ngữ. Vừa rồi chính quyền Lạng Sơn đã gọi và bảo cho tôi hay là nhà nước đã công nhận tôi là giám mục của Lạng Sơn. Sau 31 năm chờ đợi, tôi cũng đã già rồi, chả còn sức để đi đây đó trong địa phận để làm ích cho giáo dân. Cha già Quỳnh đã hơn 80 tuổi rồi, nhưng ngài vẫn còn hăng hái lắm. Kỳ đi vắng này tôi giao cả địa phận cho ngài. Tôi được nhà nước công nhận, nhưng vẫn còn phải ở Thất Khê, chưa được về Lạng Sơn. Sự thực cũng khó nghĩ vì bây giờ về Lạng Sơn thì không biết rúc vào đâu. Cha về mau mà xây dựng lại địa phận. Được công nhận là Giám mục, tôi nói đến vấn đề Ad limina, nhưng Ban Tôn giáo trung ương nói: từ từ”.
    Ngày 19 tháng 8 năm 1991 Đức cha Dụ đã đáp máy bay sang Rôma để triều yết Đức Thánh Cha và nhân tiện chữa bệnh luôn. Ngài nghỉ tại nhà quản lý Phát Diệm ít ngày rồi đi chữa bệnh tại Clinique Regina Mundi, Roma.
    Theo báo “Dân Chúa”, số 110 tháng 12 năm 1991 thì lúc 7 giờ sáng ngày 18 tháng 11 năm 1991, Đức cha Dụ đã dâng Thánh Lễ với Đức Thánh Cha trong nhà nguyện riêng tại Vatican. Cùng dâng Thánh Lễ còn còn có 6 linh mục Việt Nam đến từ thành phố Hồ Chí Minh và Hoa Kỳ. Sau Thánh Lễ, Đức Thánh Cha đã mời Đức cha Dụ dùng bữa sáng với ngài. Đức Thánh Cha đã tặng Giám Mục Lạng Sơn một chén lễ quý giá.
    Sau khi Đức cha chữa bệnh ít lâu tại Rôma, các bác sĩ cho biết bệnh tình của ngài không thể chữa khỏi hẳn được. Ngày 22 tháng 11, ngài được phép sang Bỉ thăm người em gái đồng thời đi hành hương Lộ Đức và Lisieux. Đến lúc cần phải đi Lyon cùng với Đức cha Jacq để gặp cha quản lý tỉnh Dòng Đaminh thì ngài mệt không đi được. Ngày 7 tháng 12 Đức cha đã trở về Việt Nam. Kể từ đó ngài dọn về ở Tòa Giám Mục Lạng Sơn.
    Bước sang năm 1993 thì đời sống của Đức cha bắt đầu trở nên bình thường. Tuần Thánh năm đó, giáo dân các nơi trong khu vực kéo đến mừng lễ Phục Sinh rất sầm uất và long trọng. Mừng lễ Phục sinh ở Lạng Sơn xong, Đức cha đi các nơi: Thất Khê, Cao Bằng, Bố Từ, Tà Lùng. Đi đến đâu, ngài cũng phải một mình làm mọi việc: giải tội, rửa tội, cho chịu lễ lần đầu, xức dầu bệnh nhân, giải quyết các đôi vợ chồng rối ren. Năm ấy địa phận chỉ còn có Đức cha, khi ấy đã 71 tuổi và cha già Quỳnh 87 tuổi hoạt động trong cả miền.
    Năm 1993, khởi công xây Toà giám mục. Dự định sẽ xây tiếp nhà thờ chính toà nhưng chưa thành. Năm 1995, khởi công xây dựng nhà thờ Thanh Sơn, Cao Bằng. Năm 1996, xây nhà thờ Cao Bình. Sang năm 1997, sức khoẻ của Đức cha ngày một giảm sút. Ngày 9-3-1998, Toà Thánh phê chuẩn đơn xin nghỉ hưu của Đức cha. Bệnh tình ngày càng trầm trọng, ngài đã qua đời lúc 0 giờ 45 ngày 2 tháng 9 năm 1998, sau 38 năm phục vụ Hội Thánh Chúa trong lặng lẽ ngang qua chức vụ giám mục của mình.

    [Tóm tắt theo: Lm Phạm Phúc Khánh, Lược Sử Địa Phận Lạng Sơn, Cannes, 1994]

    GP Lạng Sơn
    thay đổi nội dung bởi: Damsan, 28-08-2009 lúc 08:34 AM
    Chữ ký của Damsan
    Nàng đẹp quá, bạn tình ơi, đẹp quá !
    Đôi mắt nàng là một cặp bồ câu.

    (Dc 1,15 )

  31. Có 13 người cám ơn Damsan vì bài này:


  32. #18
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,695 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha GIOAKIM ĐẶNG ĐỨC TUẤN

    (1806-1874)
    Tinh hoa công giáo ái quốc

    1. Gia cảnh

    Quê tôi Bình Định,
    Làng chánh Qui Hoà,
    Giữ đạo truyền gia,
    Mẹ cha đã mất,
    Không lập gia thất,
    Có một mình tôi,
    Anh em chết rồi,
    không còn ai cả” 1
    Làng Qui Hoà theo lời cha Gioakim Đặng Đức Tuấn khai với quan huyện Mộ Đức như trên, ngày nay là thôn Qui Thuận, xã Hoài Châu Bắc, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, nơi chôn nhau cắt rốn của cha vào năm 1806. Xét về phương diện tôn giáo, Qui Hoà hay Qui Thuận đã từng là trung tâm sinh hoạt tôn tôn giáo của địa sở Gia Hựu, một địa sở kỳ cựu, sầm uất của giáo phận Qui Nhơn. Cha Gioakim Đặng Đức Tuấn là một trong ba người con của ông Đặng Đức Lành, một ẩn sĩ làm Câu địa sở Gia Hựu. Gioakim Đặng Đức Tuấn có người anh là Đặng Đức Hoá và người em là Đặng Đức Bình.
    Được sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống đức tin và văn hoá, Đặng Đức Tuấn đã tỏ ra thông minh, nhanh trí, mỗi đêm có thể học thuộc năm mươi trang sách nho. Năm Ất Dậu (1825), Đặng Đức Tuấn dự khoa thi Hương tại Thừa Thiên,2 Ngay từ trường nhất (kinh nghĩa) và trường nhì (chiếu, biểu, luật, dụ), Đặng Đức Tuấn đã đậu thủ khoa nhưng vào trường ba (thơ, phú, văn sách) Đặng Đức Tuấn không may vô duyên với khoa bảng vì chép đề thi sai sót một chữ mà phải chịu lạc đề. Phải chăng cái lạc đề vô duyên ấy như dấu giáng âm để chuyển cung điệu mà Thiên Chúa đã ghi sẵn vào dòng nhạc cuộc đời Đặng Đức Tuấn?
    Trong khi không đậu bảng vàng, không được thăng quan tiến chức, Đặng Đức Tuấn ở nhà làm giáo làng và sinh sống bình dị như bao người trong làng xóm, thì ở Chủng viện Penang, Mã Lai, các chủng sinh Việt Nam đang cần thầy giáo Hán Văn. Ngoài những môn học theo qui trình đào tạo linh mục của Hội Thánh, các chủng sinh Việt Nam cần phải có thêm kiến thức Hán văn để có thể đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu học tập ở Chủng viện và truyền giáo tại nước nhà. Thầy giáo Tuấn chưa biết, chưa nghĩ đến nhu cầu ấy của Hội Thánh nhưng Thiên Chúa đã biết, đã nghĩ đến thầy.

    2. Khúc quanh cuộc đời
    Nhân chuyến viếng thăm địa sở Gia Hựu, Đức cha Stêphanô Cuénot Thể ngỏ ý với các chức việc về việc Chủng viện Penang đang cần thầy giáo Hán Văn. Các chức liền giới thiệu giáo làng Đặng Đức Tuấn con ông câu Lành cho Đức cha.
    Sau khi được yết kiến Đức cha Stêphanô Cuénot Thể và được biết nhu cầu của Hội Thánh Việt Nam, giáo làng Đặng Đức Tuấn vâng lời nhận lệnh Đức cha và được Đức cha Cuénot đưa vào Gia định, chờ tàu đi Penang. Lúc bấy giờ vào khoảng đầu thời Vua Thiệu Trị (1841-1847).
    Đến Penang, thầy Đặng Đức Tuấn được tiếp cận với văn hóa Đông Tây. Vốn tư chất đạo đức, thông minh và bản tính hiếu học, ngoài giờ giảng dạy Hán văn tại Chủng viện Penang, thầy Đặng Đức Tuấn còn chú tâm nghiên cứu học hỏi Pháp ngữ và cả tiếng La tinh là ngôn ngữ căn bản của Hội Thánh. Sau ba năm chuyên tâm học hỏi, thầy Đặng Đức Tuấn đã đạt được trình độ hiểu biết về tiếng La tinh và Pháp ngữ một cách khả quan. Sự tận tụy chu toàn bổn phận của một người thầy, của một Kitô hữu và sự hiếu học cũng như đời sống nhân bản của một thanh niên Việt Nam chín chắn, chững chạc đã lọt vào tầm ngắm của người có trách nhiệm đào tạo linh mục cho cánh đồng truyền giáo Việt Nam.


    3. Quyết chọn làm linh mục
    Một hôm cha Giám đốc Đại chủng viện Penang gặp ông thầy dạy Hán văn đang nghiên cứu văn phạm La ngữ, ngài hỏi: “Con có muốn học để làm linh mục không?” Thầy Đặng Đức Tuấn tỏ ý muốn làm linh mục của mình, song e ngại đã lớn tuổi. Cha Giám đốc hứa can thiệp với Đức cha Cuénot Thể để chuẩn nhận thầy vào chủng sinh của giáo phận. Sau thời gian cha Giám đốc liên lạc thỉnh ý Đức cha Cuénot Thể và được Đức cha chấp thuận, Chủng viện Penang có thêm một chủng sinh tu muộn già dặn, tinh thông văn tự Đông Tây “vừa học vừa làm”, vừa làm thầy giáo Hán văn, vừa học các môn học của Hội Thánh. Sau bảy năm dùi mài những môn học ở Chủng viện, thầy Ðặng Ðức Tuấn đã được thụ phong phó tế.
    Sau khi lãnh chức phó tế ở Đại chủng viện Penang, thầy Tuấn trở về Việt Nam. Sau một thời gian phục vụ giáo phận, thầy Tuấn được Đức cha Cuénot Thể truyền chức linh mục tại Toà Giám mục Gò Thị 3 và được bổ nhiệm làm việc tại Tư Ngãi (Quảng Ngãi).


    4. Lâm nạn phụng quốc hành
    Trong thời gian cha Gioakim Đặng Đức Tuấn làm việc tại Quảng Ngãi, tình hình chính trị trong nước rất bất ổn. Tàu chiến Pháp gây chiến ở Đà Nẵng, rồi Gia Định. Triều đình Huế nghi kỵ người Công giáo. Vua Tự Đức liên tiếp ra các sắc dụ cấm đạo vào những năm 1859, 1860, khắc nghiệt nhất là sắc dụ phân sáp năm 1860 được thực hiện triệt để vào năm 1861. Nhà thờ bị phá hủy, nhà cửa ruộng vườn các tín hữu bị tịch thu, các tín hữu bị bắt phân tán vào các làng mạc. Trước tình thế khắc nghiệt ấy, cha Ðặng Đức Tuấn phải rời nhiệm sở Quảng Ngãi, trở về Bình Định, rồi lại từ Bình Định trở ra Quảng Ngãi để vừa lẩn tránh vừa tìm cách thăm nom an ủi bổn đạo. Đó là sự tính toán và nỗ lực của con người, còn Thiên Chúa có cách ứng xử của Ngài.
    Đầu năm 1862, hôm cha Tuấn tạm trú tại nhà Hương Côn ở Nga Mân 4, Tú Quới đến chơi, hai bên hàn huyên tương đắc. Tú Quới ngưỡng mộ tài đức và văn học của cha Đặng Đức Tuấn, nhưng đoán biết cha Tuấn là công giáo, nên sợ quan quyền hay biết, không dám ém nhẹm, mà tự mình bắt thì không đành nên kêu làng tới xét hỏi. Làng đòi đóng gông, nhưng Tú Quới bảo lãnh đưa về nhà mình cơm nước. Sáng hôm sau, làng giải giao cha Đặng Đức Tuấn lên huyện Mộ Đức 5 .
    Trong thời gian bôn tẩu, nhìn vào thế cuộc, tâm hồn đau xót vì Hội Thánh bị lâm nạn, Nam kỳ bị Pháp xâm chiếm, cha Đặng Đức Tuấn soạn thảo hai bản điều trần: Hoành Mao Hiến Bình Tây sách và Minh Đạo Bình Tây sách, để chờ có dịp dâng lên triều đình.
    Trong lúc bị áp giải, cha Đặng Đức Tuấn vẫn giữ hai bản Điều trần này trong gói hành lý cùng với bảo vật tùy thân là tượng Đức Mẹ. Vì sợ quan quân tịch thu xúc phạm đến Đức Mẹ, cha Tuấn đành phải gởi tượng Đức Mẹ vào một bộng cây da bên lề đường.
    Sau khi lấy khẩu cung, quan huyện biết tác giả hai bản điều trần là đạo trưởng, cha Đặng Đức Tuấn được chuyển lên tỉnh. Tại tỉnh, cha Tuấn viết tờ khai bằng bài vè bốn chữ, 88 câu (Tư Thừa Khai) 6. Tại tỉnh, cha Đặng Đức Tuấn bị đưa ra công đường tra tấn. Lúc bấy giờ có quan Khâm sai từ kinh đô vào ghé lại tỉnh đường. Quan Khâm sai xem qua bản điều trần thấy có vấn đề quan trọng, quan Khâm sai truyền giam cha Tuấn rồi gởi hồ sơ nội vụ về triều đình. Cha Đặng Đức Tuấn được triệu về kinh đô Huế và được Thượng thư bộ binh Lâm Duy Hiệp cùng Hiệp biện Phan Thanh Giản tra vấn về đạo Công giáo và về giặc Tây đánh phá Việt Nam. Cha Đặng Đức Tuấn thuyết phục hai đại quan bằng tình lý trong sáng vói chánh ngôn, chánh lý chặt chẽ. Nhân dịp này, Cha Tuấn viết thêm hai bản điều trần xin tha cho giáo dân và hiến kế làm cho dân giàu quân mạnh. Phan Thanh Giản dâng lên cho vua. Vua Tự Đức khen thưởng và nới lỏng lệnh cấm đạo. Vào khoảng tháng 3-1862, cha Đặng Đức Tuấn viết thêm hai bản điều trần nữa, bản thứ năm và thứ sáu về vấn đề cấm đạo và vấn đề kế sách giảng hòa với Pháp. Cha Đặng Đức Tuấn được vua Tự Đức cử tháp tùng sứ bộ Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp vào Gia Định thương nghị với Pháp.
    Cuộc thương nghị khai diễn vào ngày mồng một tháng Năm, năm Nhâm Tuất, tức ngày 6 tháng 6 năm 1862. Pháp đòi ta bồi chiến phí năm triệu đồng và cắt giao trọn sáu tỉnh Nam kỳ. Thấy điều kiện giảng hoà quá nặng, Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp hỏi ý kiến cha Đặng Đức Tuấn. Cha Đặng Đức Tuấn không che dấu mà còn phát huy tư cách linh mục của mình cùng với cương vị là một nhân viên thông ngôn của sứ bộ, cha Đặng Đức Tuấn bày tỏ lập trường cương quyết giữ vững chủ quyền và sự nguyên vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc:
    Phan, Lâm đòi Tuấn hỏi han:
    Tây xin nhiều quá, Tuấn bàn làm sao?
    Tuấn rằng: “Ông lớn lượng cao,
    Đòi bồi thì chịu, đừng giao tỉnh thành.
    Ý tôi thời vậy đã đành,
    Mặc lượng quan lớn quyền hành chủ trương” 7.
    Sau khi hòa ước được ký kết, vua Tự Đức ra Chỉ dụ bãi bỏ lệnh phân sáp, giáo dân bị phân sáp được trở về quê cũ và được trả lại điền thổ. Đây là chính sách chung của triều đình, trong đó có phần đóng góp công lao khá quan trọng bằng những lời điều trần của cha Đặng Đức Tuấn.

    5. Cho đến hết hơi cho đến trọn đời linh mục
    Ngày 24 tháng 5 năm 1862, cha Đặng Đức Tuấn được lệnh triều đình cho về quê. Trên đường về, cha Tuấn ghé lại gốc cây da xem lại tượng Đức Mẹ cha đã cất giấu lúc bị áp giải từ Nga Mân lên huyện Mộ Đức như cha đã tường thuật:
    Bôn ba về tới huyện trung,
    Qua than Bàu Gốc thăm vùng cây da.
    Lại xem tượng ảnh Đức Bà,
    Hình còn y cựu, bộng đà nhỏ nhoi.
    Lấy dao khoét rộng ra coi,
    Để vào trong áo ngậm ngùi hân hoan.
    Đội ơn Đức Mẹ muôn ngàn,
    Giữ gìn con dại bình an trở về.
    Tạc ghi ơn Chúa nhớ hoài Mẹ ta.” 8
    Khi cha Tuấn về Bình Định thì Đức cha Cuénot Thể đã bị chết rũ tù, cha Charles Herrengt, Bề trên địa phận, đang ở Xóm Chiếu, Sài Gòn. Cha Tuấn được bề trên bổ nhiệm về xứ đạo Tân Lộc, Quảng Ngãi rồi sau đó vào Mương Lỡ (Hòa Mục), Bình Định. Năm 1865, Đức cha Eugène Charbonnier bổ nhiệm cha Gioakim Đặng Đức Tuấn làm cha sở Nước Nhỉ, một xứ đạo bên bờ đầm Trà Ổ, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Lúc bấy giờ xứ Nước Nhỉ không có nhiều giáo dân, năm 1850 Nước Nhỉ có 132 giáo dân và họ Suối Lâm 78 giáo dân. Ngoài việc truyền giáo và chăm sóc mục vụ cho giáo dân, Cha đã dành thời gian viết nhiều tác phẩm bằng thi ca, đặc biệt hun đúc giáo dân Nước Nhỉ có lòng sùng kính Đức Mẹ rất sốt sắng. Trong thời gian cha Tuấn ở Nước Nhỉ, vua Tự Đức triệu mời cha về kinh đô Huế hai lần để tham vấn về việc nước.
    Ngày 24 tháng 7 năm 1874, Cha Gioakim Đặng Đức Tuấn trút hơi thở cuối cùng tại nhà thờ Nước Nhỉ, ấp Chánh Khoan, xã Mỹ Lợi, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Một kẻ sĩ, một kho tàng văn hóa, một tình thương dân tộc, một cuộc đời linh mục đặc biệt sùng kính Đức Mẹ và kết hợp nhuần nhuyễn nhân, trí, dũng Á Đông với triết lý và thần học Kitô giáo để mưu cầu hạnh phúc cho đồng bào, cho đất nước đã kết thúc, nhưng gương sáng và việc lành của cha còn đó. Cha được an táng tại khuôn viên nhà thờ Nước Nhỉ. Thương nhớ cha, giáo dân lập một bàn thờ Đức Mẹ bên mộ cha. Sau giờ kinh tối thứ bảy hằng tuần, giáo dân quây quần bên mộ cha và bàn thờ Đức Mẹ để cha con cùng đọc kinh kính Đức Mẹ như thể lúc cha còn sống bên đoàn chiên vậy. Thói quen này được giáo dân Nước Nhỉ gọi là chầu lầu, được giữ mãi cho đến khi di cư (1966). Năm 1905, nhà thờ Nước Nhỉ được cha Jean Marie Guéno dời đến vị trí mới. Mộ cha Đặng Đức Tuấn được cải táng về Lăng Tử Đạo Nước Nhỉ, vị trí hiện nay.


    6. Những tác phẩm của cha
    Gioakim Đặng Đức Tuấn:

    Giáo sư Lam Giang và linh mục Giuse Võ Ngọc Nhã đã sưu tập các di cảo của cha Gioakim Đặng Đức Tuấn:
    1/ Việt Nam Giáo Sử Diễn Ca: Lược thuật lịch sử loan báo Tin Mừng tại Việt Nam từ thời hậu Lê cho đến chỉ dụ phân sáp của vua Tự Đức.
    2/ Lâm Nạn Phụng Quốc Hành: Thuật lại những sự kiện từ khi bị bắt ở Nga Mân đến lúc vua Tự Đức ra chỉ dụ bãi bỏ lệnh phân sáp.
    Hai thi phẩm trường thiên nầy cho thấy khả năng kết hợp tài tình của cha Đặng Đức Tuấn giữa các thể thơ lục bát, song thất lục bát và thất ngôn đường luật. Đồng thời cho thấy nghệ thuật trình bày hấp dẫn của cha. Nơi “Việt Nam Giáo sử Diễn Ca”, cha dùng thuận tự pháp trình bày các sự kiện lịch sử theo thứ tự thời gian. Nơi “Lâm Nạn Phụng Quốc Hành”, cha dùng nghịch tự pháp thuật lại các sự kiện không theo thứ tự thời gian nhưng đột ngột lấy những sự kiện làm điểm nhấn rồi qua đó trình bày đầu đuôi ngọn nguồn. Nơi “Việt Nam Giáo sử Diễn Ca”, cha kết thúc nơi cái chết của Đức cha Cuénot Thể, cái chết gây xót xa trong lòng người thì nơi “Lâm Nạn Phụng Quốc Hành”, cha kết thúc nơi chỉ dụ bãi bỏ lệnh phân sáp của vua Tự Đức, một kết thúc gây cảm giác phấn khởi. Hết bỉ cực đến thái lai, từ tử nạn đến phục sinh là qui luật của sự sống mà cha Đặng Đức Tuấn đã ngấm ngầm diễn tả nơi hai thi phẩm trường thiên nầy.
    3/ Hoành Mao Hiến Bình Tây Sách
    4/ Minh Đạo Bình Tây Sách
    Hoành Mao Hiến Bình Tây Sách và Minh Đạo Bình Tây Sách là hai bản điều trần được viết trước khi bị bắt. Bốn bản khác được viết khi cha bị giữ ở triều đình hiện nay chưa được tìm thấy, chỉ biết được có bốn bản này qua tường thuật của cha trong “Lâm Nạn Phụng Quốc Hành”.
    5/ Nguyên Đạo: Bản văn ngắn gửi cho bộ Binh trình bày nguồn gốc Kitô giáo.
    6/ Văn Tế Đức Cha Thể: Thể hiện tâm tình với Đức cha Cuénot.
    7/ Minh Dân Vệ Đạo Khúc: Trình bày chân lý Kitô giáo nhằm đáp lại bài “Hoán mê khúc” của quan Án sát Ngụy Khắc Đản đã hiểu sai về Kitô giáo.
    8/ Kim Thạch Giải Sầu Ca: An ủi giáo dân trung thành với đức tin Kitô giáo.
    9/ Cách Ngôn Liên Bích: Chỉ dẫn giáo dân xử thế lập thân, sống đạo bằng những những câu cách ngôn có nội dung từ Tin Mừng và tục ngữ ca dao.
    10/ Văn Tế Các Đẳng: Thương nhớ những người quá cố.
    11/ Minh Tâm Linh Số: Bài thơ chữ Hán thể thất ngôn, chữ đầu của câu thơ là một chữ số nói về một chân lý đức tin.
    12/ Thống Hối Đề Ngâm: Gồm 76 câu thơ lục bát nói lên sự cần thiết và lý do thống hối lỗi lầm.
    13/ Cải Quá Tự Tân Luận: Trường thơ lục bát khuyên giáo dân chừa bỏ Bảy mối tội đầu.

    ---------------------------
    1 Gs. Lam Giang & Lm. Võ Ngọc Nhã, Đặng Đức Tuấn Tinh hoa Công Giáo ái quốc, 1970, Trang 134.
    2 Theo ‘Châu Bản Triều Nguyễn, triều Minh Mạng, năm thứ 7, tập XX, trang 129’ và ‘Quốc Triều Hương Khoa Lục của Cao Xuân Dục, bản dịch Nguyễn Thúy Nga và Nguyễn Thị Lâm, nxb Tổng hợp Tp. HCM, 1993’: Năm 1813 Vua Gia Long cho mở cuộc thi hương ở Bình Định cho các sĩ tử trong vùng Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà. Từ năm 1821, các sỉ tử từ đèo Cả trở ra phải thi ở Thừa Thiên cho đến năm 1850, triều đình cho lập trường thi ở Bình Định.
    3 - Trong lời khai của cha Tuấn năm 1861 “Khi về nước Nam, tôi ra Tư Ngãi, ở đây ngũ tải, giảng đạo Chúa Trời…”. Như vậy trước khi bị bắt, cha Tuấn đã làm việc tại Tư Ngãi (Quảng Ngãi ) được 5 năm. Như thế cha Tuấn thụ phong linh mục vào năm 1856; đi Penang năm 1846.
    - Mémorial Mission de Qui Nhơn, No.62, 19 Mars 1910, p. 13. trong danh sách các cha được Đức cha Thể truyền chức linh mục từ năm 1850, có ghi cha Khâm quê Gia Hựu, chết ở Nước Nhỉ. Cha Tuấn được giáo dân và các thân hào gọi là cha Khâm vì ngài được triều đình cử đi cùng với hai vị đại quan Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp vào Gia Định thương thuyết với Pháp về việc nước.
    4 Ngày nay là thôn Nga Mân, xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Thôn Nga Mân hiện nay là trung tâm của xã Phổ Cường, có đường sắt Bắc Nam và quốc lộ 1 đi ngang qua. Về địa bàn tôn giáo, Nga Mân thuộc địa sở Trà Câu. Ngày nay thuộc giáo xứ Vĩnh Phú, Quảng Ngãi.
    5 Lúc cha Tuấn bị bắt, Nga Mân thuộc châu Đức Phổ, huyện Mộ Đức. Huyện Đức Phổ được thành lập năm 1899.
    6 Gs. Lam Giang & Lm. Võ Ngọc Nhã, Đặng Đức Tuấn Tinh hoa Công Giáo ái quốc, 1970, Trang 134-137.
    7 Sđd. Lâm nạn phụng quốc hành, phần III, câu 73-78.
    8 Sđd. Trang 164.
    thay đổi nội dung bởi: Damsan, 03-09-2009 lúc 09:18 PM
    Chữ ký của Damsan
    Nàng đẹp quá, bạn tình ơi, đẹp quá !
    Đôi mắt nàng là một cặp bồ câu.

    (Dc 1,15 )

  33. Có 9 người cám ơn Damsan vì bài này:


  34. #19
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,695 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha PHILIPPHÊ PHAN VĂN TUYỀN


    (1913 – 1947)







    Linh mục Philipphê Phan Văn Tuyền sinh năm 1913 tại Cái Mơn (Bến Tre) trong một gia đình đạo đức thuộc dòng dõi Thánh Philipphê Phan Văn Minh (1815–1853). Song thân là ông Matthêu Phan Văn Trị và bà Anna Nguyễn Thị Quốc. Ông bà sinh được 8 người con: 4 trai 4 gái mà Philipphê Tuyền là con thứ ba.
    Philipphê Phan Văn Tuyền lớn lên theo học tại trường họ Cái Mơn, dưới thời cha sở Isidoro Dumortier Đượm. Là một thiếu nhi minh mẫn, tính tình hiền hậu, đạo đức nên được cha sở Isidoro Dumortier chú ý và tuyển chọn. Khi cha Isidoro được tấn phong làm Giám mục Sàigòn, lúc đó Phan Văn Tuyền được 13 tuổi, được Đức Tân giám mục gọi vào Chủng viện Thánh Giuse Sàigòn. Thực là một vinh hạnh. Sau 14 năm tu học ở Tiểu và Đại Chủng viện Sàigòn, thầy Philipphê Tuyền được thụ phong linh mục vào mùa thu năm Canh Thìn (21-09-1940) tại Sài Gòn. Sau đó, ngài trở về giáo phận Vĩnh Long phục vụ vì ngài là linh mục thuộc giáo phận này, một giáo phận được thành lập năm 1938 với Giám mục tiên khởi là Đức cha Phêrô Martinô Ngô Đình Thục,
    Cha Philipphê Tuyền được chỉ định làm cha phó họ Giồng Miễu (Thạnh Phú) từ năm 1940 đến năm 1944. Tại nơi đây, ngài luôn hoạt tông đồ một cách hăng say và đắc lực.
    Năm 1944, cha được Đức Cha gọi về coi họ Giồng Giá thuộc quận Ba Tri, đang khi tình hình chiến cuộc ở đó rất căng thẳng. Giồng Giá khi ấy là vùng hoạt động của Việt Minh, thỉnh thoảng bị lính Tây đến bắn phá, dân chúng bị thiệt hại nặng nên thường sống trong lo âu và sợ hãi. Năm 1946, khi cuộc chiến ngày càng leo thang, cha Philipphê Tuyền xin phép về gia đình nghỉ tạm thời gian.
    Sau thời gian gần 5 tháng, cha vâng lời Đức Giám mục giáo phận trở về Giồng Giá để lo cho giáo dân đi xưng tội rước lễ mùa Phục Sinh năm 1947. Lợi dụng tình thế đó, một số kẻ ghét đạo cố ý phao tin thất thiệt, vu cáo cha nào là theo Tây, nào là giữ chức vụ kín Tây giao cho v.v… Một vài người hoạt động trong vùng đó sẵn lòng oán ghét đạo Công giáo nay được dịp vu khống cho vị linh mục vô tội này. Ngay khi về nhiệm sở, phòng công an mời cha về Đình Bảo Hòa, gần họ Giồng Giá trình giấy tờ, vì có đủ giấy tờ hợp lệ nên không có lý do nào để cầm giữ cha.
    Một đêm tối trời tháng 7 năm 1947, một nhóm người bất hảo tới rình rập nhà cha sở Giồng Giá, họ kêu cửa và bảo: “Tây tới, cha mở cửa, con dắt cha đi trốn”. Bọn chúng kêu nhiều lần mà cha không mở cửa vì cha nghe tiếng lạ. Đến khi bọn chúng giả giọng ông Sáu Chim người quen của cha (vì nhà ông ở gần nhà cha sở), cha nghe tiếng thì an tâm ra mở cửa. Cửa vừa mở, bọn chúng xông tới bắt cha và ông từ Tiện dẫn đi.
    Khoảng nửa đêm, nguời ta tạo một trận báo động giả với tiếng còi và tiếng hô to: “Tây tới, Tây tới”. Dân chúng sợ hãi chạy trốn. Đến sáng ngày, giáo dân không nghe nhà thờ đổ chuông như thường lệ nên ai nấy đều tưởng lầm rằng cha bị Tây bắt. Những kẻ bách hại cha đưa cha tới họ Gảnh cách Giồng Giá 7 cây số, vào lúc đêm khuya tăm tối. Họ chọn chỗ đó làm chốn pháp trường nên đã đào hầm sẵn để chôn sống cha.
    Đến đó, cha biết mình phải bị giết nên cha xin dừng lại 5, 10 phút để dọn mình. Cha quì gối xuống đọc kinh thầm thỉ kêu xin Chúa, phó thác mạng sống mình trong tay Chúa. Bọn chúng nghe cha đọc kinh thì quát mắng to: “Giờ phút này mà còn kêu Tây nữa”. Khi cha đọc kinh xong, bọn chúng xúm lại đập cha bằng cây dầu vuông. Đau quá, cha kêu Chúa liên lỉ nhưng chúng vẫn đập cho đến khi không còn nghe tiếng cha rên nữa thì chúng đạp cha xuống một cái hầm đào rất cạn rồi lấp đất lại sơ sài, đoạn bỏ chạy trốn hết.
    Vài hôm sau, ông biện Kiềm tại họ Gảnh ra canh tác nơi mảnh đất của ông gần chổ họ đã giết cha. Ông nhìn thấy một cảnh tượng hãi hùng: một mô đất lấp sơ sài còn lộ ra 2 gót giầy. Rất đau lòng. Ông liền nhanh nhẹn lấp lại kỹ lưỡng, rồi kín đáo báo cho ông Bảy Trình (em cha Benoit Thắng) biết. Hai ông lén lút đánh dấu nơi ấy.
    Thường đêm, những người biết và thương mến cha đều hướng về ngôi mộ cha để cầu nguyện. Vào một đêm năm 1950, có một số người thấy ánh sáng chiếu ra từ ngôi mộ cha. Và còn lạ hơn, có đêm cha về kêu những người ấy và nói: “Sao chúng con không đem cha về Nhà thờ, để cha ở đây cô quạnh một mình”.
    Họ liền đến kể lại cho cha Phêrô Chính (cha sở họ Giồng Giá) tất cả những gì họ đã nghe thấy. Cha sở nghe các việc về cha Philipphê Tuyền nên ngài đến trình với Đức cha Ngô Đình Thục. Cũng nên biết, sau khi cha Philipphê Tuyền bị giết thì Nhà thờ Họ Giồng Giá cũng bị phá hủy tan hoang. Đức cha đã yêu cầu cha Phêrô Chính lo tu sửa nhà thờ lại và tìm cách đem hài cốt cha Philipphê Tuyền về an táng nơi Cung thánh Nhà thờ Giồng Giá.
    Người ta chỉ còn biết là đã chôn cha Philipphê ở khu vực đó chứ không ai nhớ rõ chỗ nào đúng là mộ huyệt của cha, vì tinh thế rất căng thẳng, không ai dám lui tới và nơi ấy đã trở nên hoang vắng, cỏ mọc um tùm.
    Cha sở Phêrô Chính phải tổ chức công việc chu đáo: ngày 19-01-1951, ngài chọn và giao công việc cho bốn người trong số những người đã trông thấy ánh sáng tỏ rực từ mộ cha Philipphê Tuyền lúc ban đêm gồm: ông biện Kiềm và một ông biện khác vác cuốc giả vờ đi đào chuột và hai người phụ nữ bưng rổ giả đi xúc cá.
    Khi họ tới Gò Trộm là nơi chôn cha nơi mà họ đã thấy ánh sáng đó, cùng nhau họ quì xuống đọc kinh cầu nguyện và thầm thĩ với cha: “Cha ơi! Nếu chỗ này là nơi cha an nghỉ thì xin cha cho chúng con biết để chúng con đem cha về”. Sau khi cầu nguyện xong, họ đứng lên, ông biện Kiềm lấy cuốc xốc lên một cái thì quả thật, gặp được xương cha. Họ quá đỗi mừng, tìm tới nữa thì gặp cái sọ đầu của cha. Họ nhanh chóng thu lượm đầy đủ không thiếu sót xương nào. Hai bà vội vã bỏ xương vào rổ, bưng thẳng về nhà thờ Gảnh, giao cho Dì Tư Thê và Dì Sáu Trong thuộc Dòng Mến Thánh Giá Cái Mơn đang công tác tại đó. Còn hai ông biện lo lấp đất lại kỹ lưỡng rồi về sau.
    Hai Dì chùi rửa hài cốt sạch sẽ, rồi lấy khăn trắng trải trên bàn, sắp xương ra và đốt ngọn nến. Các Dì và một ít người cùng nhau canh thức suốt đêm cầu nguyện cho cha.
    Qua ngày 20-01-1951, Dì Phước tại họ Gảnh cùng với một nhóm các em đi dự lễ ở nhà thờ Giồng Giá. Thừa cơ đi dự lễ, các dì gói bộ xương kín đáo, cái sọ để riêng, xương để riêng, rồi bỏ vào 1 bọc lá do các bà chầm sẵn, cho mấy em thiếu nữ gánh đem xuống nhà thờ Giồng Giá giao cho cha sở. Tại đó, cha sở đóng sẵn một cái quách. Cha tiếp nhận hài cốt rồi tổ chức nghi lễ tẩm liệm tại nhà xứ, đoạn chuyển linh cữu đặt giữa nhà thờ cho giáo dân đến kính viếng, cầu nguyện suốt 3 ngày.
    Đến ngày 24-01-1951, Cha Benoit Thắng và 13 Cha ở các họ đạo gần xa mạo hiểm đến dự lễ cải táng cha Philipphê Tuyền. Lúc 6 giờ sáng, qưới chức và con chiên trong họ đầu vấn khăn tang, khiêng hài cốt cha Tuyền đi kiệu vòng quanh nhà thờ. Kiệu xong, khiêng hài cốt cha vào nhà thờ. Cha Benoit Thắng cử hành lễ an táng để cầu nguyện cho cha và cử hành nghi thức an táng rồi đặt hài cốt cha tại Cung thánh Nhà thờ Giồng Giá. Buổi lễ diễn ra trong bầu khí vô cùng cảm động. Trong buổi lễ cải táng này, có bà mẹ cha Tuyền đến dự lễ để tiễn đưa con bà.
    Giồng Giá đến nay vẫn còn mộ vị linh mục này. Cha Philipphê mới được 34 tuổi đời, 7 năm linh mục nhưng đã được Thiên Chúa thương trao ban hồng ân tử đạo. Cha là vị linh mục thứ 26 sinh quán tại Cái Mơn, sau Thánh Philipphê Phan Văn Minh tử đạo.

    (Tổng hợp các lời kể và tài liệu về cha Philipphê Phan Văn Tuyền)



    GP Vĩnh Long
    Chữ ký của Damsan
    Nàng đẹp quá, bạn tình ơi, đẹp quá !
    Đôi mắt nàng là một cặp bồ câu.

    (Dc 1,15 )

  35. Có 10 người cám ơn Damsan vì bài này:


  36. #20
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,695 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Hai anh em Cha
    Phêrô Cao hữu Tạo và
    Phêrô Cao Hữu Hân
    Người giáo dân Vinh và Giáo dân Phan Thiết và nhất là giáo dân thuộc các xứ đạo Lagi không ai không biết danh tiếng của hai vị Linh mục thánh thiện, nổi tiếng ban nhiều ơn lạ, mọi người gọi các Ngài bằng một tên thân mật là « Hai Cha Già ». Đó là hai anh em ruột, Linh Mục Phêrô Cao Hữu Tạo và Linh Mục Phêrô Cao Hữu Hân.
    I. HAI LINH MỤC ANH EM HỌ CAO
    1. Linh Mục Phêrô Cao Hữu Tạo:

    - Sinh năm 1863, tại Cồn Giữa Quảng Bình.
    - Làm thầy giảng giúp Đức Cha Louis Pineau Trị 3 năm.
    - Làm Linh Mục Văn phòng Tòa Giám Mục Xã Đoài 8 năm.
    - Linh Mục Chánh xứ Trại Lê, Hà Tĩnh 23 năm.
    - Linh Mục Hạt trưởng Xã Đoài 5 năm.
    - Hưu dưỡng: Hưu dưỡng tại giáo xứ Tân Yên (năm 1937), Hưu dưỡng tại Cự Tân (năm 1945), Hưu dưỡng tại Thanh Xuân (năm 1955)

    Có 5 Linh Mục nghĩa tử: 4 gốc Trại Lê Hà Tĩnh, người cuối cùng là cháu gốc Gia Hưng, Quảng Bình:

    1. Linh Mục Nguyễn Lê
    2. Linh Mục Phêrô Trần Đình Báu
    3. Linh Mục Giuse Nguyễn Khôi
    4. Linh Mục Thân Văn Huy
    5. Linh Mục JBT. Cao Vĩnh Phan

    Hồi làm Linh Mục văn phòng cho Đức Cha Trị ngài đã đóng vai trò thư ký trong Vụ án quan trọng điều tra lý lịch của 22 vị Tử đạo ở giáo phận Vinh năm 1909. Đồng thời làm Linh Mục giải tội cho Đức Cha Pineau Trị.

    Hồi hưu dưỡng tại Thanh Dạ, ngài và em là Linh Mục Phêrô Cao Hữu Hân sẽ nói sau đã lập giáo họ Hiền Môn. Tiếp đó vào Miền nam tại Lagi hai anh em xây dựng giáo họ Thanh Xuân năm 1955 và nay đã được nâng lên hàng giáo xứ lớn trong giáo phận Phan Thiết. Ngài qua đời sáng ngày 20 – 05 – 1961 tại Thanh Xuân Lagi Bình Thuận và có mộ chung hai anh em dưới Tòa Đức Mẹ giáo xứ Thanh Xuân. Nơi đây, hằng ngày đều có người đến xin khấn « Hai Cha Già » và đều được các Ngài bầu cử để lãnh nhận những ơn lành hồn xác. Khi các Ngài còn sống tại Thanh Xuân, giáo dân cũng đã đến nhờ các Ngài cầu nguyện và xin « thuốc Cụ » về uống để chữa bệnh.

    Ngài có tiếng là Linh Mục thánh thiện, đạo đức, đơn sơ, nghèo khó giống như mẫu Linh Mục Joan Vianney bên Pháp.

    2. Linh Mục Phêrô Cao Hữu Hân (em ruột)


    - Sinh năm 1865 tại Cồn Giữa Quảng Bình.
    - Làm thầy giảng, dạy Tiểu chủng viện Xã Đoài.
    - Làm Linh Mục chánh xứ Trung Nghĩa, chánh xứ Cam Lâm Hà Tĩnh, chánh xứ Tân Yên Nghệ An 1932 – 1945.
    - Hưu dưỡng tại Thanh Dạ Cự Tân. Lập giáo họ Hiền Môn năm 1947
    - Vào Nam hưu dưỡng tại giáo họ Thanh Xuân, Lagi, Bình Thuận năm 1955
    - Ngài chỉ có một linh mục nghĩa tử là cha Phêrô Nguyễn Văn Bường, gốc Mỹ Dụ Nghệ An, chuyên truyền giáo ở Lào và chết tại Lào.
    - Ngài qua đời trưa ngày 7 – 10 – 1965 tại Thanh Xuân, có mộ tại Thanh Xuân
    - Ngài có tiếng thông minh, uyên thâm, hiếu học, giỏi La ngữ, Hán ngữ, Pháp ngữ.
    Cuối cùng đang khi mãi mê học Anh ngữ thì đã tắt thở trên ghế bố lúc tay còn cầm cuốn Thánh Kinh Anh Ngữ.


    Cả hai anh em đồng có một đường lối giáo dục thiết thực và cụ thể. Cha Cao Hữu Tạo như đã nói trên là mẫu gương của lòng sùng kính Đức Mẹ, tôn thờ bí tích Thánh Thể và chịu khó ngồi tòa giải tội bất cứ khi nào, sáng, trưa, chiều, tối. Có khi một đêm chỉ ngủ được vài giờ và thức dậy rất nhanh mỗi khi nghe giáo dân gõ cửa xin xưng tội. Ngài có thể giải tội trường kỳ không cần ăn uống ngủ nghỉ. Đặc biệt trong các ngày lễ lớn: Cấm Phòng, Chầu Lượt, Làm Phúc các giáo họ đến nổi các Linh Mục có mặt đều phải khâm phục về sự kiên nhẫn bền giai khi ngài ngồi tòa.

    Chính vì lý do đó cha Phanxicô Xaviê Lê Trọng Khiêm, cha Nguyễn Tấn, cha Trần Ngọc Thủy, cha Hoàng Phượng, cha Trương Cao Khẩn đã mệnh danh cho Ngài là cha thánh Joan Vianney ở Việt Nam.

    Riêng cha Cao Hữu Hân còn có lòng sùng kính thánh Giuse, thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu và các thánh Tử Đạo Việt Nam.

    II. SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO:

    Điều đáng kể hơn cả của 2 vị Linh Mục nầy là giáo dục và đào tạo vì nó có một ảnh hưởng trường kỳ và rất lớn lao.

    Chỉ nói riêng ở xứ Tân Yên Quỳnh Lưu, ngài đã nuôi một thầy dạy tiếng Pháp. Trước một năm khánh thành nhà thờ Tân Yên, năm 1938 ngài thuê mấy thầy kèn trống từ Phát Diệm vào dạy nhạc và ở cả năm trời để dạy cho các thanh thiếu niên biết cách sử dụng và thành lập hội kèn rất nổi tiếng trong địa phận Vinh hồi đó. Kế đến ngài cũng nhờ một thầy đồ nho dạy cho những ai trong xứ muốn học.

    Ngài khuyến khích cha mẹ, phụ huynh có con em trong tuổi học hành phải cho đi học để biết đọc, biết viết và có cơ hội sẽ nâng cao tầm học vấn. Ngài cũng đã khuyến khích các thanh thiếu niên nam, nữ xin gia nhập đời sống tu trì trong chủng viện hoặc dòng tu nam nữ. Vì thế, ngài đã gửi các em có ý hướng đi học nâng cao tầm hiểu biết tại các trường Hà Nội như trường thánh Tôma hoặc trường các bà Soeur thánh Phaolô ít nhiều năm sau đó về truyền đạt lại cho các em trong giáo xứ.

    Riêng về con cháu ngài nuôi trong nhà ngài dạy dỗ cẩn thận và chu đáo. Ngài cho học lý thuyết ở trường nhưng khi về nhà bắt làm việc thực tế. Ngài dạy con cháu học và đọc thông thạo tiếng Pháp, tiếng La tinh cho ngài nghe mặc dầu chính cháu đọc mà mình chỉ hiểu đôi chút. Thỉnh thoảng ngài cho ngừng lại để giải thích những lời hay ý đẹp của bài đọc. Ngài bắt học nhạc, học kèn, học trống như người ta.

    Một lần ngài thấy kết quả cụ thể, ngài nói lời khuyến khích: “Bác thấy cháu cũng biết làm tuy chưa được bằng người ta vì cháu còn nhỏ. Ước mong của hai bác là thấy cháu cố gắng làm việc và học hành cho tốt. Cháu không làm được 10 như người ta, nhưng nếu cháu chịu khó làm được 1, 2, 3 đầy đủ thế là hai bác toại nguyện rồi. Bù công lao của hai bác đã bỏ công dạy dỗ và nuôi cháu mồ côi cha mẹ.”

    Lời khuyến khích ấy đã tác động cực mạnh giúp cho người cháu suốt đời tích cực học tập, viết lách, nghiên cứu… Đã có một vài thành quả trông thấy như viết về lịch sử, về kinh thánh, thơ vè để làm tài liệu giáo dục vì có hướng chuyên về giáo dục và đào tạo như hai bác.

    Ngoài ra phải thêm rằng cha Cao Hữu Hân là một con người hiếu học, thức thời, đọc sách báo và nói về kinh tế, xã hội, chính trị. Nhiều lần ngài bày cho cách nghiên cứu về quặng mỏ sắt, than, đồng, chì… Và rất thích về địa lý, về phong thủy. Một lần ngài gọi Trung Quốc là một con cọp đang ngủ chưa thức dậy, còn cổ hủ, chưa tiến bộ, nên trong cuộc chiến tranh Trung Nhật 1939 – 1945 Trung Quốc thua Nhật và Mỹ, Pháp, Anh nhưng rồi đây khi nó thức dậy thì nó là một địch thủ đáng gờm của thế giới.

    Lời tiên tri ấy được nói vào năm 1939 qua 70 năm sau đến bây giờ năm 2009 Trung Quốc là một cường quốc thứ hai về kinh tế thế giới. Đó là chưa nói về văn hóa, quân sự, bom hạt nhân, thám hiểm không gian và quyết không đội trời chung với những ai coi thường họ.

    III. NHÌN QUẢ BIẾT CÂY:

    Trong Phúc Âm Chúa nói: “Nhìn quả biết cây, cây tốt sinh trái tốt, cây xấu không thể sinh trái tốt” (…) Nhờ lời dạy có cơ sở bền vững như vậy, mà người cháu đã viết:

    Về lịch sử:
    - Lịch sử giáo phận Vinh 600 trang cỡ lớn in tại California năm 1996.
    - Đi Tìm Xứ Đạo Đầu Tiên Nghệ An giáo phận Vinh căn cứ theo Bản Phúc Trình của Linh Mục truyền giáo dòng Tên Manoel Férreyra viết năm 1676, 300 trang.
    - Lịch sử giáo hạt Bình Chính 1999 500 trang
    - Tiểu sử Linh Mục Phêrô Phêrô Cao Hữu Tạo… 2004, 300 trang…v.v

    Về kinh thánh, truyền giáo, giáo dục:
    - Năm 2000 Đọc và Học Kinh Thánh qua các bản dịch tiếng Việt 250 trang.
    - Trường ca dân Chúa 1650 câu, thơ lục bát năm 1970.
    - Đến với anh em lương dân năm 2005.
    - Hái Bông Hồng…năm 2005
    - Nhiều bài góp ý về Bản Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ 2007.
    Đặc biệt Năm 1970 viết cuốn “Tết đốt 200 Tỷ Bạc” theo tỉ giá hồi đó, với mục đích đề nghị cấm đốt mọi thứ pháo dịp Tết Nguyên Đán gây nên bao tang tóc cho cá nhân xã hội … Được “giải thưởng khuyết khích” của chính phủ thời ấy… Rồi không biết tình cờ hay hữu ý, mà 25 năm sau 1995 Trung Quốc ra lệnh cấm đốt pháo, và Việt Nam sau một năm 1996, cũng công bố lệnh cấm đốt pháo luôn… Hy hữu là chỗ đó!?

    Năm 1992, Tết Nhâm Thân, viết Bản Thỉnh Nguyện gửi trực tiếp cho Thủ Tướng Võ Văn Kiệt và cả trăm bản sao gửi cho các Tòa Đại Sứ ngoại quốc tại Hà Nội, Các Ban Bộ Trung Ương Tỉnh Huyện Xã và các cơ quan tôn giáo trong nước, ngoài nước kêu gọi khẩn cấp kiến thiết lại con đường xe hơi Phan Thiết – Mũi Né do bà Lục Thị Đậu xây dựng từ năm 1922 để cứu sống cho 45 ngàn dân địa phương lâu nay bị bỏ rơi…

    Kết quả hy hữu mới khác là năm 1994, Nhà Nước đời thủ tướng Võ Văn Kiệt đã cho làm lại, tiếp đó nhiều Chương Trình Đầu Tư Nước Ngoài ồ ạt đến tăng cường biến Mũi Né – Rạng trở nên chẳng những một trung tâm du lịch hấp dẫn của Bình Thuận và còn cho toàn quốc không kém gì Nha Trang, Vũng Tàu. Thực tế hôm nay đang chứng minh cho lời yêu cầu đó.

    KẾT LUẬN:

    Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây, đền ơn đáp nghĩa.

    Mấy dòng thô sơ trên được viết ra cho những mục tiêu ấy. Đặc biệt để làm thành một bài tạ ơn đối với sự quan phòng nhiệm mầu của Thiên Chúa, cùng là một lời tri ân chân thành đối với các đấng tiền bối để gương lại cho các thế hệ khắp nơi. Bởi vì nhiều người cao tuổi ở các vùng Tân Yên, Thanh Dã, Hiền Môn, Quỳnh Lưu Nghệ An mà nhất là những giáo dân ở ba giáo xứ lớn Phan Thiết như Vinh Phú, Vinh Tân, Thanh Xuân… vẫn còn nhớ và giữ nhiều kỷ niệm quí. Riêng mấy Linh Mục thế hệ trẻ gốc các xứ đạo nói trên cũng nhớ nhiều về Ngài như Linh Mục Nguyễn Hùng Oánh Sài Gòn, Linh Mục Nguyễn Hữu Nhường, Linh Mục Hồ Sĩ Hữu và Linh Mục Nguyễn Xuân Thảo, dòng Phanxicô Sài Gòn.

    Đối với Linh Mục Nguyễn Xuân Thảo, Linh Mục Nguyễn Văn Minh và ông anh cả là Nguyễn Trung Hiếu ở Mỹ, tất cả là ba anh em tiến sĩ du học Mỹ trong một gia đình mà thân phụ là đệ tử ruột của Linh Mục Cao Hữu Hân đào tạo từ năm 1938 tại Tân Yên, Quỳnh Lưu Nghệ An.

    Tháng 8/2009 (Nhớ như vậy, kể như vậy, ghi như vậy nhưng khi làm việc đúng với điệu kiện bảo đảm giá trị thực của người thật, việc thật. Cám ơn)
    LM Nguyễn Hữu Nhường
    vietcatholic


    thay đổi nội dung bởi: Damsan, 23-09-2009 lúc 08:07 PM
    Chữ ký của Damsan
    Nàng đẹp quá, bạn tình ơi, đẹp quá !
    Đôi mắt nàng là một cặp bồ câu.

    (Dc 1,15 )

  37. Có 12 người cám ơn Damsan vì bài này:


  38. #21
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,695 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha ANTOINE PEUZOT
    (1911-2007)
    Vị thừa sai năng thăm viếng
    Sự hiện diện của các cha Thừa sai Ba Lê tại mảnh đất miền Tây Nam Bộ thuộc giáo phận Mỹ Tho ngày nay không nhiều lắm. Nhưng số ít những vị Thừa sai đặt chân đến đây lại ghi dấu ấn không phai trong lòng người dân. Một trong những vị đó là cha Antoine Peuzeu.
    Tiểu sử tóm tắt
    Cha Antoine Peuzeu sinh năm 1911 tại Pháp. Mẹ là người Bỉ, cha là người Pháp. Cha Peuzeu là linh mục thuộc Hội Thừa Sai Ba Lê (La Société des Missions Étrangères de Paris).
    Cha đến họ đạo Cai Lậy từ năm 1958. Cha ở tại Cai Lậy, nhưng làm việc mục vụ trong một vùng lãnh thổ rộng lớn bao gồm các họ đạo xung quanh như Ngũ Hiệp, Nhị Quý, Xuân Sơn, Bằng Lăng, Kinh Gãy…
    Với tinh thần truyền giáo hăng say, cha đã có ý xây dựng tại Cai Lậy những cơ sở vật chất cần thiết, để biến nơi này thành trung tâm truyền giáo hướng đến các vùng lân cận mà dân cư đa số là ngoại giáo.
    Công việc mục vụ của cha đang tiến triển tốt đẹp và tạo được tiếng tốt trong vùng, ngay cả với những người lương, thì do tình hình thời cuộc lúc bấy giờ, khoảng tháng 3-1974 cha phải rời Việt Nam trong sự nuối tiếc cũng như nhiều linh mục thừa sai khác tại Việt Nam.
    Sau khi trở về Pháp, cha sống và làm việc mục vụ tại vùng Marseilles. Cha qua đời ngày 5.2.2007, tại Marseilles.
    Khi được tin cha qua đời, giáo xứ Cai Lậy đã tổ chức thánh lễ tưởng nhớ và cầu nguyện cho cha vào ngày 23.02.2007, với sự hiện diện chủ tế của Đức cha Phaolô Bùi Văn Đọc, Giám mục Mỹ Tho, cùng với các linh mục vùng Cai Lậy, Cái Bè, các linh mục trước đây đã từng cộng tác với cha, các Nữ tu đã từng được cha cho đi tu, và rất đông giáo dân ở các họ đạo Ngũ Hiệp, Nhị Quý, Bằng Lăng, Kinh Gãy…
    Đời sống và sứ vụ
    Khắc khổ với bản thân, nhưng rộng lượng với tha nhân, đó là nhân đức nổi trội mà người giáo dân kính phục mỗi khi nhắc đến cha.
    Y phục bình thường của cha là hai chiếc áo dòng thay đổi với đôi dép quay, cái nón lá và cái giỏ đệm. Đi đâu cũng thế ! Chỉ khi đi xuống Toà Giám mục hoặc đi công vụ ở xa, cha mới xỏ đôi giày vào để thể hiện lòng kính trọng.
    Chuyện ăn uống cha càng đơn giản. Cha luôn dặn người giúp việc đi chợ mua những thức ăn sao cho rẻ tiền nhất để đỡ tốn kém. Dành dụm được bao nhiêu, cha đem cho người nghèo. Nhưng dành dụm có là bao, cha lại phải chạy đôn chạy đáo, xin bên này bên kia, xin tiền, gạo, bánh lẫn thuốc men về lo cho học sinh trong trường và lo cho người dân nghèo trong vùng. Cha có học về y khoa khi còn trẻ, nên khi có thuốc men, cha tìm cách phân phát đúng người đúng bệnh.
    Vì công việc bác ái cha làm, nên ngày càng có nhiều người đến với cha. Có những người giáo dân nghĩ rằng cha là người Tây “đơn sơ” quá nên bị nhiều người lạm dụng đến xin tiền cha hoài. Thấy bất bình, những người giáo dân này đến khuyên cha phải cẩn thận, nhưng cha lại nghĩ khác: “Mình có thể cho được thì cứ cho, tính toán làm gì. Nếu họ có lừa dối mình, có lẽ họ cũng có lý do sao đó. Hoá ra cha cũng hiểu lòng người chứ đâu phải “đơn sơ”, nhưng cha đã có chọn lựa rõ ràng cho riêng mình: làm việc bác ái thì cứ làm, làm cách hồn nhiên.
    Khi cần đi lại, cha cũng lên xe đò, xuống ghe xuồng, tuỳ phương tiện công cộng địa phương nơi cha đến làm mục vụ. Nhưng người dân vùng Cai Lậy thường thấy hình ảnh ông cha Tây đi bộ trên khắp những nẻo đường thị trấn hay thôn làng của họ, đi rất nhiều và đi rất nhanh. Có người giáo dân kể rằng khi đồng hành với cha trong các việc mục vụ thăm viếng cứ thỉnh thoảng phải chạy mới theo kịp cha.
    Cha rất chú tâm viếng thăm người dân trong vùng, đặc biệt là thăm những gia đình nghèo khổ. Hễ nghe có ai bệnh nặng hay đang hấp hối, không phân biệt lương giáo, là cha tức tốc đến ngay để viếng thăm và tìm cách giúp đỡ, hoặc khi cần thì nói về Chúa và rửa tội cho họ. Một giáo dân, cảm phục khi chứng kiến cha chân trần lội sình đến cầu nguyện, xức dầu cho bà Phán, một bệnh nhân truyền nhiễm hấp hối sống trong cái nhà tồi tàn với rác rưởi bẩn thỉu sau cơn lụt, đã kể lại : “Tôi là nông dân tay lấm chân bùn, nhưng tôi không dám bước xuống bùn trong nhà bà Phán. Thế mà cha thản nhiên đứng gần một tiếng đồng hồ. Thật cảm phục!” Cũng nhờ năng thăm viếng giúp đỡ mà cha đã đưa được nhiều người, nhiều gia đình về với gia đình Giáo hội.
    Cũng chính tình thương chân thành của cha đối với người dân mà trong thời chiến tranh, nhiều lần cha bị điều tra hạch hỏi, nhưng cuối cùng ông cha Tây được tin tưởng và được tự do đi lại làm mục vụ và thăm viếng người dân cách an toàn.
    Sức khoẻ của cha không tốt lắm: trong người cha có vài vết đạn, một con mắt nhìn không rõ, bụng thì hơi bị nghiêng một bên. Nhưng cha không ngại đi lại, dù khi có tiếng pháo binh hay súng đạn, vì không muốn bỏ việc cử hành thánh lễ cho giáo dân ở các họ đạo trong vùng. Có lần, theo phân công, cha phó đi làm lễ ở họ đạo Ngũ Hiệp, còn cha phải đi làm lễ ở họ Xuân Sơn. Nhưng khi cha đi dâng lễ ở Xuân Sơn về rồi mới biết tin cha phó vẫn chưa đi Ngũ Hiệp vì bị cảm nặng lắm, cha lập tức xách giỏ đệm lên đường đi Ngũ Hiệp dâng lễ thế cho cha phó, dù trời đã gần tối.
    Lòng yêu thương tận tuỵ với người dân, với việc chăm sóc thiêng liêng cho họ là dấu chỉ của tâm hồn đạo đức sâu sắc nơi cha. Người giáo dân thường thấy cha đi lại trong nhà xứ với tràng hạt trên tay lần chuỗi kính Đức Mẹ. Không chỉ cố gắng tích đức cho bản thân, cha còn dạy cho người giáo dân biết thờ phượng Thiên Chúa. Khi cha mới về, người giáo dân Cai Lậy hãy còn tản mác và chưa có ngôi nhà thờ, cha phải làm lễ tại nhà một người giáo dân trong vòng ba năm. Đó cũng là thời gian cha bôn ba tìm kiếm mảnh đất để xây cho dân Chúa một nơi thờ tự. Các họ đạo xung quanh cũng vậy: nhà nguyện, nhà thờ lần lượt được xây nên. Rồi mỗi khi rửa tội cho một tân tòng là cha sắm cho họ cái bàn thờ trong gia đình, và dạy họ thờ Chúa cho phải đạo.
    Một nét tiêu biểu nữa trong sứ vụ của cha là việc quan tâm nuôi dưỡng ơn gọi linh mục, tu sĩ trong đoàn chiên của mình. Không chỉ khuyến khích ơn gọi, cha còn nuôi dưỡng, sắm sửa quần áo, cho học hành, dẫn đi thi, đóng tiền trường cho các em an tâm bước theo ơn gọi. Nhờ đó, giáo dân ngày nay cũng hãnh diện về những con cái của vùng đất Cai Lậy đang dấn thân phục vụ Thiên Chúa và tha nhân trong các dòng tu khác nhau.
    Với cách sống như thế, rõ ràng cha Antoine Peuzeu đã cố gắng hết sức noi theo hình ảnh cuộc đời Chúa Giêsu như thánh Phaolô diễn tả: “Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có.” (2 Cr 8, 9).
    Nhưng con người linh mục ấy cũng không phải không có những khiếm khuyết. Một trong những nhược điểm của cha được bà con giáo dân nhận biết, đó là sự nóng tính. Nhưng cha lại luôn biết khiêm nhường nhìn nhận nhược điểm của mình mà “tìm kiếm bình an, ăn ở thuận hoà”, biết biến những nhược điểm đó thành cơ hội rèn nhân đức. Cha thường nói lời xin lỗi chân thành, công khai sau những lần nóng nảy bộc trực, ngay cả với các em giúp lễ: “Con, con tha lỗi cho cha nghe, vì hồi nãy cha nóng quá la con, con tha cha nhe!” Chính vì thế, mỗi khi bà con giáo dân vùng Cai Lậy nhắc đến những lần nóng giận của cha là để cảm mến thái độ phục thiện của cha sau đó.
    Bài học suy tư
    Thánh Luca giúp chúng ta hiểu được tình thương cứu độ của Thiên Chúa qua ngôn từ rất đặc biệt: viếng thăm.
    Để tán dương sự xuất hiện của Đấng Mêsia qua vị tiền hô Gioan Baotixita, Dacaria đã thốt lên: “Chúc tụng Đức Chúa là Thiên Chúa Israel đã viếng thăm cứu chuộc dân Người” (Lc 1,68), và “Thiên Chúa ta đầy lòng trắc ẩn, cho Vầng Đông tự chốn cao vời viếng thăm ta.” (Lc 1,78). Cũng chính ngôn từ ấy đã được đám đông thán phục thốt lên trước việc Chúa Giêsu làm cho đứa con của bà goá thành Naim sống lại: “Một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Ngài.” (Lc 7,16). Sau cùng, khi tiếc thương Giêrusalem, Chúa Giêsu đã than trách thành rằng: “Ngươi đã không nhận biết thời giờ ngươi được Thiên Chúa viếng thăm. (Lc 19,44).
    Như thế, ơn Cứu Độ mà Đức Kitô mang đến cho nhân loại được Luca trình bày như là cuộc viếng thăm của Thiên Chúa. Hình ảnh sống động này có thể được dùng để diễn tả sứ vụ của các linh mục: họ là những người mà qua họ và nhờ họ, Thiên Chúa đến viếng thăm cứu chuộc dân Ngài. Như những người phục vụ khiêm hạ, họ biết rằng mình không phải là Đức Kitô, nhưng chính Đức Kitô hành động bằng đôi tay của họ, thực hiện sự hiệp nhất Thánh Thể và sự tăng trưởng của Giáo hội bằng những lời từ môi miệng họ, qua các bí tích.
    Thiên Chúa viếng thăm, đó là ánh sáng của Mặt Trời Công Chính chiếu soi cõi trần u tối qua con người và gương sáng đời sống của các linh mục hôm nay.
    Thiên Chúa viếng thăm, đó là những lời mang niềm hy vọng cho người đời được thốt ra từ môi miệng của linh mục, là sự thánh thiêng toát lên từ các bí tích được cử hành bởi linh mục, là sức mạnh của một đời sống trong Chúa Thánh Thần được thể hiện nơi cuộc đời linh mục.
    Thiên Chúa viếng thăm, đó là vẻ đẹp của đức ái nơi tâm hồn những người mục tử biết không ngừng ra khỏi não trạng chật hẹp, trái tim chật hẹp, quyền lợi chật hẹp, để có thể đi đến viếng thăm, gặp gỡ, động viên, an ủi và đối thoại cứu độ với mọi người.
    ***
    Cuộc đời và sứ vụ của Cha Antoine Peuzeu là một cố gắng liên lỉ thực hiên những cuộc viếng thăm cứu độ cho dân Chúa. Ước gì qua sứ vụ của các linh mục của Ngài hôm nay, Thiên Chúa có thể thực hiện những cuộc viếng thăm và cứu chuộc dân Ngài.
    Lạy Chúa, xin hãy đến viếng thăm các linh mục của Chúa, và xin Chúa dạy cho các linh mục của Chúa biết viếng thăm cứu chuộc dân của Ngài.


    GP Mỹ Tho
    Chữ ký của Damsan
    Nàng đẹp quá, bạn tình ơi, đẹp quá !
    Đôi mắt nàng là một cặp bồ câu.

    (Dc 1,15 )

  39. Có 12 người cám ơn Damsan vì bài này:


  40. #22
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,695 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    LM Giuse Nguyễn Thanh Vân
    ( 1933 - 1973 )

    Mộ LM Giuse Nguyễn thanh Vân
    PHAN THIẾT - Khi đến nhận Giáo xứ, điều đầu tiên tôi để ý, là ngôi mộ của Ngài, nằm dưới chân đài Đức Mẹ. Qua những giáo dân kể lại, tôi cũng muốn viết đôi điều về vị mục tử trẻ trung, thánh thiện và đã hiến mạng sống mình vì đàn chiên.

    Cha Giuse Nguyễn Thanh Vân sinh năm 1933, tại Lưu Thạnh-Bắc Việt. Ngài thụ phong linh mục vào ngày 24 tháng 03 năm 1963. Về nhận quản xứ Gia-an, thuộc Giáo phận Phan thiết. Lúc đó là Giáo xứ Duy Cần đang còn thuộc địa phận Nha Trang( khỏang năm 1967-1968). Trong thời binh lửa, đàn chiên tan tác, nhà thờ, nhà xứ là chỗ dựa tinh thần cho con chiên bổn đạo. Giữa thời cuộc dầu sôi lửa bỏng, cha Vân luôn tìm mọi cách để quy tụ giáo dân, sớm hôm kinh lễ, cầu nguyện cho cuộc chiến mau chấm dứt. Xã Duy cần lúc đó là điểm nóng trong những trận chiến giáp la cà, oanh tạc của không quân, bộ binh… Sống trong cảnh trên bom, dưới đạn, Ngài vẫn luôn chăm nom đời sống tâm linh cho bà con giáo dân. Người ta kể lại rằng: Cha Nguyễn thanh Vân luôn gắn bó với giáo xứ, nhất là trong những lúc thập tử nhất sinh. Cuộc chiến kéo dài, sinh mạng của mỗi người rất mong manh, sống nay, chết mai là chuyện bình thường. Dù trong hòan cảnh éo le như vậy, luôn luôn người ta tìm thấy nơi Ngài một sự tín thác tuyệt đối vào sự quan phòng đầy yêu thương của Thiên Chúa.

    Cuộc chiến ngày càng trở nên khốc liệt, nhà thờ, nhà xứ trở nên cứ điểm chiếm đóng của quân đội. Nhận thấy tình thế mỗi lúc một trở nên khó khăn, nhiều giáo dân xin cha chuyển đi nơi khác, vì sợ nguy hiểm cho tính mạng của Ngài, nhưng Ngài một mực từ chối, và nhất quyết sống chết với đàn chiên của mình. Điều dự đóan của mọi người rồi cũng đến, bởi chiến tranh không phải là trò đùa. Ngày 28 tháng 11 năm 1973, một ngày đầy oan nghiệt, bom napan đã thiêu hủy nhà thờ và nhà xứ Duy Cần. Người mục tử Giuse Nguyễn Thanh Vân cũng đã vĩnh viễn nằm xuống trên mảnh đất Giáo xứ thân yêu của mình. Ngài ra đi để lại biết bao là nỗi niềm thương tiếc và kính yêu trong lòng cộng đòan người dân Duy Cần.

    Chiến tranh đã khép lại. Quá khứ cũng đã khép lại. Thế nhưng mãi mãi người dân của Giáo xứ Gia an vẫn không quên được hình ảnh của một vị mục tử đã hiến mạng sống mình cho đàn chiên thân yêu.
    Lm Giacôbê Tạ Chúc
    vietcatholic
    Chữ ký của Damsan
    Nàng đẹp quá, bạn tình ơi, đẹp quá !
    Đôi mắt nàng là một cặp bồ câu.

    (Dc 1,15 )

  41. Có 8 người cám ơn Damsan vì bài này:


  42. #23
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,695 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha BÔNAVENTURA TRẦN VĂN MÂN
    (1916–2004)

    Dòng Anh em nèn mọn Việt Nam





    1. Cuộc đời
    Cha Bônaventura mà người địa phương thường gọi tắt là “Cố Bôna” hay thân mật hơn nữa là “Ông Sáu Mân” sinh ngày 11 tháng 09 năm 1916, tại giáo xứ Tịnh Giang, thuộc ngoại ô thị xã Hà Tĩnh. Ngài khấn tạm ngày 03 tháng 08 năm 1940, khấn trọng ngày 03 tháng 08 năm 1943, thụ phong linh mục ngày 15 tháng 08 năm 1945, qua đời ngày 14 tháng 05 năm 2004, tại Cù Lao Giêng, hưởng thọ 88 tuổi.
    Ngài sinh trưởng trong một gia đình đạo đức. Thân phụ là một lương y. Ngài là một trong những người đầu tiên gia nhập Chủng viện Phanxicô tại Thanh Hóa. Chúa ban cho Ngài một trí thông minh trung bình nhưng lại cho Ngài biệt tài vẽ các chân dung và các tranh ảnh tôn giáo.
    Đầu năm 1945, trước lúc đầu hàng Đồng Minh, người Nhật đã tập trung tất cả các thừa sai cũng như các tu sĩ người Pháp lại một chỗ. Ban lãnh đạo Dòng thấy cộng đoàn Phan sinh không có người đứng đầu nên đã xin Đức Khâm sứ Tòa Thánh tại Huế cho phép truyền chức cho thầy Bôna Mân cách âm thầm, vội vã và trước thời hạn. Kể từ nay cho đến năm 1954 ngoài việc làm bề trên tại chỗ, Cha Bôna tìm cách ra Bắc, vào Nam, để liên lạc với anh em Phan sinh còn ở lại tại miền Bắc.
    Năm 1954 sau hiệp định đình chiến Genève, ngài tạo điều kiện đưa anh em Phan sinh từ miền Bắc vào miền Nam. Năm 1958 Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Bình, hồi đó là Giám mục Giáo phận Cần Thơ, giao cựu chủng viện Cù Lao Giêng cho anh em Phan sinh chăm sóc. Chủng viện này xưa thuộc Giáo phận Nam Vang. Năm 1946 bị đốt cháy và sau đó trở nên hoang tàn. Cha Bôna đã hướng dẫn 5 anh em Phan sinh đến đây sửa chữa nhà cửa, chủ yếu là để sống đời tu trì, làm tuyên úy dài hạn cho các nữ tu Dòng Chúa Quan Phòng ở gần bên, giúp mục vụ trong các họ lẻ lân cận khi được yêu cầu, phát triển Dòng Phan sinh Tại thế và làm các công tác từ thiện bác ái khác. Kể từ đó, ngài phục vụ trong giáo phận Cần Thơ và rồi trong giáo phận Long Xuyên được tách khỏi giáo phận Cần Thơ cho đến khi từ giã cõi đời.
    Năm 1958, khi thấy có nhiều người phong cùi tại địa phương không được ai chăm sóc, cha Bôna đã cùng với các anh em cất một căn nhà lá và bắt đầu chăm sóc những bệnh nhân đầu tiên. Lúc đầu chỉ có các bệnh nhân vùng An Giang nhưng chẳng bao lâu sau nhiều bệnh nhân đã từ các tỉnh và thành phố tại Đồng bằng Sông Cửu Long đến để xin chữa trị. Cái hay nhất là các bệnh nhân có thể đến trung tâm một cách kín đáo trên những con thuyền nhỏ mà không bị những người kỳ thị phát hiện và xua đuổi. Từ năm 1958 đến 1975, nếu chỉ tính những bệnh nhân được chữa trị lâu dài, và hầu hết được lành bệnh thì con số đã tới mức trên dưới 4.900 người, với hồ sơ bệnh lý hiện đang được cất giữ tại Trung tâm.
    Sau năm 1975, cha Bôna đã giao lại cơ sở bài phong cho Nhà Nước, chỉ để lại một vài nhân viên tiếp tục làm việc. Phần ngài, ngài trở về đời sống nội tâm, thỉnh thoảng đi thăm viếng các bệnh nhân tại gia và âm thầm giúp đỡ các gia đình nghèo khó trong khu vực.
    Năm 2004, sau hai tháng thọ bệnh, Ngài đã được Chúa gọi về. Trong số đông đảo những người tham dự đám tang có rất nhiều tăng, ni, Phật tử, đại diện các tôn giáo bạn như Hòa Hảo, Cao Đài, bên cạnh những bệnh nhân đã được chữa lành cũng như những người đã được ngài giúp đỡ cách này hay cách khác.
    2. Vị Tông đồ của Chúa
    “Cố Bôna” đã từng làm bề trên tu viện nhiều khóa. Ngài đã góp phần vào việc đào tạo các tu sĩ trẻ tại đây. Ngài cũng là vị tuyên úy trung thành của Dòng Chúa Quan Phòng, nơi ngài được các nữ tu mộ mến vì lòng đạo đức, vì sự khôn ngoan và lối sống mực thước.
    Ngài sẵn sàng đến dâng lễ tại các giáo xứ Cồn Phước, Rạch Sâu khi các cha sở tại đây đi vắng hoặc bị ngăn trở.
    Đặc biệt là trong thời kỳ khó khăn nhất và do yêu cầu của cha sở Cù Lao Giêng, ngài đã đến giúp họ đạo Cồn Én, phía bên kia Sông Tiền. Mỗi chiều thứ bảy ngài bơi thuyền qua đó để dạy giáo lý rồi ở lại dâng lễ ngày Chúa nhật, đến chiều mới bơi thuyền trở về. Ngài quan tâm đến người nghèo và đã có công giúp họ giữ lại bãi đất bồi cuối cồn, bị những người từ xa đến lấn chiếm. Kể từ ngày ngài có mặt tại đó, con em trong họ đạo xem ra chăm chỉ học hành hơn.
    3. Vị Tông đồ nhiệt thành và vui tươi của các bệnh nhân phong
    Chăm sóc cho người phong hủi đã là một truyền thống trong Dòng Phan sinh. Trong suốt một thời gian dài, mỗi tháng ba lần vào dịp ngày 10, ngày 20 và ngày cuối tháng, Chẩn y viện, sau này được gọi là Trung tâm Hansen Cửu Long, mở cửa đón tiếp các bệnh nhân đến để được chữa trị và lãnh thuốc miễn phí. Chính thái độ yêu thương, từ tốn, vui tươi của con người hèn mọn lúc phục vụ đã lôi cuốn các bệnh nhân. Tư cách linh mục và tư cách của người thầy thuốc hết lòng phục vụ đã khiến cho nhiều bệnh nhân đặt hết tin tưởng vào ngài, nhờ đó việc chữa trị lại càng đạt được kết quả cao. Vào những ngày có quá nhiều bệnh nhân, ngài phải làm việc cả đêm khuya. Dầu vậy ngài vẫn vui vẻ, lâu lâu lại kể chuyện khôi hài khiến bầu không khí trở nên nhẹ nhàng, dễ chịu. Ngài đã đi đúng đường hướng của Dòng Phan sinh là qua công tác từ thiện đến với mọi người. Trong số các bệnh nhân nhiều người đã xin tìm hiểu đạo và theo đạo. Một điểm đặc biệt nơi cha Bôna, đó là niềm vui. Ngài luôn vui tươi và khôi hài, ngay cả trong những giờ phút cuối đời rất đau đớn vì bệnh ung thư gan hành hạ.
    4. Vị Tông đồ có tinh thần đại kết
    An Giang là vùng đất có nhiều tôn giáo. Thánh địa của anh em Phật giáo Hòa Hảo ở cách Cù Lao Giêng chẳng bao xa. Ở phía đầu Cù Lao có Chùa Ông Đạo Nằm thu hút khá nhiều tín đồ và khách hành hương. Ở giữa Cù Lao có rất nhiều Thánh thất Cao đài. Đối với các bệnh nhân thuộc các tôn giáo khác, cha Bôna không hề phân biệt đối xử. Đối với các vị lãnh đạo tôn giáo, cha vẫn một lòng kính trọng và luôn tìm cách gặp gỡ giao lưu. Chính thái độ khiêm tốn và chân thành của ngài đã làm bớt đi các mối nghi kị giữa các tôn giáo. Phải thú nhận rằng trong khoảng thời gian trước năm 1954, thời gian chiến tranh, tương quan giữa các tôn giáo đã bị sứt mẻ vì các lập trường chính trị khác nhau. Điều này vẫn còn mãi trong tâm tư của những người thuộc các tôn giáo và cha Bôna đã góp phần làm nhẹ bớt các thành kiến ấy.
    Về phía Giáo hội, cha Bôna một lòng yêu mến và quý trọng Đức Giám mục và các anh em linh mục như Cha thánh Phanxicô đã từng dạy anh em. Cha tỏ ra vui mừng mỗi lần có các cha tới tĩnh tâm trong tu viện. Còn các anh em linh mục xem ra cũng yêu thương các anh em Hèn mọn khiến cho tương quan triều và dòng trở nên tốt đẹp, cũng như sự cộng tác trở nên dễ dàng và có kết quả hơn. ■
    GP Long Xuyên


    thay đổi nội dung bởi: Damsan, 02-10-2009 lúc 02:09 PM
    Chữ ký của Damsan
    Nàng đẹp quá, bạn tình ơi, đẹp quá !
    Đôi mắt nàng là một cặp bồ câu.

    (Dc 1,15 )

  43. Có 10 người cám ơn Damsan vì bài này:


  44. #24
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,695 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Đức cha Phêrô Maria
    PHẠM NGỌC CHI
    (1909–1988)
    Chứng nhân của đức vâng phục



    Khuôn mặt vị mục tử
    Đức cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi (1909-1988), được xếp vị trí thứ 6 trong bảng danh sách 100 vị giám mục Việt Nam (tính từ Đức cha GB. Nguyễn Bá Tòng, người Việt Nam đầu tiên được phong chức giám mục) và cũng là vị giám mục tiên khởi của giáo phận Đà Nẵng (được thành lập ngày 18-01-1963, tách từ giáo phận Quy Nhơn). Thực sự, thế hệ giáo dân Công giáo thuộc các thập niên 1940, 1950 và 1960 có thể biết danh ngài, đặc biệt là anh chị em giáo dân di cư từ Bắc vào Nam năm 1954; còn các thế hệ sau này có thể chỉ nghe biết đến ngài một cách tình cờ, dẫu là những giáo dân, linh mục, tu sĩ trẻ của giáo phận Đà Nẵng và Quy Nhơn. Điều này cũng thật dễ hiểu, bởi vì trong suốt 13 năm cuối đời, từ 1975 đến 1988, Đức cha Phêrô Maria hầu như không còn xuất hiện công khai, kể cả trong những lần hội họp chung của Hội đồng Giám mục Việt Nam. Con người và hành trạng là thế, nhưng sự hiện diện vô hình của Ngài thực sự đã ghi một dấu ấn rõ ràng trong lịch sử giáo hội Việt Nam, cách riêng với giáo phận Đà Nẵng mà ngài là vị mục tử tiên khởi, với những đóng góp tích cực trong thời gian từ khi khởi đầu thánh vụ giám mục cho đến lúc từ trần. Đó là những giáo xứ toàn tòng Công giáo được gọi là “Bắc di cư” và những ngôi thánh đường đầu tiên tại các vùng đất vắng (Gò Vấp, Hóc Môn… của giáo phận Saigon, những xứ đạo dọc kênh của vùng Cái Sắn, giáo phận Long Xuyên, các xứ đạo nội thành của giáo phận Đà Nẵng…) Đó cũng là các đoàn thể Công giáo tiến hành được tổ chức quy củ từ những năm 1960 trong các giáo phận phía Nam. Đó cũng là Trung Tâm Công Giáo hiện nay, là cơ ngơi mà chính Đức cha Phêrô Maria đã tạo lập cho Giáo hội Việt Nam và là vị giám đốc đầu tiên khi được đặc cử phụ trách Công giáo tiến hành Việt Nam. Riêng tại giáo phận Đà Nẵng, vốn đã được chính Đức cha Phêrô Maria định danh là “Giáo phận của Công đồng” vì được thành lập ngay chính trong thời gian công đồng Vatican II nhóm họp, và được tổ chức theo đường hướng của Công đồng, sự nghiệp của Đức cha Phêrô Maria đã ghi khắc một dấu ấn đặc biệt và vững bền.
    Bởi đó, việc ghi nhớ, nhắc nhở và tiếp nối công việc của vị giám mục tiên khởi của giáo phận Đà Nẵng như mẫu gương mục tử nhân lành, là điều hợp tình và hợp lý, nhất là trong thời điểm chuẩn bị mừng 50 năm của giáo hội Việt Nam và xem như cũng là của giáo phận Đà Nẵng.

    Một đời sống theo gương Chúa Kitô
    Đức Giêsu Kitô, trước khi bước vào cuộc khổ nạn thập giá, đã thân thưa với Chúa Cha: “Xin đừng theo ý con, một xin vâng ý Cha”, và Ngài đã hoàn tất công trình cứu độ với cái chết trên thập giá. Đức cha Phêrô Maria, khi nhận sứ vụ giám mục (năm 1950), đã chọn câu nói của Thánh Phêrô với Thầy Chí Thánh Giêsu, làm khẩu hiệu đời Giám mục của mình: “Vâng lời Thầy, con thả lưới”. Và với quyết tâm đó, Đức cha Phêrô Maria đã tiếp tục hiến đời mình cho việc “thả lưới” vì “vâng lời Thầy”, cho đến giây phút cuối đời.

    Vâng lời từ tuổi thanh xuân
    Sinh ra và lớn lên trong một gia đình đạo đức truyền thống tại giáo xứ Tôn Đạo (Giáo phận Phát Diệm), năm lên 11 tuổi, cậu bé Phêrô đã sẵn sàng nghe lời cha sở Pleneau Kim để “dâng mình cho Chúa” nhập trường Thử Ba Làng (Thanh Hóa) rồi Tiểu chủng viện Phúc Nhạc (Phát Diệm). 6 năm sau, khi chỉ mới 17 tuổi và đang học Trung học, cậu thanh niên Phêrô lại một lần nữa vâng lệnh Bề Trên là ĐGM Marcou Thành, rời Việt Nam sang nước Ý du học tại Trường Truyền Giáo Rôma. 7 năm sau (ngày 23-12-1933), ở tuổi 24, thầy Phêrô can đảm và quyết tâm nhận chức linh mục tại Đại Thánh Đường Thánh Phêrô (Vatican) rồi tiếp tục hoàn tất các học vị tiến sĩ triết học, cử nhân thần học và giáo luật tại Đại học Apollinaire, sau đó (năm 1935) lại qua Pháp theo học văn khoa tại đại học Công giáo Paris. Nhưng chỉ một năm sau, ở tuổi 27, ngài vâng lời Đức Giám mục giáo phận hồi hương để làm giáo sư Đại chủng viện Phát Diệm, dạy chính các bạn đồng song ở quê nhà. Các trách vụ lại tiếp nối được đặt lên vai vị linh mục trẻ trung, năng động và tận tụy với việc huấn giáo tại chính giáo phận bản quán: Phó Giám đốc Đại chủng viện (1944), Chánh án Tòa án Hôn phối giáo phận và thành viên của Hội đồng giáo phận (1946), Cố vấn về luật và các vấn đề xã hội của Đức cha Lê hữu Từ (1945-1950), Giám đốc Đại chủng viện Phát Diệm (1946). Trong mọi công việc và trách nhiệm được giao phó, vị linh mục trẻ Phêrô đã hết lòng chu toàn với một ý thức vâng lời phục vụ vì lòng yêu Chúa và Giáo hội Chúa.

    Tuân phục đến phút cuối đời
    Sách Lão Tử (Đạo Đức kinh, LXIV, 2) viết: “Cửu tầng chi đài, khởi ư lũy thổ. Thiên lý chi hành, thỉ ư túc hạ” [Đài cao chín tầng phát khởi từ mô đất. Cuộc viễn hành ngàn dặm bắt đầu từ dưới chân] để đề cao tầm quan trọng của một nền tảng cần thiết phải có cho những công trình, những cuộc hành trình. Với Đức Cố Giám mục Phêrô Maria, những bước tiếp theo của đời vị linh mục vẫn luôn được tín nhiệm để giao phó nhiều trọng trách, đã thêm một bước cao và dài hơn: chức vụ giám mục. Khởi đầu là giám mục Chính Tòa Bùi Chu (1950-1954), rồi đến một biến cố đầy thử thách cho đời giám mục của ngài: Phụ trách giáo dân di cư (1954-1957). Vì đức vâng lời và theo sự ủy thác của Vị Khâm sứ Tòa Thánh Dooley, Đức cha Phêrô Maria chấp nhận phải rời xa giáo phận và đàn chiên đang chăn dắt với nhiều dự tính và thành quả tốt đẹp, nhận trọng trách lo lắng phần tinh thần cho những người di cư từ Bắc vào Nam sau hiệp định Genève, cả giáo dân, tu sĩ và giáo sĩ. Chắc chắn rằng, cùng với đức vâng lời là khả năng điều hành hữu hiệu và khôn ngoan, Đức cha Phêrô Maria, chỉ trong 3 năm đã tích cực giúp ổn định cả về đời sống tinh thần lẫn vật chất cho một số rất lớn những người di cư tại các trại định cư mà nay là những xứ đạo sầm uất, vững vàng từ miền Trung, Nam đến Tây nguyên. Có lẽ cao điểm của đức vâng phục và nhiệt tâm mục vụ của Đức Cố GM Phêrô Maria là quyết định đầy can đảm và mẫu mực của ngài khi nhận làm Giám mục Chính Tòa của giáo phận tân lập Đà Nẵng, được tách ra từ chính giáo phận mẹ Quy Nhơn mà ngài đang là Giám mục Chính Tòa (1957-1963). Chính quyết định này của vị Giám mục của một Giáo hội Việt Nam với hàng giáo phẩm mới được thành lập, cũng đã khiến nhiều giới chức ở Tòa Thánh cảm kích và thán phục. Làm chủ chăn một giáo phận mới suốt 25 năm (1963-1988), những gian truân thử thách thuở ban đầu tưởng như sẽ vơi bớt và hanh thông theo thời gian; thế nhưng, như đường thánh giá vẫn luôn có những biến đổi theo từng chặng để dẫn tới đồi Canvê, cuộc hành trình “vâng lời Thầy, con thả lưới” trên biển đời của Đức Cố Giám mục Phêrô Maria cũng luôn ẩn hiện những sóng gió ba đào. Có thể nói, 13 năm cuối đời của Đức cha Phêrô Maria trên cương vị chủ chăn giáo phận đã được chuyển qua một hướng khác, đặc biệt và khác lạ, khởi đi từ một quyết định vâng phục mới của ngài. Sự vâng phục dựa trên Thánh ý Chúa và lòng yêu thương của vị mục tử để quyết định chọn một vị giám mục phó cho mình và giáo phó cho người kế vị những trọng trách tương ứng. Sự vâng phục tiếp theo chắc chắn phát xuất từ lòng phó thác vào Chúa và sự khiêm nhường sâu thẳm để chấp nhận một đời sống ẩn dật tại vùng đất của những chứng nhân đức tin: linh địa Đức Mẹ Trà Kiệu.
    Trong bản “Chúc thư tinh thần”, Đức cha Phêrô Maria đã viết môt cách rất xác tín: “… Cả đời tôi là một chuỗi tình thương của Chúa, tôi ca ngợi không bao giờ cùng!... Cùng với các hồng ân, Chúa đã gửi đến cho tôi nhiều đau khổ, nhiều thử thách. Đau khổ và thử thách cũng là những hồng ân Chúa ban… Đọc Phúc Âm Thánh Gioan (21,18) tôi thấy Chúa đã định trước cả chi tiết đời sống tôi: “Khi con còn trẻ, thì con tự thắt lưng cho mình, và con muốn đi đâu thì đi. Nhưng khi con về già, thì người ta thắt lưng cho con và đem con đến nơi con không muốn”…
    Cuộc đời của vị chủ chăn tiên khởi của giáo phận Đà Nẵng, Đức Cố Giám mục Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi, còn có thể được nhắc tới và tham khảo về nhiều phương diện, đặc biệt là tầm nhìn mục vụ và khả năng đào tạo và dụng nhân của Ngài. Nhưng trước hết và trên hết, vẫn là một khởi nguồn từ đức vâng phục để có thể luôn là người mục tử tốt lành cho “chiên được sống và sống dồi dào”, như lòng Chúa mong ước.
    GP Đà Nẵng

    Chữ ký của Damsan
    Nàng đẹp quá, bạn tình ơi, đẹp quá !
    Đôi mắt nàng là một cặp bồ câu.

    (Dc 1,15 )

  45. Có 11 người cám ơn Damsan vì bài này:


  46. #25
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,695 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH

    (1912 – 1971)
    Cha chính Hà Nội
    Tấm gương can trường



    Cha Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh chào đời ngày 2 tháng 10 năm 1912 tại làng Ngọc Lũ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.

    Cậu Vinh, một thiếu niên vui vẻ, thông minh, có năng khiếu nghệ thuật bẩm sinh về âm nhạc, ca hát. Cậu biết kính trên, nhường dưới, trong xứ đạo, ai cũng quý yêu. Cha xứ Ngọc Lũ thời đó là Cố Hương, một cha người Pháp tên là Dépaulis giới thiệu cậu lên học tại trường Puginier Hà Nội. Năm 1928, cậu học Tiểu Chủng viện Hoàng Nguyên, Phú Xuyên, Hà Tây.

    Năm 1930, thầy Vinh được cố Hương dẫn sang Pháp du học. Năm 1935, thầy vào Đại Chủng viện St Sulpice, Paris. Ngày 20-6-1940, thầy được thụ phong linh mục ở Limoges.

    Chiến tranh thế giới xảy ra, cha Vinh phải ở lại Pháp và tiếp tục học tập. Ngài học Văn Khoa-Triết tại Đại Học Sorbone, học sáng tác và hòa âm tại Nhạc viện Quốc Gia. Ngài phải vừa học vừa làm. Vóc dáng nhỏ nhắn dễ thương của ngài đã làm cho nhiều người Pháp tưởng lầm ngài là phụ nữ nên cứ chào: Bonjour Madame! Nhưng ẩn trong cái dáng vóc nhỏ bé đó là một tâm hồn rộng lớn, sau đôi mắt sáng là tính cương trực, dưới nụ cười là ý chí sắt son.

    Sau khi tốt nghiệp cử nhân Văn Triết ở Sorbone, ngài gia nhập dòng khổ tu Biển Đức tại Đan Viện Ste Marie.
    Sau 17 năm du học, năm 1947 cha Vinh về nước, nhằm góp sức xây dựng một Giáo Hội Công Giáo Việt Nam vững mạnh về mọi mặt. Khi ấy, Đức cha François Chaize - Thịnh, Bề trên Giáo phận đã bổ nhiệm ngài làm cha xứ Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Ngài xin Bề trên lập dòng Biển Đức ở Việt Nam, nhưng không thành.

    Cha Vinh, dù tu học ở Pháp nhưng luôn có tinh thần yêu nước, độc lập, không nệ Pháp. Năm 1951, Nhà Thờ Lớn Hà Nội tổ chức lễ an táng cho Bernard, con trai tướng De Lattre de Tassigni. Trong thánh lễ, tướng De Lattre kiêu căng đòi đặt ghế của ông trên cung thánh và bắt chuyển ghế của Trần Văn Hữu, Thủ tướng Việt Nam xuống dưới lòng nhà thờ. Vì lòng tự trọng dân tộc, danh dự quốc gia, cha Vinh cương quyết không chịu. Tướng De Lattre rất tức giận, gọi cha Vinh tới, đập bàn quát tháo, đe dọa. Cha Vinh cũng đập bàn, lớn tiếng đáp lại, quyết không nhượng bộ, nhưng Thủ tướng ngại khó nên tự nguyện rút lui. Sau vụ đó, để tránh căng thẳng, Đức Cha Khuê đã chuyển cha Vinh làm giáo sư của Tiểu Chủng Viện Piô XII, phụ trách Anh văn, Pháp văn, âm nhạc, triết học; ngài khiêm tốn vâng lời. Ngài cũng giảng dạy Văn Triết ở trường Chu Văn An.

    Năm 1954, Đức cha Trịnh Như Khuê cho phép cha Vinh và cha Nhân đưa chủng sinh đi Nam, nhưng cả hai đều xin ở lại sống chết với giáo phận Hà Nội, dù biết hoàn cảnh đầy khó khăn, nguy hiểm. Đức Cha Khuê bổ nhiệm ngài làm Cha Chính, kiêm Hiệu Trưởng trường Dũng Lạc.

    Ngài tổ chức lớp học giáo lý cho các giới, có những linh mục trẻ thông minh, đạo đức cộng tác, như cha Nguyễn Ngọc Oánh, cha Nguyễn Minh Thông, cha Phạm Hân Quynh. Lúc đầu, lớp học được tổ chức thành nhóm nhỏ tại phòng khách Tòa Giám Mục, về sau, con số người tham dự tăng dần, lớp học được chuyển tới nhà préau, và ngồi ra cả ngoài sân. Lớp học hiệu quả rất lớn, những tín hữu khô khan thành đạo đức nhiệt thành, ảnh hưởng lan tới cả giới sinh viên và giáo sư đại học, nhiều người gia nhập đạo. Sau chính quyền ra lệnh ngừng hoạt động vì lý do an ninh.

    Khi cha Vinh đang làm Hiệu Trưởng Dũng Lạc, Chính phủ ra chỉ thị phải treo ảnh lãnh tụ thay vào ảnh Thánh Giá ở các lớp học. Ngài không tuyên đọc chỉ thị cũng không tháo bỏ Thánh giá, nên năm 1957, trường bị đóng cửa.

    Thời bấy giờ, Đại học Y khoa Hà Nội thiếu giáo sư, nên đã đề nghị Đức Cha Khuê cử cha Vinh đến trường dạy La tinh. Nhiều sinh viên cảm phục ngài. Một hôm, Chu Ân Lai, thủ tướng Trung Quốc đến thăm trường, thấy bóng dáng chiếc áo chùng thâm linh mục, ông nói với đoàn tháp tùng: “Đến giờ này mà còn có linh mục dạy ở Đại Học quốc gia ư?”. Ít lâu sau trường Đại học Y khoa không mời cha dạy nữa.

    Biết tài năng và kiến thức âm nhạc của ngài, nhiều nhạc sĩ ở Hà Nội tìm cha Vinh tham khảo ý kiến và nhờ xem lại những bản nhạc, bài ca họ mới viết.

    Cha Vinh, một trong những nhạc sĩ tiên phong của Thánh nhạc Việt Nam, và là một nhạc sĩ toàn tài. Ngài chơi vĩ cầm và dương cầm thật tuyệt, ngài kể chính ngài là người Việt Nam đầu tiên chơi vĩ cầmở Hà Nội. Ngài có năng khiếu đặc biệt về âm nhạc, lại được học tập chu đáo nên đã sáng tác và để lại nhiều nhạc phẩm tôn giáo tuyệt vời. Cha Vinh trình bày bản hợp tấu ‘Ở Dưới Vực Sâu’ nhân cuộc đón tiếp phái đoàn Việt Nam do ông Hồ Chí Minh dẫn đầu sang dự Hội Nghị Fontainebleau năm 1946.

    Cộng tác với Hùng Lân sáng tác ‘Tôn Giáo Nhạc Kịch Đa-Vít’. Ngài còn sáng tác nhiều nhạc phẩm lớn: ‘Mở Đường Phúc Thật’, ‘Tôn Vinh Thiên Chúa Ba Ngôi’, ‘Ôi GiaVi’, ‘Lạy Mừng Thánh Tử Đạo’. Ngài phổ nhạc cho các Ca Vịnh 8 , Ca vịnh 16, Ca vịnh 23, Ca vịnh 41, Ca vịnh 115 và nhiều bài hát khác như Đức Mẹ Vô Nhiễm, Thánh Tâm Giêsu. Ngài còn viết những bài ca sinh hoạt: Sao Mai, Đời Người, phổ nhạc bài ‘Bước Tới Đèo Ngang’ của Bà Huyện Thanh Quan.
    Hằng tuần ngài đến dạy nhạc, xướng âm và tập hát bên chủng viện Gioan. Cha Vinh có giọng nam cao, âm hưởng thanh thoát, lôi cuốn.
    Ngài tổ chức và chỉ huy đồng ca trong nhiều cuộc lễ và rước kiệu lớn như cuộc Cung Nghinh Thánh Thể từ Hàm Long về Nhà Thở Lớn Hà Nội.

    Năm 1957, Nhà nước muốn tỏ cho dân chúng trong nước và thế giới thấy là ở Việt Nam Đạo Công giáo tự do hành đạo, và tổ chức được những lễ nghi long trọng, tưng bừng. Dip Lễ Noel, chính quyền tự động cho người đến chăng dây, kết đèn quanh Nhà Thờ Lớn, sau lễ họ vào đòi nhà xứ Hà Nội phải thanh toán một số tiền chi phí lớn về vật liệu và tiền công. Năm 1958 cũng thế, gần đến lễ Noel, không hề hỏi han, xin phép, một số người của Nhà nước ngang nhiên đưa xe ô tô chuyển vật liệu, tự động bắc thang, chăng dây treo bóng điện màu trang trí ở mặt tiền và trên hai tháp Nhà Thờ Lớn. Cha xứ thời đó là cha Trịnh Văn Căn bảo vệ chủ quyền Giáo Hội trong khuôn viên cơ sở tôn giáo, không đồng ý, nhưng họ cứ làm. Để phản đối, cha Căn liền cho kéo chuông nhà thờ cấp báo, giáo dân kéo đến quảng trường nhà thờ rất đông ủng hộ cha xứ, hai bên to tiếng. Cha Căn gọi Cha Vinh ra can thiệp, sau một hồi tranh luận không kết quả, cha Vinh kéo những người của Nhà nước đang leo thang chăng đèn xuống, rồi chính ngài leo lên thang, hai tay đưa cao trước mặt, hai bàn tay nắm lại, hai cườm tay đặt cho nhau, làm dấu hiệu còng tay số 8, và nói lớn: “Tự do thế này!” Vụ giằng co lộn xộn kéo dài suốt buổi sáng, công cuộc trang trí không thành.

    Cha Căn, cha Vinh cùng một số giáo dân bị cơ quan an ninh thẩm vấn, đem ra xét xử. Tòa án nhân dân Hà Nội tuyên án: Cha Trịnh Văn Căn, Chính xứ Nhà Thờ Lớn, người chịu trách nhiệm tổ chức lễ Noel năm 1958 chịu án 12 tháng tù treo. Cha Chính Nguyễn Văn Vinh chịu án 18 tháng tù giam, với tội danh: “Vô cớ tập hợp quần chúng trái phép, phá rối trị an, cố tình vu khống, xuyên tạc chế độ, gây chia rẽ trong nhân dân” (!).

    Sau phiên tòa, cha Vinh bị đưa đi giam ở Hỏa Lò, sau bị chuyển đi nhiều trại giam khác như Chợ Ngọc, Yên Bái, cuối cùng là trại “Cổng Trời”, nơi dành riêng cho các tù nhân tử tội.
    Khi cha Vinh mới đến trại Yên Bái, ngài còn được ở chung với các tù nhân khác, nhiều giáo dân, chủng sinh, tu sĩ đến xin cha giải tội, vì thế ngài bị kỷ luật, phải biệt giam, bị cùm chân trong xà lim tối. Mấy tháng sau được ra, ngài lại ban phép giải tội. Cán bộ hỏi: “Tại sao bị cùm, bị kỷ luật, được ra, anh tiếp tục phạm quy?” Ngài đáp: “Cấm là việc của các ông, giải tội là việc của tôi, còn sống ngày nào, tôi phải làm bổn phận mình!”.

    Ở tù đói rét là đương nhiên, lúc nào cũng đói, hằng ngày mỗi bữa một bát sắn độn cơm, ăn với lá bắp cải già nấu muối, khi chia cơm phải cân đong từng chút một... Một lần cha Vinh nhận được gói bưu kiện do cha Cương, quản lý Nhà Chung Hà Nội, gửi lên, trong đó có ít thức ăn, lương khô và vài đồ dùng cá nhân, ngài đem chia sẻ cho anh em trong nhóm, cả Công giáo lẫn lương dân, ăn chung, dùng chung. Anh em tù hình sự thân thương gọi ngài là ‘bố’.

    Ngay trong nhà tù, cha Vinh vẫn can đảm bảo vệ người bị áp bức, có lần một tổ trưởng đánh đập tù nhân, ngài lên tiếng bênh vực, liền bị người tổ trưởng này xông đến giang tay đánh, ngài đưa tay gạt, anh ta ngã khụy. Từ đó trong trại có tiếng đồn cha Vinh giỏi võ, mọi người phải nể vì.

    Một cán bộ cao cấp ở Hà Nội lên Cổng Trời gặp cha Vinh, nói: “Đảng và Chính phủ muốn anh được tha về, nhưng với điều kiện phải cộng tác với linh mục Nguyễn Thế Vịnh (Chủ tịch Ủy Ban Liên Lạc Công Giáo). Nếu anh đồng ý, anh có thể về Hà Nội ngay bây giờ với tôi”. Ngài khẳng khái đáp: “Ông Vịnh có đường lối của ông Vịnh. Tôi có đường lối của tôi”.

    Vì không khuất phục được ngài, nên bản án của ngài từ 18 tháng tù giam, không qua một thủ tục pháp lý án lệnh nào, đã biến thành 12 năm tù kiên giam, xà lim biệt giam và án tử. Năm 1971, khi ngài từ trần không ai được biết, một năm sau, chính quyền mới báo cho Đức Cha Khuê và cha Cương quản lý Nhà Chung: “Ông Vinh đã chết. Không được làm lễ áo đỏ cho ông Vinh!”.

    Suốt đời mình, trong mọi tình huống cha Chính Vinh làm trọn trách vụ của mình. Ngài đã mạnh mẽ rao giảng Tin Mừng và làm chứng cho đức tin, khi thuận tiện cũng như khó khăn. Vượt mọi thử thách gian khó, không chịu khuất phục trước cường quyền, luôn trung kiên với Thiên Chúa và Giáo Hội.

    Cha Chính Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh là một chứng nhân của thời đại, một linh mục Công Giáo Việt Nam can trường, hậu thế kính tôn và ghi ân ngài.
    TGP Hà Nội

    Linh Mục Nhạc Sĩ Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh


    Linh Mục Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh (1912-1971)




    LM Nguyễn Văn Vinh, tù nhân tử tội




    Ngôi nhà và thửa đất tại Ngọc Lũ, quê hương Linh Mục Nguyễn Văn Vinh


    Hồi 19h30 ngày 12.10.2007, sau khi bế mạc Đại Hội Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Giám mục Hòang Đức Oanh, Giáo Phận Kontum, với tư cách nghĩa tử của cha chánh Vinh, đã rời Tòa Giám Mục Hà Nội về Giáo Xứ Ngọc Lũ (Hà Nam) cách Hà Nội hơn 90 km. Ngọc Lũ là quê hương của cha chánh Vinh, nơi lưu giữ di cốt của cha chánh Vinh sau khi cải táng.




    Hồi 4h30, sáng 13.10.2007 Thánh Lễ đồng tế do Hoàng Đức Oanh - Giám Mục Kontum, và linh mục thư ký cử hành tại nhà thờ Ngọc Lũ
    Một chút di cốt ít ỏi, các mảnh vải áo cha mặc khi chôn cất nay may mắn còn sót lại, một ít mắn đất nghi rằng do xương của cha mục nát tan ra.... Tất cả được thu gom trong các túi nhỏ đặt trong một quan tài bằng kính, được đặt tôn kính tại gầm bàn thờ bên trái của nhà thờ Giáo Xứ Ngọc Lũ.



    Di cốt Cha Chánh Vinh tại Nhà Thờ Ngọc Lũ, Nam Định


    Sau Thánh Lễ, Giám Mục đến thăm mảnh đất hơn 07 sào, xưa là nhà của ông bà thân sinh cha chánh, năm 1993 đã được bán lại cho một gia đình khác (cũng là người công giáo).





    Giám Mục Nghĩa Tử Chủ Tế và người thu hồi di cốt cha Vinh


    thay đổi nội dung bởi: Damsan, 07-11-2009 lúc 04:16 PM Lý do: bổ sung thông tin
    Chữ ký của Damsan
    Nàng đẹp quá, bạn tình ơi, đẹp quá !
    Đôi mắt nàng là một cặp bồ câu.

    (Dc 1,15 )

  47. Có 12 người cám ơn Damsan vì bài này:


  48. #26
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,695 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha Phanxicô Xaviê Trần Ngọc Khiết
    (1909–2000)

    Người mục tử tận tụy

    Cha Phanxicô Xaviê Trần Ngọc Khiết là chứng nhân một đời mến Chúa - yêu người, tận tụy yêu thương đoàn chiên của mình. Hình ảnh một con người nhỏ bé, đơn sơ, khiêm tốn được ghi khắc trong tâm khảm của mỗi người dân Chúa. Nhắc đến ngài, người giáo dân không thể không nhắc đến hình ảnh một cụ già trèo đèo, lội suối, băng rừng đi tìm kiếm từng con chiên. Nhắc đến ngài, người ta thường nói đến lòng quảng đại, sự hy sinh quên mình vì đoàn chiên, luôn quan tâm giúp đỡ mọi người. Dù ngài đã được Chúa gọi về, nhưng hình ảnh một con người, một linh mục đáng kính vẫn sống mãi trong lòng đoàn chiên mà ngài được trao phó.
    1. Đôi dòng tiểu sử

    Cha Phanxicô Xaviê Trần Ngọc Khiết sinh năm 1909, tại giáo họ Thạch Sơn, giáo xứ Hà Thạch, giáo phận Hưng Hóa, là con thứ sáu trong một gia đình có 7 anh chị em (4 trai, 3 gái). Thân phụ là ông cố Phanxicô Xaviê Trần Văn Thạch. Thân mẫu là bà cố Maria Trần Thị Gián.
    Năm 1918, khi mới được 9 tuổi, cậu Khiết được gửi vào học tại Tiểu Chủng viện Hà Thạch. Sau khi học xong chương trình văn hóa, chú Khiết được các cố thừa sai dạy Triết học và Thần học.
    Vì hoàn cảnh đất nước chiến tranh, Tiểu Chủng viện phải đóng cửa, Thầy Khiết được cử đến giúp các giáo xứ Trù Mật, Hoàng Xá, Sơn Dương, Yên Khoái, Sơn Tây, và tiếp tục con đường tu trì như một “thầy giảng”cho đến năm 1971, vào năm 62 tuổi, nên thường được gọi là thầy già Khiết.
    Năm 1973, thầy già Khiết được Đức cha Phêrô Nguyễn Huy Quang chọn làm linh mục. Lúc đầu thầy không nhận vì tuổi cao, nhưng sau đó thầy đã vâng lời Đức cha. Ngày 25 tháng 10 năm 1973, thầy già Khiết được trao ban thừa tác vụ linh mục lúc đã 64 tuổi.
    Tân linh mục Khiết được cử đến coi sóc các giáo xứ: Nhân Nghĩa, Yên Bái, Yên Bình, Vĩnh Quang, Nghĩa Lộ, Lao Cai, Sa Pa… Địa bàn hoạt động của ngài rộng hàng ngàn cây số vuông.
    Ngày 25 tháng 10 năm 1998, ngài kỷ niệm Ngân khánh Linh mục, khi đã được 89 tuổi.
    Ngài được Chúa gọi về ngày 22 tháng 04 năm 2000, hưởng thọ 91 tuổi. Ngài được an táng tại khuôn viên nhà thờ giáo xứ Nhân Nghĩa, giáo phận Hưng Hóa.


    2. Gương chứng nhân và công việc mục vụ

    Sau khi cha già Nghĩa qua đời ngày 06-10-1973, cha Khiết được Đức cha bổ nhiệm coi sóc các giáo xứ thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn (nay thuộc hai tỉnh Yên Bái và Lào Cai). Ngài đã bắt tay vào việc đi tìm gặp những người công giáo trong các cộng đoàn trên 20 năm chưa bao giờ được gặp linh mục. Ngoài ra, cha Khiết còn tìm ra nhiều cộng đoàn tin Chúa nhờ nghe các chương trình phát thanh, chứ chưa hề được ai giảng dạy. Họ tin có Chúa và cùng nhau quy tụ lại đọc kinh, cầu nguyện.
    Ngoài việc xây dựng và củng cố đức tin cho các cộng đoàn, cha Khiết cùng với bà con giáo dân đã lấy lại được một số đất đai của các nhà thờ bị chiếm dụng, đã xây dựng lại các cơ sở thờ tự ở Yên Bái và Lào Cai bằng tranh tre, vách đất, những nhà thờ đã đổ nát, hoang tàn vì chiến tranh tàn phá và từ lâu không có linh mục coi sóc.
    Cha Khiết không những chỉ dâng lễ ở các nhà thờ giáo xứ như Nhân Nghĩa, Yên Bái, Yên Bình, Vĩnh Quang, Nghĩa Lộ, Lao Cai, Sa Pa…, mà còn thường xuyên đến dâng lễ tại các họ lẻ như Đại Phác, Văn Yên, Hoàng Thắng, Hầu Thào, Lao Chải, Tằng Loỏng, Phình Hồ, Giàng La Pán. Ngài luôn ân cần động viên thăm hỏi bà con giáo dân. Mỗi khi có kẻ liệt, ngài đến tận nơi, đến từng nhà để động viên, yên ủi, không quản đường xa, đêm hôm, giá rét.
    Ngoài việc chăm lo cho đời sống tinh thần của giáo dân, cha Khiết còn quan tâm nuôi dưỡng ơn gọi làm linh mục, tu sĩ cho người bản xứ nơi cha coi sóc.
    Phương tiện đi lại thời đó chủ yếu bằng xe đạp, bằng ngựa, thuyền, võng, hoặc đi bộ. Đường xá thì xa xôi cách trở, đèo dốc, núi rừng, nhưng cha vẫn không quản gian lao vất vả để tìm đến với đoàn chiên của mình. Gia tài quý nhất của cha là chiếc xe đạp. Có khi cha phải đạp xe vài chục cây số, thậm chí hàng trăm cây số, một thân một mình giữa đường xa vắng vẻ.
    Cha không có người giúp việc, phải tự lo cho mình về sức khỏe, về ăn uống và công việc mục vụ. Cha đến với mọi người bằng tình thương và tấm lòng của mình. Cha khiêm nhường bình dị, đi dép cao su, đội mũ lá, khăn vắt vai. Hình ảnh người cha già đáng kính đơn sơ giản dị vẫn được giáo dân say sưa kể lại.
    Thay lời kết, xin mượn lời một giáo dân, ông Nguyễn Văn Thơm, nói lên những cảm nhận của ông về cha Phanxicô Xaviê Trần Ngọc Khiết như sau: “Cha già Khiết là một linh mục đạo đức, thánh thiện, chuyên lo giảng dạy đạo thánh Chúa cho mọi người. Cha đã sống nghèo, chia sẻ kiếp nghèo với mọi người dân ở đây. Cha thật sự là một người cha trong gia đình giáo xứ, giáo họ. Cha rất nhân hậu, không bẳn giận, cáu gắt. Tâm đức ngài căn dặn con chiên rất sâu sắc. Cha sống cuộc đời thanh bạch, giản dị, hòa đồng với người dân đến nỗi nhiều người không nhận ra ngài là linh mục trong cuộc sống đời thường. Ngài là một linh mục gương mẫu sống mãi trong lòng mọi tín hữu nơi đây”.
    GP Hưng Hóa
    Chữ ký của Damsan
    Nàng đẹp quá, bạn tình ơi, đẹp quá !
    Đôi mắt nàng là một cặp bồ câu.

    (Dc 1,15 )

  49. Có 9 người cám ơn Damsan vì bài này:


  50. #27
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,695 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Đức cha Giuse PHẠM VĂN THIÊN
    (1907–1997)

    Giám mục tiên khởi giáo phận Phú Cường



    Sơ lược tiểu sử Đức cha Giuse:



    – Sinh ngày 2-5-1907
    ­– Thụ phong linh mục: 17-03-1934
    – Tấn phong giám mục: 06-01-1966
    – Qua đời: 15-02-1997 tại Bình Dương
    – Khẩu hiệu giám mục: “Ơn Chúa ở cùng tôi”
    Một đời sống tu đức sâu xa
    Nền tảng của đời sống thiêng liêng là thinh lặng và hồi tâm. Hai đặc điểm đó, ai tiếp xúc với Đức cha Giuse đều có thể dễ dàng nhận ra: ngài chỉ nói những lúc cần, những điểm cần và vừa đủ. Ngài ít nói, nhưng nhìn ngài quỳ trước Nhà Tạm, cung kính nghiêm chỉnh và như bất động, người ta có thể đoán được ngài đang nói thật nhiều.
    Một vẻ đẹp của nhân cách
    Nếp sống kỷ luật của Đức cha Giuse là kết quả của một nền giáo dục kỹ càng: ngài rất đúng giờ. Mọi chương trình làm việc được ghi chú cẩn thận vào agenda. Thời đại của ngài chưa có “thiết bị nhớ” để lưu trữ lịch trình cần thực hiện. Nhưng chưa thấy ngài quên ngày giờ và công việc ngài đã chuẩn nhận.
    Tới thăm giáo xứ nào, nếu thấy giáo dân xếp hàng chào đón, ngài liền chủ động bảo tài xế dừng xe, xuống đi bộ để đáp lễ mọi người.
    Một bông hồng khiêm tốn
    Có một tin đồn, chỉ mang tính “hành lang” nhưng đã đến tai nhiều người: lúc nhận được quyết định bổ nhiệm của Tòa Thánh, ngài đã mời cha Antôn Phùng Thành, đang làm quản lý của Đại chủng viện Sài Gòn, giúp ngài quản trị công việc tài chính cho giáo phận mới. Khi trao đổi với cha Antôn, ngài đã nhấn mạnh: “Nếu cha từ chối, có lẽ tôi cũng không dám lãnh nhận sứ vụ.” Không rõ thực hư câu chuyện, nhưng nếu đúng, quả thật ngài đã biết “tri kỷ”, biết mình “sở đoản” trong lãnh vực tài chính. Nhưng cũng “tri bỉ”, biết người, cha Antôn có nhiều “sở trường” trong lãnh vực đó.
    Từ thấy đi đến tin tưởng và trao trách nhiệm. Sự tín nhiệm đó được duy trì suốt cả đời ngài. Khi trao tác phẩm đầu tay “Từ Thánh Thể đến Chúa Ba Ngôi” cho một cha phát hành, ngài đã không ngại ngùng ngỏ lời: “Cha vui lòng giúp sửa lại lời văn”.
    Một dịp tĩnh tâm thường niên, trong giờ hội thảo, ngài đã đưa ra một vài chỉ thị về phụng vụ: “Phần ca dâng lễ: hát hay đọc?” Một cha góp ý. Ý này khác hẳn ý ngài. Đầu tiên có vẻ ngài không hài lòng, nhưng sau đó, duyệt xét lại, ngài đã thẳng thắn và công khai xin lỗi.
    Một dịp tĩnh tâm thường niên khác, lúc đã trọng tuổi, ngài kết thúc giờ huấn thị bằng một câu rất ấn tượng: “Cám ơn quý cha đã vui lòng nghe!” Câu nói vừa được thốt ra, cộng đoàn linh mục ai nấy đều tươi nở nụ cười, nụ cười của yêu thương, chất ngất niềm cảm xúc.
    Một tấm lòng dễ rung cảm
    Mỗi khi đề cập với Đức cha Giuse về tình cảnh nghèo khổ của anh chị em giáo dân, là thấy ngay được nỗi xúc cảm hằn sâu trên khuôn mặt của ngài. Trong giai đoạn khó khăn của những ngày đầu sau 1975, ngài đã gợi ý với các linh mục: “Hãy cố sắp xếp gọn nhẹ những giờ phụng vụ, để tạo sự dễ dãi cho công việc lao động của bổn đạo”, mặc dù ngài rất nghiêm chỉnh và cẩn thận trong việc phụng vụ.
    Bất cứ một linh mục, tu sĩ nào trong giáo phận lâm trọng bệnh, ngài đều thân hành đến tận nơi thăm hỏi và giúp đỡ tài chính nếu cần.
    Một con người dám đổi mới
    Tinh thần vâng phục của Đức cha Giuse cũng rất đáng lưu ý. Mọi quyết định từ Tòa Thánh, ngài hết sức trân trọng và thực thi tỉ mỉ, không phải chỉ với Tòa Thánh, mà ngay cả với Tòa Tổng giám mục, ngài vẫn luôn tỏ lòng tôn kính.
    Con người của ngài thấm sâu một nền tu đức, lấy sự nhiệm nhặt làm nền tảng. Nhưng ngài vẫn sẵn sàng đổi mới khi thấy đó là hướng đi chung của Giáo Hội. Một chứng cớ cho thấy rõ điều đó là: chỉ một lần qua Rôma viếng mộ thánh Phêrô vào năm 1980, lúc trở về, cộng đoàn linh mục đã thấy nơi ngài nhiều thái độ và cách ứng xử mới.
    Một người cha biết phòng xa
    Đại đa số linh mục trong giáo phận đều là học trò của Đức cha Giuse, từ ngày ngài còn làm giám đốc Đại chủng viện thánh Giuse Saigon. Vì thế, ngoài tư cách là chủ chăn của giáo phận, ngài còn dùng tình “sư đệ” để giúp hàng ngũ linh mục duy trì lòng đạo đức và trung thành với lời khấn độc thân và vâng phục.



    GP Phú Cường
    thay đổi nội dung bởi: Damsan, 07-11-2009 lúc 04:07 PM
    Chữ ký của Damsan
    Nàng đẹp quá, bạn tình ơi, đẹp quá !
    Đôi mắt nàng là một cặp bồ câu.

    (Dc 1,15 )

  51. Có 11 người cám ơn Damsan vì bài này:


  52. #28
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,695 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha Giuse NGUYỄN KHẮC CẨN
    (1880 – 1971)
    Chánh xứ Hội Am, Giáo phận Hải Phòng



    Cha già Giuse Nguyễn Khắc Cẩn là vị chánh xứ thứ 6 của xứ Hội Am. Ngài coi sóc xứ Hội Am trong suốt 22 năm và để lại trong lòng người dân Hội Am nhiều dấu ấn khó phai mờ.
    Cha Giuse Cẩn được Đức Cha Gomez Lễ sai về xứ Hội Am ngày 15-01-1949 cùng với thầy Giuse Nguyễn Công Luận. Lúc đó ngài đã 69 tuổi. Trước đó ngài từng phụ trách giáo xứ Đại Lộ. Giáo xứ Đại Lộ có được ngôi thánh đường như ngày nay là nhờ công lao của ngài. Mặc dù tuổi cao sức yếu, nhưng ngài vẫn nhiệt tình chăm lo việc phần hồn cho giáo dân toàn xứ và phát triển riêng văn hoá cho giới trẻ. Ngài mở trường tiểu học, thu nhận cả trẻ em lương cũng như giáo. Ngài tìm những thầy cô dạy giỏi, tận tâm về giúp các em. Ngài còn nhận nhiều con cái thiêng liêng để hy vọng đào tạo ơn gọi linh mục và tu sĩ.

    Mỗi kỳ nghỉ hè có rất đông các thầy, các chú về nghỉ giúp ngài nhiều việc trong các xứ họ. Ngài cũng thành lập nhiều hội đoàn tông đồ và cầu nguyện như Hội thánh Giuse, Hội tràng hạt Mân côi…

    Sau năm 1954, non nửa giáo dân Hội Am di cư vào Nam. Khi ấy đất nước lại vừa trải qua cuộc chiến tranh lâu dài và khốc liệt, đời sống giáo dân ở lại có nhiều thiếu thốn và khó khăn. Cha già Cẩn đã thường xuyên đi thăm viếng an ủi động viên họ giữ lòng cậy trông mến Chúa.

    Năm 1956 miền Bắc cải cách ruộng đất. Một số cán bộ đi quá đà, một vài giáo dân bị lôi cuốn đã có những lời lẽ và hành vi không tốt xúc phạm nặng nề đến ngài. Chính trong thời gian khốn khó này, Cha đã sống đời sống chứng tá của một vị chủ chăn tốt lành và thánh thiện. Ngài bị đem ra xét xử tại điếm phủ nhà xứ, ngay cuối nhà thờ Hội Am. Người ta vu khống cho ngài đủ mọi thứ tội lỗi, nhưng ngài vẫn nhẫn nhục, chịu đựng và tha thứ cho họ. Ở tuổi 84 tuổi mà bị chính những người thân của mình gây cớ làm khổ, ngài đau đớn cho mình thì ít mà xót xa cho người tố cáo mình thì nhiều. Noi gương Đức Kitô, ngài đã xin Thiên Chúa tha thứ cho những kẻ tố cáo mình.

    Sau đó ngài còn nhiều lần bị cách ly hoàn toàn với giáo dân. Trong nhà xứ khi ấy chỉ còn lại thầy già Luận, bõ Ri mù, cô Sinh lo nhà bếp và cậu Hiển (bây giờ là linh mục Stêphanô Nguyễn Văn Hiển – nghĩa tử của cha già, thuộc giáo phận Hải Phòng).

    Họ tố cáo ngài và chiếm đoạt tài sản nhà thờ: tịch thu ruộng đất; lục soát lấy sách vở tài liệu để thiêu đốt. Ngày nào họ cũng đưa ngài ra chốn công chúng để tố cáo, cứ từ sáng đến tối ròng rã suốt 3 tháng liền. Có điều kỳ lạ là ngài rất bình thản, không buồn rầu héo hắt mà cứ vui tươi cùng mọi người.

    Chính trong suốt một năm vào sa mạc ăn chay cầu nguyện này, cha già đã được Chúa tiếp thêm sức mạnh thiêng liêng và thể lý, để chuẩn bị cho giai đoạn phụ trách thêm 6 giáo xứ khác nữa.

    Sau năm 1957, trong dịp Đức cha Phêrô Maria Khuất Văn Tạo kinh lý tại giáo xứ Nam Am, nhiều giáo dân từng tham gia vào việc đấu tố các linh mục đã công khai thú tội và xin lỗi Giáo Hội. Sinh hoạt tôn giáo trở lại bình thường, một số ruộng đất được trả lại, giáo dân tự do lui tới nhà thờ, nhà xứ. Theo lệnh của Đức cha, cha già Cẩn phụ trách 5 xứ thuộc huyện Vĩnh Bảo và 2 xứ khác thuộc huyện Tứ Kỳ. Ngài luân phiên ở mỗi xứ một tuần lễ, mỗi họ lẻ 1-2 ngày để dâng lễ và cử hành các bí tích. Ngài thành lập Hội bác ái gồm các chị em nữ tu thường xuyên đi vào các làng lân cận không Công giáo để rửa tội cho các trẻ sơ sinh hấp hối mà chưa được chịu bí tích Thánh tẩy. Nếu các em không may qua đời thì các nữ tu này xin xác về để mai táng. Ngài còn lo trồng thuốc lào và cấy lúa tại ruộng của nhà xứ để có thêm ngân quỹ chi dùng và tu sửa nhà thờ.

    Năm 1958, cha già Giuse tổ chức lễ Phục sinh quy tụ 7 giáo xứ về tại nhà thờ Nam Am. Năm 1962, ngài mua lại gỗ lim của một ngôi chùa bên Cao Dương – Thái Bình về thay hoành rui nhà xứ. Năm 1965, ngài tu bổ lại nhà thờ giáo xứ và giúp Họ Vạn Hoạch sửa lại mái nhà thờ. Năm 1963, do tuổi cao sức yếu, ngài chỉ còn phụ trách 5 xứ thuộc huyện Vĩnh Bảo.

    Ngày 15-02-1971, cha già Giuse Nguyễn Khắc Cẩn được Chúa gọi về sau một cuộc đời dâng hiến phục vụ với biết bao gian nan thử thách. Hàng vạn giáo dân đã về Hội Am để đưa tiễn người cha khả kính. Dù trong hoàn cảnh thế nào đi nữa, cha Giuse luôn một lòng trung thành và trung kiên phục vụ Giáo Hội. Ngài đã an nghỉ tại giáo xứ Hội Am, như muốn nói lên sự gắn bó mãi mãi của vị mục tử với đoàn chiên mà Ngài đã dày công phục vụ.
    GP Hải Phòng


    Chữ ký của Damsan
    Nàng đẹp quá, bạn tình ơi, đẹp quá !
    Đôi mắt nàng là một cặp bồ câu.

    (Dc 1,15 )

  53. Có 9 người cám ơn Damsan vì bài này:


  54. #29
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,695 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha Micae TRẦN KHẮC VINH
    Người lữ hành lặng lẽ


    Trong dòng vận động thăng trầm của lịch sử Giáo hội Công giáo Việt Nam, có biết bao tấm gương linh mục đã từng sống, từng cống hiến và nêu gương như những nhân chứng sống về tình yêu và niềm tin bất diệt vào chân lý của Đức Kitô. Giáo phận Thanh Hóa là nơi ươm mầm, phát triển cho nhiều nhân chứng như vậy, trong đó cho đến ngày nay, nhiều người còn nhắc nhớ đến cha Micae Trần Khắc Vinh như một điển hình của hành trình ấy. Có rất nhiều câu chuyện, nhiều sự tích về cuộc đời của cha Micae.

    1. Đôi nét về cuộc đời cha Micae Trần Khắc Vinh
    Cha Micae Trần Khắc Vinh tên thật là Nguyễn Văn Vinh sinh ngày 16-9-1911 (23 tháng 7 năm Tân Hợi) tại giáo họ Trị Sở, giáo xứ Phong Ý, thuộc giáo hạt Sông Mã, giáo phận Thanh Hóa (xóm Nghĩa Dũng, xã Cẩm Phong, huyện Cẩm Thủy, Thanh Hóa). Ông bà thân sinh là những người giáo hữu rất đạo đức, luôn lấy việc lành thánh thiện mà nêu gương sáng cho con cái. Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến nếp sống của cha Micae Trần Khắc Vinh – có thể nói gia đình chính là nơi khơi nguồn cho tình yêu và ước muốn dấn thân theo Đức Kitô của ngài.
    Một sự kiện đáng ghi nhớ trong cuộc đời dấn thân của cha Micae, đó là năm lên 11 tuổi (năm 1922) ngài được cha Phêrô Trần Khắc Cần nhận làm con thiêng liêng và linh hướng cho việc chuẩn bị vào Tiểu chủng viện. Vì thế, ngài đã quyết định lấy họ Trần của cha đỡ đầu thay cho họ Nguyễn, là họ của dòng tộc.
    Ba năm sau, ngài được gửi vào học tại Tiểu chủng viện Ba Làng, Thanh Hóa. Theo học ở đây được 3 năm, đến năm 1927 ngài lại chuyển ra học tại Tiểu chủng viện Phúc Nhạc, Phát Diệm. Từ năm 1933 đến 1936 cha dạy học ở trường Mission, Thanh Hóa. Năm 1936 cha được cử đi học chủng viện ở Đại chủng viện Xuân Bích, Hà Nội. Sáu năm sau, mùa hè năm 1942 (ngày 6-6-1942) ngài được thụ phong linh mục tại nhà thờ chính tòa Thanh Hóa, do tay Đức cha Luy Hành (Couman), giám mục giáo phận Thanh Hóa. Kể từ đây cuộc đời của chàng thanh niên trẻ bắt đầu đi theo một hành trình đầy những chông gai, trắc trở. Nhưng với sức trẻ của tuổi thanh xuân, cái nhìn luôn lạc quan trong bất kỳ hoàn cảnh nào và niềm tin xác tín rằng Đức Kitô luôn sát cánh bên mình, ngài đã vượt thắng được mọi cám dỗ, thử thách của đời trần tục.

    2. Cha Micae Trần Khắc Vinh - chứng nhân của niềm tin và niềm lạc quan không bao giờ tắt
    Năm 1945, làm phó xứ Chính Toà, ngài được giao chăm sóc trại phong cùi Đại Độ (hiện nay thuộc phường Phú Sơn, Thành phố Thanh Hóa), tuy là linh mục trẻ mới ra trường song ngài không nề hà vất vả, dấn thân hết mình phục vụ những người phong cùi theo tinh thần Phúc âm. Cũng năm 1945 xảy ra nạn đói khủng khiếp, cha Micae suốt ngày rong ruổi trên mọi nẻo đường với chiếc xe đạp cũ kỹ, vừa đi cử hành bí tích cho người hấp hối ở các ngả đường, gầm cầu, xó chợ, vừa đi quyên góp lương thực để trợ giúp những người đang bị nạn đói của năm Ất Dậu hoành hành.
    Năm 1952, khi cha đang làm quản xứ giáo xứ Ngọc Lẫm (thuộc xã Trường Giang, huyện Nông Cống, Thanh Hóa), thì xảy ra việc đấu tranh chính trị, ngài bị bắt dẫn vào làng Hồi Cù, là một làng cũng thuộc xã Trường Giang nhưng xa khu vực Công giáo. Cha bị trói lại treo ngược chân lên xà nhà, đầu quay xuống đất rồi người ta ra lệnh cho mọi người có mặt ở đó lấy roi gai kè đã được chuẩn bị sẵn từ trước, đánh tới tấp từ đầu tới chân một cách vô tội vạ, ai không đánh là đồng lõa với địch. Họ đánh ngài máu me đầm đìa, gai kè gẫy cắm sâu trong da thịt. Sau những trận mưa gai kè, người ta hạ ngài xuống, cho ngài vào một cái rọ lợn xô xuống ao rồi lại kéo lên tiếp tục những trận mưa đòn roi khác. Nhưng suốt đời sống với mầu nhiệm thập giá, ngài đã được sức mạnh phi thường của thập giá nâng đỡ, nên ngài đủ sức kiên cường chịu đựng không một lời ca thán. Họ đánh chán lại thả ngài xuống, chảy nhiều máu ngài kêu khát nước; thấy vậy, một người đàn bà trong phiên tòa đấu tố bày trò làm nhục ngài Sau cuộc đấu tố, người ta cho giáo dân khiêng ngài về nhà xứ Ngọc Lẫm, và tình hình căng thẳng dịu dần. Người ta cho đem ngài ra nhà thương của nhà Chung, do các xơ dòng Truyền giáo phụ trách. Các xơ đã mổ vết thương, gắp ra những cái gai kè bị gãy ngập sâu trong da thịt, nghe nói đến cả bát gai. Không một liệu pháp gây mê, không một lời ca thán, trái lại để động viên các xơ yên tâm mổ vết thương, ngài còn hài hước: Chúa Giêsu chỉ bị đội mão gai trên đầu, còn cha Micae được đội mão gai cả người, nhưng lại được các xơ mổ lấy gai ra cho, còn Chúa Giêsu thì không được may mắn như vậy…
    Những tích truyện về cha Micae thì nhiều lắm như việc ngài cùng chung chia bắp ngô, củ khoai, củ sắn với bà con giáo dân những vùng nghèo khó, ngài yêu thương trẻ thơ hết lòng…
    Cuộc đời linh mục của cha Micae luôn gắn chặt với Chúa Giêsu Thánh Thể: Ngài chuẩn bị Thánh lễ rất chu đáo (dọn mình trước khi cử hành Thánh lễ, cử hành Thánh lễ nghiêm trang, sốt sắng, bài giảng ngài dọn rất chu đáo). Sau mỗi Thánh lễ,ngài luôn cám ơn Chúa và Mẹ Maria đã đồng hành cùng ngài. Ngoài ra ngài còn siêng năng giải tội và cử hành các bí tích; đọc kinh Phụng vụ đúng giờ, tham gia đọc kinh với giáo dân. Một nét son mà ít linh mục làm được là ngài đã thường xuyên ghi nhật ký về việc cử hành Thánh lễ, nhất là số lễ đã cử hành, cử hành ở đâu, cho đến tận lễ cuối đời ngài. Sống trong hàng giáo sĩ, ngài luôn luôn kính trọng và vâng phục bề trên, tôn trọng anh em linh mục dù hơn tuổi hay ít tuổi với tất cả sự chân thành đơn sơ.
    Đời linh mục của ngài là một đời linh mục trong thời gian giáo phận gặp nhiều gian nan, khốn khó, cá nhân ngài là người luôn bị xã hội gây khó khăn trong công việc mục vụ, song ngài luôn kiên cường, hy sinh bản thân mình để phục vụ dân Chúa và hoàn thành những trách nhiệm mà bề trên giáo phận giao cho. Ngài cần cù như một người thợ gặt lành nghề, đều đặn gom góp hương thơm quả ngọt đem về dâng Chúa. Đúng như lời Thánh thi ca ngợi: “Đây Linh mục, những con người thánh hiến/ Suốt cuộc đời làm chủ tế trung kiên…/ Thắt đai lưng như đầy tớ chuyên cần/…Không mỏi mệt nhưng kiên trì tỉnh thức/ Suốt đêm trường hay mãi tới canh khuya” (Thánh Thi giờ Kinh sáng, lễ kính các Thánh Mục tử).
    GP Thanh Hóa
    thay đổi nội dung bởi: Damsan, 27-11-2009 lúc 04:54 PM
    Chữ ký của Damsan
    Nàng đẹp quá, bạn tình ơi, đẹp quá !
    Đôi mắt nàng là một cặp bồ câu.

    (Dc 1,15 )

  55. Có 7 người cám ơn Damsan vì bài này:


  56. #30
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,695 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha Phêrô NGUYỄN BÁ ĐƯƠNG
    (1925–1986)
    Linh mục thánh thiện


    “Một linh mục thánh thiện”: đó là lời Đức cha cố Phêrô Gioan Trần Xuân Hạp viết về cha Phêrô Nguyễn Bá Đương trong sổ linh mục đoàn giáo phận Vinh.
    Cha Phêrô Nguyễn Bá Đương sinh ngày 11 tháng 12 năm 1925 tại giáo xứ Hướng Phương (Quảng Bình) trong một gia đình truyền thống đạo hạnh; vào Trường Tập Xuân Phong năm 1937. Trong thời gian học tại các trường Tiểu chủng viện, Đại chủng Viện Xã Đoài, học lực của thầy Đương thường được xếp nhất nhì trong lớp.
    Ngày 1 tháng 2 năm 1959, thầy Phêrô Nguyễn Bá Đương chịu chức linh mục cùng với 5 thầy khác mà sau này đã được trao phó nhiều trọng trách khác nhau; trong đó có Đức cố Giám mục Phêrô Trần Xuân Hạp, cha cố Phêrô Hoàng Bảo - nguyên Tổng đại diện, cha Phêrô Nguyễn Văn Huyền - nguyên Bề Trên Đại chủng viện Xã Đoài.
    Sau khi thụ phong linh mục, cha Phêrô Nguyễn Bá Đương được Bề trên đặt phụ trách giáo xứ Hội Yên, Xuân Kiều. Cuối tháng 8 năm 1959, ngài về làm giáo sư Tiểu chủng viện Xã Đoài, đến năm 1964 làm giáo sư Đại chủng viện Xã Đoài. Ngày 20 tháng 11 năm 1970 bị bắt tại Đại chủng viện và bị đem đi “cư trú bắt buộc” tại giáo xứ Trung Hoà (Thanh Chương – Nghệ An). Ngài ở Trung Hoà với cha già Phêrô Nguyễn Đoài quản xứ này. Đầu năm 1974, cha già Đoài nghỉ hưu, Cha Phêrô được bề trên giáo phận đặt làm quản xứ Trung Hoà và qua đời tại đây ngày 16 tháng 12 năm 1986.
    Gần 30 năm làm linh mục, cha Phêrô đã để lại những mẫu gương sáng của người mục tử thánh thiện với những nét đặc biệt sau đây:

    1. Đầy lòng yêu mến Giáo Hội
    Cha Phêrô lãnh chức linh mục trong thời gian giáo phận Vinh gặp nhiều sự khốn đốn nhất. Với tư cách là người đào tạo linh mục, khi thấy nhiều chủng sinh và cả anh em linh mục phải bỏ quê mẹ di cư vào Nam, số khác bám trụ quê hương thì bị bắt đi vào các trại cải tạo lao động… Trước tình cảnh ấy, ngài đã viết nhiều bài hát để củng cố niềm tin yêu, hy vọng và can đảm trước thử thách, toát lên tâm hồn của người linh mục luôn biết bám chặt vào Mẹ hiền Giáo Hội mà tiến bước. Ngày nay những bài hát ngài sáng tác vẫn còn nung nấu nơi nhiều người trẻ thêm lòng yêu mến Giáo Hội Chúa và kiên vững trong Đức Tin.
    Đối với cha, dù Giáo Hội có bị bắt bớ và khó khăn cách nào thì nét đẹp Đức Ái sẽ làm cho Giáo Hội luôn bền vững: “Cờ Vàng-Trắng tung ngàn ánh quang thái bình, dẫn đưa bao người thoát ách lầm thanCờ Bác ái tung phất phới trên Kinh đô Ngàn năm hùng tráng. Toàn thế giới Công giáo hướng về nơi châu thành ngàn năm”. Nhờ những bài hát này mà rất nhiều chủng sinh, linh mục và giáo dân thời đó đã thêm tin tưởng, can đảm vượt qua thử thách và hiên ngang làm chứng cho Đức tin.

    2. Đầy sức lôi cuốn lòng người
    Trong những năm bị “quản chế” rồi sau đó quản xứ Trung Hoà, cha Phêrô có sức lôi cuốn lạ thường đối với các anh em linh mục và chủng sinh. Trung Hoà là một giáo xứ nằm ở miền cực Tây của giáo phận Vinh, đường sá đi lại rất khó khăn, đò giang cách trở. Thời đó, việc đi lại của các linh mục và chủng sinh bị hạn chế, vậy mà nhiều chủng sinh linh mục vẫn cố tìm đến với cha Phêrô để được ngài khuyên bào trong đời sống đạo, theo đuổi ơn gọi trước những khó khăn thử thách. Thêm vào đó cha Phêrô còn âm thầm dạy triết học, thần học cho nhiều chủng sinh sau những năm dài ở tù trở về đang kiên trì trong ơn gọi, với mục đích là chờ thời thuận tiện giáo phận sẽ có ngay nhân sự.
    Giáo dân trong vùng, các giáo xứ trong hạt, trải dài trên một địa bàn rộng lớn luôn tìm đến với cha Phêrô mong được nghe những lời khuyên bảo đầy tinh thần Phúc Âm và được thêm đức tin trước thử thách gian nan.
    Điều đặc biệt là từ năm 1976, chính quyền địa phương bắt buộc giáo dân phải di dời xa nhà thờ xứ từ 3-6 km, chỉ còn nhà thờ Trung Hoà giữa bãi ngô mênh mông, vậy mà sáng tối, nhà thờ giáo xứ Trung Hoà vẫn luôn đầy người đến đọc kinh, tham dự Thánh Lễ. Dù phải đi lại rất khó khăn, bị để ý và kiểm soát nghiêm nhặt, nhưng giáo dân Trung Hoà từ già đến trẻ, trời mưa hay nắng, nóng nực hay rét mướt, sáng tối họ vẫn luôn đến đầy trong nhà thờ Trung Hoà, quanh cha kính yêu của mình. Trong nhà xứ ngày nào cũng có người đến làm việc để làm bớt đi sự cô quạnh. Họ cảm thấy vui khi đến phiên mình được vào làm việc tại vườn nhà xứ.
    Năm 1986, khi biết mình mắc bệnh ung thư, cha Phêrô luôn chuẩn bị sẵn sàng giờ Chúa gọi. Chính ngài đã ghi âm những lời trăn trối đầy lòng đạo đức thánh thiện và yêu thương dân mình. Sau này khi nghe lại những lời trăn trối ấy, nhiều người tội lỗi biết đường hoán cải, kẻ khô khan thêm lòng mến Chúa, những người đạo đức lại thêm nhân đức hơn. Ngài biết giữa bối cảnh đầy khó khăn, linh mục thiếu hụt chưa có người bù đắp, mà ngài ra đi là một đau thương cho giáo xứ Trung Hoà, ngài đã trấn an dân ngài với niềm hy vọng vào ngày: “Phút tối tăm nhất báo tin giờ sắp sáng. Đã mưa nhiều là nắng mãi sắp liên”.
    Ngày 16-12-1986 cha Phêrô Nguyễn Bá Đương ra đi bình an trong sự tiếc thương vô hạn của anh em linh mục, tu sĩ, chủng sinh, giáo dân giáo phận Vinh.
    Vì chính quyền không cho an táng tại vườn nhà thờ, nên giáo xứ Trung Hoà phải an táng thi hài cha Phêrô tại nghĩa trang xa giáo xứ hơn 3 km. Đám tang của ngài đã trở thành cuộc rước lớn với dòng người kéo dài gần 3 km. Không chỉ có người công giáo mà cả đến bà con lương dân phải mang xe đạp trên vai để băng qua những cánh đồng lầy lội theo linh cữu ngài đến nơi an nghỉ cuối cùng.
    Đã 23 năm trôi qua, cha Phêrô Nguyễn Bá Đương vẫn luôn là mẫu gương về đời sống thánh thiện đầy nhiệt thành trong sứ vụ linh mục cho linh mục đoàn giáo phận Vinh.

    GP Vinh
    Chữ ký của Damsan
    Nàng đẹp quá, bạn tình ơi, đẹp quá !
    Đôi mắt nàng là một cặp bồ câu.

    (Dc 1,15 )

  57. Có 8 người cám ơn Damsan vì bài này:


  58. #31
    giedonimotoan's Avatar

    Tuổi: 34
    Tham gia ngày: Oct 2009
    Tên Thánh: Hiedonimo
    Giới tính: Nam
    Đến từ: SaiGon
    Bài gởi: 116
    Cám ơn
    995
    Được cám ơn 385 lần trong 99 bài viết

    Default

    chân thành cam ơn pro:monkey03:

  59. Có 3 người cám ơn giedonimotoan vì bài này:


  60. #32
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,695 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Đức cha Paul Marcel PIQUET LỢI
    (1888–1966)


    Mục tử nhiệt thành, khó nghèo và nhân hậu






    Đức cha Paul Raymond Marie Marcel PIQUET LỢI sinh ngày 27-08-1888 tại Notre Dame des Champs, Paris, nước Pháp. Ngài là người con thứ 7 trong gia đình Công giáo đạo đức có 8 người con. Chúa ân ban cho song thân ngài 2 ơn gọi làm linh mục. Thân mẫu qua đời lúc ngài mới sáu tuổi. Sớm mất mẹ, cậu Marcel đặt trọn tình yêu và lòng tín thác vào Người Mẹ trên Trời là Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm.

    Năm 1898, Marcel Piquet nhập học tại Tiểu chủng viện Notre Dame des Champs. Và ngày 15-09-1908, ngài gia nhập Đại chủng viện Thừa Sai Bièvres. Thầy Marcel xác quyết ơn gọi truyền giáo của mình trong thỉnh nguyện thư gởi cha Giám đốc Đại chủng ciện Thừa sai Bièvres khi sắp mãn lớp Terminal (tương đương lớp 12) như sau: « Con không có những tài năng lớn lao, cũng không có những nhân đức cao cả. Nhưng con biết rằng Chúa Nhân Lành gọi con trong Ơn gọi Truyền giáo. Hành trang đức hạnh con mang theo không có những phẩm tính cao quí, nhưng những gì con có, con hiến dâng tất cả. Đó là thiện chí của con. Ước muốn quyết liệt của con là sau này trở nên một công cụ hữu dụng trong tay các Bề Trên.”

    29-09-1912: Thầy Marcel lãnh chức linh mục và ngày 27-11 lên đường truyền giáo cho địa phận Đông Đàng Trong (Qui Nhơn), Việt Nam.

    29-12-1912: Đặt chân lên miền truyền giáo Qui Nhơn và nhận tên Việt là Lợi.

    1913 – 1915: Cha Phó Xứ Đồng Quả.

    1915: Nhập ngũ với nghiệp vụ y tá nhưng sớm giải ngũ vì lý do sức khoẻ

    09/1916: Giám đốc kiêm giáo sư Triết Đại chủng viện Đại An, Qui Nhơn.

    1924 – 1927: Cha sở Dinh Thủy, Ninh Thuận.

    1928 – 1943: Cha sở Hộ Diêm, Ninh Thuận.

    1941 – 1943: Bề trên Giáo phận Tông tòa Qui Nhơn.

    11-11-1943: Được bổ nhiệm Đại diện Tông Tòa Giáo phận Qui Nhơn.

    18-01-1944: Được tấn phong Giám mục tại nhà thờ Chính toà Qui Nhơn, do Đức Cha Drapier, Khâm Sứ Toà Thánh

    05-07-1957: Tòa Thánh thành lập Giáo Phận Tông Tòa Nha Trang và đặt Đức Cha Marcel Piquet Lợi làm Giám mục tiên khởi

    24-11-1960: Toà Thánh thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, Giáo Phận Nha Trang được nâng lên thành Giáo phận Chính toà

    23-06-1961: Nhậm chức Giám Mục Chính Tòa Giáo Phận Nha Trang với phương châm: “Ut in omnibus maxime ametur Deus” (Để trong mọi sự Thiên Chúa được hết lòng yêu mến) và huy hiệu Chiên Con cầm cờ chiến thắng

    11-07-1966: Qua đời tại Sài Gòn. Linh cữu Ngài được quàn tại Nhà Thờ Chính Tòa Sài Gòn 3 ngày cho cộng đoàn dân Chúa kính viếng

    18-07-1966: Đức Cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền, Giám mục Giáo phận Đalat chủ sự Thánh lễ an táng tại Nhà Thờ Chính Toà Nha Trang.

    Mục tử nhiệt thành dựng xây ‘Nhà Chúa’

    Khi còn là mục tử trên cánh đồng truyền giáo Ninh Thuận, Cha thừa sai trẻ Marcel Piquet, thường được gọi là Cố Lợi, luôn nhiệt thành, năng nổ dựng xây cơ sở tinh thần và vật chất cho giáo xứ để giúp giáo dân sống đức tin năng động và phong phú hơn.

    Là cha sở Hộ Diêm, Cố Lợi xây dựng ngôi Thánh đường Hộ Diêm khang trang lộng lẫy theo kiến trúc gôtic và xúc tiến việc khẩn hoang, xây cất Nhà Chúa cho các họ đạo lân cận như: Cà Đú, Gò Đền, Rừng Lai, Phước An. Ngài thành lập “Hội con Đức Mẹ” và Hội này sau đó nhân rộng trong nhiều giáo xứ khác của giáo phận.

    Ngài không chỉ chăm lo đời sống đức tin của các giáo hữu mà quan tâm cải thiện vấn đề dân sinh, tiếp tục công trình của các vị tiền nhiệm như: khai hoang lập ấp, dẫn thủy nhập điền, nâng cao mức sống người nghèo từ mấy trăm mẫu ruộng và rẫy nương thuốc lá… Hầu hết những người đến làm ăn trên vùng đất mới này lần lượt gia nhập cộng đồng dân Chúa, tạo nên những xóm đạo gần như toàn tòng (Cà Đú, Gò Đền, Rừng Lai, Tầm Chưởng).

    Khi làm Giám mục Tông toà Giáo Phận Qui Nhơn, trong thời buổi nhiễu nhương, chiến tranh ly loạn, ngài vẫn nhiệt tâm len lỏi thăm viếng mục vụ khắp nơi trong giáo phận. Khi chủng viện Làng Sông – Qui Nhơn không hoạt động được, ngài thành lập tạm thời Chủng viện Tấn Tài (1946-1952), rồi sau đó là Chủng viện Nha Trang tại địa điểm 22 Duy Tân, Nha Trang (1952 -1958) nay là Tòa Giám Mục cho chủng sinh của Nha Trang.

    Với lòng yêu mến và tôn sùng đặc biệt Đức Maria, cùng với đặc sủng truyền giáo của mình, chín năm trong cương vị chủ chăn tiên khởi của Giáo phận Nha Trang, Đức Cha Marcel Piquet đã tạo lập được những cơ sở nền tảng cho sự phát triển Giáo phận còn non trẻ. Ngài di chuyển trụ sở Dòng Thánh Giuse về Nha Trang (1954), chọn Đức Maria Vô Nhiễm làm quan thầy Giáo phận, rồi năm 1958, thành lập Tiểu chủng viện Sao Biển (Bổn mạng là Sinh nhật Đức Mẹ) và thành lập Dòng Khiết Tâm Đức Mẹ (bổn mạng Trái tim vẹn sạch Đức Mẹ). Đức Cha cũng tạo thuận lợi cho Dòng Chúa Cứu Thế hiện diện trên địa bàn giáo phận (1959), xây dựng Đan viện Cát Minh và mời các đan sĩ về Nha Trang (1960) làm hậu thuẫn cho công cuộc truyền giáo.

    Mục tử khó nghèo và nhân hậu

    Thời Tiểu chủng viện cũng như Đại Chủng Viện, Ban Giám đốc vẫn nhận xét Thầy Marcel Piquet là một con người khổ chế, sốt sắng, đức hạnh, thông minh, trung thành với bổn phận và nhiệt thành trong mọi phương diện. Trong đời sống linh mục và giám mục thừa sai, ngài đã nên tấm gương sáng cho các linh mục bản xứ về đời sống khó nghèo, khổ chế, lòng khiêm nhường và xả thân quên mình vì đàn chiên.

    Giáo dân vùng Ninh Thuận vẫn quen thấy cố sở của họ trên cỗ xe ngựa, thường xuyên thăm viếng bệnh nhân và giáo dân, đều đặn nạo vét kênh mương dẫn nước từ đập về, xắn tay áo hốt lúa khi trời đổ mưa.

    Noi gương lòng nhân hậu của Chúa Giêsu, Thầy chí thánh, ngài luôn sẵn sàng hy sinh, quảng đại phục vụ mọi người bất luận ngày đêm. Khi trong làng có bệnh nhân cấp cứu hay sản phụ sắp sinh nở, ngài mau mắn dùng chiếc xe “cà tàng” Citroen 5 ngựa di chuyển họ đến bệnh viện Phan Rang, khiêng bệnh nhân vào phòng cấp cứu.

    Ngài là vị mục tử luôn rộng lượng bao dung với mọi người, nhưng lại khổ chế với chính mình. Ngài luôn rộng rãi đóng góp của cải cho những nhu cầu truyền giáo. Việc đi lại cho công tác mục vụ thật khó khăn trong thời chiến tranh, ngài không bận tâm, vì ngài luôn bằng lòng với cái tối thiểu cần thiết. Đời sống hàng ngày của ngài thì rất bình dị, đạm bạc, đơn sơ.

    Khi làm giám mục Nha Trang, người ta vẫn còn thấy ngài trong chiếc áo chùng đen bạc màu, đầu đội nón cối, chân mang dép cao su, đi xe đạp cọc cạch lên Bình Cang (cách Tòa Giám Mục chừng 7 cây số) để thăm viếng con cái ở tu viện Bình Cang.

    ***

    Đức cha Marcel Piquet Lợi đã gắn bó cuộc đời và sứ mạng mục tử của mình với giáo phận Nha Trang cho đến lúc tàn hơi, và gởi lại thân xác giữa miền truyền giáo thân yêu. Mộ phần của ngài toạ lạc bên sườn đồi của Nhà thờ Chính toà Nha Trang, nơi các tín hữu vẫn kính viếng, nguyện cầu; và hằng năm, các chủ chăn kế nhiệm cùng đàn chiên Giáo phận cử hành Thánh lễ giỗ cầu nguyện, tri ân ngài.

    Xin Chúa nhân lành ân thưởng cho người tôi tớ tín trung của Chúa sau một đời thừa sai kiên vững, hăng say theo sát dấu chân Vị Mục tử nhân lành là Đức Kitô chí thánh.
    GP Nha Trang
    Chữ ký của Damsan
    Nàng đẹp quá, bạn tình ơi, đẹp quá !
    Đôi mắt nàng là một cặp bồ câu.

    (Dc 1,15 )

  61. Có 6 người cám ơn Damsan vì bài này:


  62. #33
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,695 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Đức cha Phaolô BÙI CHU TẠO
    (1909–2001)
    Người mục tử hiền lành, chủ chăn can đảm



    1. Tiểu sử
    Đức cha Phaolô Bùi Chu Tạo sinh ngày 21-01-1909 tại Tam Châu, là con ông bà cố Liên, nghĩa tử của cha già Phaolô Dương Đức Liêm. Năm 1921-1923 ngài theo học tại trường thử Ba Làng, sau đó về học tại Tiểu chủng viện Phúc Nhạc, rồi Đại chủng viện Thượng Kiệm (1931-1937). Ngài được Đức cha Gioan B. Nguyễn Bá Tòng phong chức linh mục tại Phát Diệm ngày 13-03-1937. Sau đó, ngài được bổ nhiệm làm giáo sư tại Tiểu chủng viện Phúc Nhạc (1937-1940), linh hướng Đại chủng viện Thượng Kiệm (1945-1951). Từ 1951 đến 1954, ngài dưỡng bệnh tại đền Đức Mẹ Cứu Giúp ở cạnh chợ Nam Dân.
    Sau năm 1954, ngài về nhận nhiệm sở tại Tam Châu cho tới ngày được Tòa Thánh bổ nhiệm làm giám quản tông tòa Phát Diệm (30-11-1956). Ngài chính thức về nhận giáo phận ngày 25-01-1957. Ngày 26-04-1959, tại Hà Nội, ngài được tấn phong Giám mục giáo phận Phát Diệm. Ngài được gọi về nhà Cha ngày 05-05-2001, hưởng thọ 92 tuổi.
    Suốt cuộc đời 64 năm linh mục, 42 năm giám mục, ngài đã nên gương sáng trong đời sống cầu nguyện, thực thi bác ái mục tử, đúng như khẩu hiệu giám mục của mình: “Yêu thương không giả dối”.
    2. Con người của Bí tích Thánh Thể
    Đức Giám quản Phaolô Bùi Chu Tạo lên lãnh đạo giáo phận giữa lúc xã hội Việt Nam cũng như giáo phận Phát Diệm đầy biến cố phức tạp. Cuộc di cư 1954 để lại trong giáo phận những khoảng trống khó lấp đầy; số linh mục di cư gần hết, giáo dân di cư hơn một nửa; giáo phận xơ xác, tiêu điều. Chính Đức tân giám quản khi vừa nhận trách nhiệm nặng nề này, trong Thư Chung đầu tiên gửi toàn giáo phận đề ngày 25.01.1957, đã khiêm nhường xác tín: biết mình tài hèn sức yếu, tôi hết sức từ chối, nhưng ‘La-mã đã phán’ tôi nhận là thánh ý Chúa, cúi đầu vâng theo…”, “… Con thuyền này vẫn chở Chúa Giêsu và đoàn chiên yêu dấu của Chúa, cũng không khi nào Chúa để nó đắm chìm. Bất kỳ tay lái là ai, Gioan hay Phaolô, ta cứ yên trí vì có Chúa ở bên tay lái.”
    Nhờ đâu mà ngài xác tín mạnh mẽ và cậy trông vững vàng như thế? Thưa, nhờ gắn bó với Chúa Giêsu Thánh Thể. Ngài là con người của Thánh Thể.
    Chẳng biết tự bao giờ, ngài có thói quen thức dậy từ 2 giờ sáng, rồi lên nhà nguyện. Ngài quỳ cầu nguyện sốt sắng trước Thánh Thể đến 5 giờ rồi dâng lễ. Khi có ai cần tìm gặp ngài, nếu không thấy ngài ở trong phòng riêng, thì cứ đến nhà nguyện, chắc chắn gặp ngài ở đó. Ngài có thói quen rất đáng khâm phục là đọc các Giờ Kinh Phụng vụ trước Thánh Thể.
    Một linh mục được ở bên ngài nhiều năm kể lại: “Năm 1975, tôi được vào học hàm thụ tại Tòa giám mục. Nhà chung lặng ngắt giữa thời khó khăn, chỉ có Đức cha, cha chính xứ và tôi là người giúp việc. Đêm đầu tiên trằn trọc khó ngủ, đến nửa đêm về sáng lại ngủ quên, tới giờ lễ Đức cha phải từ tầng hai xuống gọi dậy giúp lễ. Thái độ ôn tồn, bao dung của Đức cha khiến tôi quyết tâm từ đây tự điều chỉnh để dậy đúng giờ. Ngày thứ hai, nghe tiếng chân Đức cha bước lên cầu thang, tôi vội bật dậy lên theo. Đồng hồ nhà nguyện chỉ 2 giờ. Tôi hơi bỡ ngỡ. Thì ra, ngày nào Đức cha cũng lên nhà nguyện vào giờ đó. Tôi hiểu ra sức sống nội tâm của Đức cha và hiểu được bí quyết làm cho Đức cha vừa mềm dẻo lại luôn cương quyết giữa bối cảnh xã hội đầy biến động lúc đó”.
    Trong thời kỳ giám mục của ngài, các linh mục thiếu hụt trầm trọng. Hầu hết các xứ, họ vắng bóng các linh mục, giáo dân phải tự sống đức tin của mình. Để nâng đỡ họ, Đức cha Phaolô đã tìm mọi cách để Bí tích Thánh Thể đến với đoàn chiên. Ngài lựa chọn các ông trùm, ông quản, những người đạo đức, trao thừa tác vụ ngoại lệ để họ kiệu Mình Thánh về cho giáo dân chầu buổi tối; buổi sáng có cử hành Lời Chúa và Hiệp lễ, rồi trao Mình Thánh Chúa cho kẻ liệt. Ngài mời gọi những ai không hiệp lễ được thì hợp lòng rước lễ thiêng liêng. Nhờ vậy giáo dân vẫn giữ vững được đức tin.
    Ngay khi về nhận giáo phận, ngài đã tận tâm xốc lại phong trào Hội Thánh Thể nơi các giáo xứ, ban nhiều đặc ân cho những ai vào Hội Thánh Thể, cổ võ việc chầu Mình Thánh, đặc biệt trong ngày chầu lượt của các giáo xứ.
    Ai dự lễ Đức cha dâng đều nhận thấy rằng, ngài say mê Thánh Thể. Trước và sau thánh lễ ngài quỳ cầu nguyện thật lâu giờ.
    Như vậy, ngài không chỉ đặt Bí tích Thánh Thể vào trung tâm đời sống mục tử của mình, mà còn muốn mọi thành phần dân Chúa kín múc đựợc nguồn mạch đức tin nơi đây để sống đạo giữa hoàn cảnh lịch sử đầy biến động và nguy nan.

    3. Con người từ tốn và khôn ngoan
    Một linh mục kể: “Đức cha Phaolô Bùi Chu Tạo, con người hom hem ốm yếu, cân nặng chừng 40 ký. Con người như thế, lẽ ra theo nhận xét loài người, với sức đè nặng của nhiệm vụ Giám quản, giám mục trong suốt thời loạn ly bi đát (1954-1960), đã phải kiệt sức và mất sớm. Tuy nhiên chương trình của Thiên Chúa thì khác hẳn: hơn 40 năm trong chức vụ chủ chăn, ngài đã cầm cự với thời gian, với thời cuộc, luôn luôn phấn đấu kiên cường, trí khôn vẫn minh mẫn sáng suốt, và tuy sức khỏe đã giảm nhiều, nhưng ngài vẫn minh chứng phong độ khí khái, dẻo dai! Con người thầm lặng, ít nói, nhưng nếu nói ra thì câu nào cũng như đinh đóng cột, và thế đứng của ngài lúc nào cũng bình chân như vại!”
    Dù gặp hoàn cảnh nào ngài cũng luôn bình tĩnh, từ tốn và khôn ngoan. Cũng một linh mục Phát Diệm kể lại: Một hôm, sau khi dâng lễ ngoài nhà thờ lớn, ngài trở về Nhà Chung theo lối Núi Sọ. Có một anh công an y phục chỉnh tề đứng bên cạnh đường lên giọng hỏi ngài: Ông đi đâu? Ngài vẫn bình thản, thinh lặng bước đi. Anh ta đi theo, tới cổng vào nhà, anh ta lại hỏi lớn hơn: Ông đi đâu? Trước khi khép cổng, ngài dừng lại một chút và nhỏ nhẹ trả lời: “Nhà tôi đây”, rồi tiếp tục về phòng không chút bực bội hay khiển trách. Sau khi thay lễ phục, ngài chỉ nói như để bào chữa cho người công an: “Hình như anh này mới đến đây.”
    Đối diện với biết bao khó khăn, bị hạn chế đi lại, bị những lời la mắng của chính những giáo dân mà ngài yêu thương, bị những người một thời được ngài coi là thân thuộc quay lưng lại, ngài vẫn một thái độ điềm đạm, bao dung. Bởi ngài biết họ chỉ làm theo yêu cầu nào đó. Quả thực, lời Chúa Giêsu đã thấm nhuần nơi ngài: “Sự thật sẽ giải thoát anh em”“Ngài đã yêu thương họ đến cùng”.
    Hoàn cảnh khó khăn đã cầm chân ngài tại Tòa giám mục. Không thể đến với giáo dân, ngài viết thư luân lưu giáo huấn hàng giáo sĩ và giáo dân bằng những lời tâm huyết được kín múc từ nguồn mạch khôn ngoan là Lời Chúa và Thánh Thể. Từ năm 1959 đến năm 1988, ngài viết khá nhiều thư về các đề tài, vào các dịp khác nhau, nhằm nâng đỡ đức tin và hướng dẫn đoàn chiên sống đức tin trong hoàn cảnh mới.
    Có thể nói, Đức cha hiếm khi lớn tiếng. Ngài luôn nhỏ nhẹ, nhưng giọng nói âm trầm, rành rọt và khúc chiết, thâm thúy pha chút hóm hỉnh. Dáng người nhỏ nhắn, yếu ớt mà sự ung dung tự tại đến vĩ đại vẫn luôn toát lộ ra ngoài; ánh mắt luôn nhân hậu, hiền lành không sắc sảo mà vẫn đọc được tâm can người đối diện, dù là người thiện hay tà tâm.
    4. Con người đơn sơ, thân thiện và tận tình với đoàn chiên
    Đức cha sống đơn sơ, đạm bạc: từ tiện nghi trong phòng tới ăn mặc. Căn phòng của ngài chỉ là chiếc giường chiếu đơn sơ với bộ bàn ghế mộc mạc. Bữa ăn thường ngày là rau mắm đạm bạc. Ngài tự giặt giũ quần áo cho mình và tự tay thu dọn phòng riêng. Cố linh mục Luca Trần Hùng Sỹ kể lại: “Có lần về Phát Diệm thăm hai Đức cha, tôi bắt gặp cả hai vị đang tự mình ngồi giặt quần áo, và quét phòng riêng của mình!” Ngài chẳng tích trữ gì riêng cho mình, sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ những người túng thiếu, bệnh tật. Quả thật gương sống thanh bần của ngài đã ảnh hưởng tới nhiều tâm hồn.
    Cuộc đời của ngài hoàn toàn xả thân cho giáo dân, liên tục sống đời trong suốt, chiếu dọi một nếp sống thánh thiện. Đối với chính quyền địa phương, ngài đối xử lịch thiệp, biết lui biết tới, mặc dù vẫn kiên trì trong phong độ cương nghị. Điều mà ai ai cũng cảm phục và nhận thấy nơi Đức cha là lòng bác ái, bao giờ cũng sẵn sàng tham gia với chính quyền chống nạn đói, chống bão lụt và mưu tìm lợi ích cho dân chúng.
    Ngài thật là Kitô thứ hai, thành mẫu gương sáng cho mọi thế hệ. Chính vì thế, trong dịp mừng Ngọc khánh linh mục của ngài, người ta đã không ngại tặng ngài danh hiệu: “Mục tử hiền lành, chủ chăn can đảm”. Thật xứng đáng thay!
    GP Phát Diệm
    thay đổi nội dung bởi: Damsan, 18-12-2009 lúc 09:16 PM
    Chữ ký của Damsan
    Nàng đẹp quá, bạn tình ơi, đẹp quá !
    Đôi mắt nàng là một cặp bồ câu.

    (Dc 1,15 )

  63. Có 6 người cám ơn Damsan vì bài này:


  64. #34
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,695 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Đức Ông Gioan Maria
    Trần Văn Hiến Minh
    (1918–2003)
    Nhà đào tạo mẫu mực và tông đồ nhiệt thành rao giảng Tin Mừng



    19/6/1918 : Sinh tại Sa Châu, Bùi Chu
    1932-1938 : Tiểu Chủng viện Ninh Cường, Bùi Chu
    1938-1946 : Du học Rôma
    19/3/1944 : Thụ phong linh mục tại Rôma
    1945-1946 : Tiến sĩ triết học và tiến sĩ thần học tại Rôma
    1946-1950 : Cử nhân xã hội học tại Paris
    Tuyên uý Liên đoàn Công giáo Việt Nam tại Pháp, lập giáo xứ Việt Nam tại Paris
    1950-1960 : Giáo sư, giám đốc Đại Chủng viện thánh Tôma, Bùi Chu
    1957-1999 : Linh mục Đại diện Bùi Chu tại miền Nam
    1960-1967 : Giáo sư triết học tại Đại Chủng viện thánh Giuse, Sài Gòn
    1960-1975 : Bề trên 2 trường trung học Nguyễn Bá Tòng, Sài Gòn và Gia Định
    Giáo sư triết học các trường: Nguyễn Bá Tòng, Trần Hưng Đạo, Chu Văn An, Trưng Vương và Trường Sơn
    Giáo sư Tiểu Chủng viện thánh Phanxicô, Bùi Chu; thánh Giuse, Sài Gòn
    Giám đốc nhà in Nguyễn Bá Tòng
    1963-1975 : Đại diện Đức Tổng Giám mục Sài Gòn tại Hội đồng Liên tôn
    Giáo sư Đại học Văn Khoa, Sài Gòn
    1967-1978 : Tuyên uý phong trào Pax Romana
    Giáo sư triết học và thần học tại Đại Chủng viện thánh Giuse Sài Gòn, Giáo Hoàng Học viện Piô X, Đà Lạt
    1971-1977 : Thư ký thường trực HĐGMVN, giám đốc Trung tâm Công giáo
    1979-1999 : Thành viên các Uỷ ban nghiên cứu thần học và Uỷ ban Phụng tự của HĐGMVN
    1978 : Thành lập Đại chủng viện Đức Ái
    1979 : Thành lập Tu hội Gia Đình Mẹ Maria Thăm Viếng
    1993 : Toà Thánh ban tặng tước Đức Ông nhân dịp kim khánh linh mục
    1993-1998 : Đại diện Đức Giám quản Tổng giáo phận TP.HCM, đặc trách các dòng tu
    1999 : Nghỉ hưu
    21/10/2003 : Từ trần tại trụ sở Bùi Chu, 1B Tôn Thất Tùng, TP.HCM.
    1. Nhà đào tạo và tông đồ rao giảng Tin Mừng qua việc giảng dạy
    Năm 1950, sau 13 năm du học tại Rôma và Paris, cha Gioan Maria Trần Văn Hiến Minh trở về quê hương và phục vụ tại giáo phận Mẹ Bùi Chu. Ngài được Đức cha Phêrô Phạm Ngọc Chi bổ nhiệm làm giáo sư, phó giám đốc rồi giám đốc Đại Chủng viện thánh Tôma, Bùi Chu (1950-1960), thường trực Liên Chủng viện Bắc Việt. Dù trong cương vị nào, cha Gioan cũng hết mình thực thi sứ vụ và trách nhiệm mà bề trên trao phó, với lòng nhiệt thành và quảng đại. Ngài hăng say nghiên cứu giảng dạy và cố gắng truyền đạt những kiến thức cũng như kinh nghiệm cho các môn sinh, nhất là các lãnh vực chuyên môn về triết học và thần học; đồng thời giữ vai trò liên kết giữa ban giáo sư trong các chủng viện.
    Ngài cũng là người đầu tiên khởi xướng việc giảng dạy các môn học thánh ở Đại Chủng viện bằng Việt ngữ. Bước đầu gặp phải rất nhiều gai góc và khó khăn từ nhiều phía, nhưng sau khi được Đức Khâm Sứ Toà Thánh tại Việt Nam, John Dooley, Tổng Giám mục hiệu toà Macra chấp thuận và khích lệ, công việc được thực hiện một cách dễ dàng hơn, mở đầu cho một nền thần học Việt Nam phát triển theo chiều hướng mới mang tính hội nhập. Các tác phẩm, các bộ từ điển, từ vựng, các giáo trình triết học, thần học lần lượt được xuất bản. Riêng bộ giáo khoa triết học vẫn còn được dùng để giảng dạy trong các chủng viện cho đến ngày nay. Hiểu như thế chúng ta không lạ gì khi thấy ngài luôn là thành viên của Uỷ ban Phụng tự và Uỷ ban Thần học của HĐGMVN cho đến những năm cuối đời.
    Cha Gioan coi chủng viện như một gia đình mà Chúa trao phó cho ngài chăm lo đào tạo. Ngài luôn gắn bó và dành tình cảm yêu thương như một người cha đối với các chủng sinh. Vì thế, chủng viện di dời đi đâu thì ngài đi đó, từ Quần Phương lên Hà Nội rồi vào Sài Gòn trong biến cố năm 1954.
    Năm 1960, khi Toà Thánh thiết lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam, các chủng viện di cư của các giáo phận miền Bắc phải nhập vào các chủng viện địa phương, cha Gioan được Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Bình đặt làm bề trên trường trung học Nguyễn Bá Tòng (1960-1975), đồng thời với việc dạy học trong các chủng viện và đại học. Trong môi trường giáo dục rộng mở hơn, cha Gioan càng tỏ ra nhiệt tình với sứ vụ giảng dạy, nhất là truyền thụ nền giáo dục Kitô cho các thế hệ học trò. Dù trong môi trường tu viện, chủng viện hay trường học, công lập, tư thục và đại học, ngài đều tỏ ra là một nhà đào tạo tài năng và đức độ, luôn nhiệt thành với sứ vụ truyền bá đức tin và văn hoá.
    Ngoài việc giảng dạy nơi trường lớp, cha Gioan còn chú tâm rao giảng bằng ngòi bút. Cha là giám đốc nhà in Nguyễn Bá Tòng. Cha viết bài cho báo Đường Sống, báo Sacerdos, báo Xây Dựng. Cha cùng một số đồng nghiệp soạn và xuất bản bộ Giáo lý Trung học cũng như những tập sách Tín lý toát yếu cho giới sinh viên và cho các thành viên Pax Romana mà cha đảm nhận vai trò tuyên úy. Cha cũng giúp soạn thảo hiến pháp cũng như các tài liệu đào tạo cho nhiều dòng tu và tu hội. Quả thực cha Gioan say sưa với công việc đào tạo và dường như ngài chỉ muốn chu toàn công việc này mà thôi.
    Sau biến cố 30/4/1975, các trường học đều thuộc quyền quản lý của Nhà nước. Vì thế các linh mục, tu sĩ phải rời khỏi bục giảng. Trong hoàn cảnh mới này, cha được tình yêu Chúa Giêsu thôi thúc phải “rao giảng lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện” (2 Tm 4,2). Vì thế, cha đã thích nghi và bắt đầu ngay vào giai đoạn nghiên cứu, giảng dạy và đào tạo trong âm thầm (1975-2003). Cha mở các lớp giáo lý tân tòng dành cho người lớn tuổi từng lớp hai hay ba người và rửa tội cho họ. Cha tự nhủ: “Trước đây Chúa sai đi thả lưới bắt cá, lúc này Chúa sai đi thả câu bắt từng con!” Giai đoạn này, với phép của các đấng bề trên, cha Gioan âm thầm khai sinh ra Đại Chủng viện Đức Ái và Tu hội Gia Đình Mẹ Maria Thăm Viếng.
    Linh mục Albertô Trần Phúc Nhân, giáo sư Kinh Thánh, đã nói: “Tôi xin nói lên lòng khâm phục một giáo sư học giả vào hàng tiên phong trong môn triết học và thần học bằng tiếng Việt. Ngay từ 50 năm trước đây, Đức Ông đã soạn những cuốn tự điển và những bộ sách giáo khoa tiếng Việt về những môn này, không những giúp ích cho các học viên thời đó, mà còn mở đường cho những tác phẩm của các tác giả đi sau. Một điểm khác cũng cần nêu ra, là vai trò của Đức Ông trong việc đào tạo linh mục trong các Đại Chủng viện trước năm 1975. Sau năm 1975, vai trò này lại càng quan trọng hơn, nhất là đối với giáo hội miền Bắc. Có thể nói nhiều giáo phận tại Việt Nam, nhất là giáo phận Bùi Chu, ngày nay vẫn còn đang gặt hái những thành quả do công lao vất vả của Đức Ông sau năm 1975”.
    2. Nhà đào tạo và tông đồ rao giảng Tin Mừng bằng chính cuộc sống
    Trước hết, với tư cách là linh mục, cha Gioan luôn luôn ngay thẳng trung thành với nguyên tắc đời tu, rất chừng mực trong nếp sống đời thường và đầy lòng yêu mến. Ấn tượng ban đầu đối với các học trò là sự đúng giờ, luôn tươi vui và khả ái. Cha Gioan luôn kính trọng và vâng phục các đấng bề trên. Trong giao tiếp và các mối quan hệ, cha rất nhã nhặn, chín chắn và đĩnh đạc; trong các phát biểu, ngài chừng mực và luôn lắng nghe; trong đời sống, ngài đơn sơ khó nghèo, luôn kỷ luật và nề nếp.
    Điểm nổi bật nữa là lòng khiêm tốn hiền hậu. Người ta thấy nơi cha Gioan “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Cha Gioan có “chữ tâm” của nhà giáo dục Kitô, đó là sự hiền lành và khiêm nhường theo Chúa Giêsu. Cha thật khiêm nhường đơn sơ và hồn nhiên. Thầy Giuse Phạm Trọng Hoá học trò của cha Gioan ở Đại Chủng viện thánh Tôma kể: “Có ai nhắc đến bằng Tiến sĩ, thì cha nói: ‘Bằng Tiến sĩ là chứng chỉ sự dốt nát của mình’ rồi cha giải thích: ‘Cũng như có lên núi cao, mới thấy trời rộng, thì khi đạt được bằng Tiến sĩ, sẽ thấy biển học mênh mông’”. Sự khiêm tốn của cha Gioan còn rõ nét trên bục giảng: với giọng nói bình dị, phân tích đề tài có gốc có ngọn, rõ ràng, mạch lạc, đầy tính sư phạm. Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra điều này trong các trước tác của ngài. Linh mục Phêrô Đặng Xuân Thành, giáo sư Thần học Luân lý, đã chia sẻ: “Tôi đã học nơi ngài cách thi hành thiên chức sư phạm một cách hết sức căn bản, đó là không khoe chữ hay lòe kiến thức”.
    Cha Gioan ít nói về bản thân và cũng không muốn ai đề cao ngài. Trong những dịp mừng bổn mạng, mừng ngân khánh, mừng thọ, cha không muốn được người ta ca tụng. Dịp mừng kim khánh linh mục, năm 1994, các linh mục vui mừng nghe đài Vatican loan tin Toà Thánh ban tặng tước hiệu Đức Ông cho cha, nhưng thấy cha vẫn làm thinh, tưởng cha không biết. Khi đến chúc mừng, cha đưa cho xem văn thư của Toà Thánh do Đức Ông Vinh Sơn Trần Ngọc Thụ gửi về và nói: “Tước hiệu là chuyện đời. Vả lại nhiều linh mục còn làm những việc lớn lao hơn mình nhiều”.
    Hình ảnh cha Gioan lưu lại nơi người gặp gỡ cha là cặp mắt hiền từ và nụ cười hồn nhiên. Cha hiền hậu không nặng lời với ai, nhưng hơn hết là sự thánh thiện và lòng yêu mến Giáo Hội cùng với trái tim rộng mở, bao dung, nhân ái, sự tận tuỵ và lòng nhiệt thành với sứ vụ rao giảng Tin Mừng.
    Cha Gioan rao giảng Tin Mừng bằng tình thương yêu, nhất là tình cảm trìu mến dành cho các ơn gọi linh mục và các ơn gọi sống đời thánh hiến. Cha Gioan luôn tỏ ra quý trọng các linh mục và sẵn sàng chia sẻ gánh nặng mục vụ với anh em linh mục. Trong cương vị đại diện Bùi Chu tại miền Nam, cha hết lòng quý mến các cha gốc giáo phận Mẹ Bùi Chu, lo cổ võ sự hiệp nhất, chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau, luôn hướng về quê nhà yêu dấu. Cha nhận đây như một bổn phận và trách nhiệm. Cha tìm đến thăm hỏi giúp đỡ an ủi các linh mục đau yếu, lo xây dựng, duy trì và mở rộng trụ sở Bùi Chu, nhà hưu dưỡng linh mục.
    Kể về những kỷ niệm với cha Gioan, các môn sinh của cha kể rất nhiều. Nhưng kỷ niệm gây ấn tượng nhất với họ là tấm lòng rộng mở, bao dung và đầy tình thương yêu, được thể hiện qua thái độ lắng nghe và trao đổi. Tuỳ hoàn cảnh của mỗi người, khi thì cha an ủi, khích lệ; khi thì sửa chữa những sai lầm, khiếm khuyết; khi thì cha giúp đỡ tinh thần và cả vật chất nữa; cả những người vì một lý do nào đó phải nhận sự kỷ luật cũng rất cảm phục tấm lòng yêu thương rộng mở của cha.
    3. Nhà đào tạo và tông đồ rao giảng Tin Mừng bằng những sáng kiến cấp thời
    Cuối niên học 1977-1978, Nhà nước buộc Đại Chủng viện Sài Gòn phải đăng ký lại ban giáo sư và các chủng sinh phải hội đủ các tiêu chuẩn của Nhà nước. Số đại chủng sinh chừng 230, nhưng chỉ khoảng 50 thầy đủ điều kiện, còn gần 200 thầy bị loại. Họ bơ vơ tan tác. Trước hoàn cảnh bi đát đó, là nhà đào tạo, cha Gioan cảm thấy vô cùng xót xa và “chạnh lòng thương”. Cha xin phép Đức Tổng Giám mục Sài Gòn cho phép thành lập Đại Chủng viện ngoại trú và đã được Đức Tổng phê chuẩn với sự khích lệ và nhiệt tình giúp đỡ. Vì thế, Đại Chủng viện Đức Ái được hình thành và phát triển.
    Với thời gian, Đại Chủng viện Đức Ái đón tiếp thêm nhiều ơn gọi mới trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, nhất là các thầy từ giáo phận Mẹ Bùi Chu, được Đức cha Giuse Vũ Duy Nhất gửi vào. Năm học 1992-1993, tổng số chủng sinh của Đại Chủng viện Đức Ái lên tới 130 thầy thuộc nhiều miền của đất nước, nhất là từ Bùi Chu. Về mặt tu đức, Đại Chủng viện Đức Ái được tổ chức như một Tu hội đời. Cha Gioan đã mời các linh mục, giáo sư và các nhà đào tạo cộng tác giảng dạy và huấn luyện các ứng sinh cho chức linh mục. Các nhà đào tạo và giáo sư Đại Chủng viện Đức Ái lúc bấy giờ hơn kém 30 vị, gồm có nhiều tiến sĩ, cao học, cử nhân chuyên ngành đã tốt nghiệp ở nước ngoài và các giáo sư đã từng dạy trong các Đại Chủng viện và Đại học trước 1975. Nhờ sự thánh thiện, đức độ và uyên bác, nhất là tấm lòng của người mục tử nhìn thấy tương lai của Giáo Hội tuỳ thuộc rất nhiều nơi chủng viện, nên các giáo sư không ngần ngại nhận lời giúp Đại Chủng viện Đức Ái. Đây cũng là dịp tốt để giáo phận Bùi Chu nói lời tri ân đến tất cả các cộng sự viên của Đức Ông Gioan trong việc đào tạo, giúp đỡ và vun trồng các ơn gọi, mà hôm nay họ đang hiện diện khắp nơi để tiếp nối công việc rao giảng và làm chứng cho Tin Mừng.
    Có lần một nhóm linh mục Đại Chủng viện thánh Tôma về mừng quan thầy cha Gioan, lúc đó cha đã ngã bệnh, nhưng cha rất vui mừng và nhắc tên từng người. Cha tâm sự về Đại Chủng viện Đức Ái: “Vẫn biết rằng Đại Chủng viện nội trú là phương thế huấn luyện tối ưu của Giáo Hội. Nhưng vì hoàn cảnh không thể mở được, nên chỉ biết làm hết sức, phần còn lại Chúa sẽ lo. Bây giờ chỉ xin dâng những đau khổ bệnh tật để xin Chúa thánh hiến họ”.
    Cùng với các thế hệ học trò ở khắp nơi ảnh hưởng một “truyền thống Gioan”, cách riêng với hơn 100 linh mục xuất thân từ Đại Chủng viện Đức Ái, là những hoa trái mà Chúa gửi đến cho Giáo Hội qua cha Gioan, một nhà đào tạo mẫu mực, đầy lòng yêu mến, suốt đời hy sinh phục vụ và hăng say rao giảng Tin Mừng trong các môi trường đào tạo, như khẩu hiệu cha chọn vào đầu đời linh mục: “Chúa Giêsu Kitô đã thí mạng vì chúng ta, như vậy cả chúng ta nữa, chúng ta cũng thí mạng sống vì anh em” (1 Ga 3,16).
    Ngài đã an bình lên đường về Nhà Cha ngày 21/10/2003, hưởng thọ 84 tuổi, với 59 năm linh mục và gần ngần ấy năm phục vụ Giáo Hội qua thiên chức sư phạm đào tạo. Sự ra đi của Đức Ông Gioan để lại bao niềm thương nhớ đến các thế hệ học trò ở mọi môi trường giáo dục: công, tư, trung học, đại học, chủng viện, dòng tu...
    Nhân Năm Linh Mục, mẫu gương của Đức Ông Gioan góp phần làm sáng lên hình ảnh người linh mục của Chúa Kitô và cũng là niềm tự hào của toàn thể Giáo Hội. Những lời của Đức Hồng y Claudio Hummes, Bộ trưởng Bộ Giáo Sĩ, trong lá thư nhân Năm Linh Mục, thật thích hợp để nói về Đức Ông Gioan Maria Trần Văn Hiến Minh:
    “Giáo Hội tự hào về các linh mục của mình biết bao, Giáo Hội yêu mến họ, trọng kính họ, thán phục họ và nhìn nhận với lòng biết ơn công việc mục vụ và chứng tá đời sống của họ dường nào. Đúng vậy, các linh mục thật quan trọng không chỉ vì những gì họ làm, nhưng còn vì những gì họ là nữa”
    .


    GP Bùi Chu
    thay đổi nội dung bởi: Damsan, 18-12-2009 lúc 09:20 PM
    Chữ ký của Damsan
    Nàng đẹp quá, bạn tình ơi, đẹp quá !
    Đôi mắt nàng là một cặp bồ câu.

    (Dc 1,15 )

  65. Có 5 người cám ơn Damsan vì bài này:


  66. #35
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,695 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha Gioan Baotixita TRẦN VĂN CỪ
    (1927–1998)
    Sơ lược tiểu sử:
    Sinh ngày 01-02-1927 tại làng Công Xá, Tỉnh Hà Nam
    con ông Augustinô Trần Văn Hận và bà Maria Trần Thị Biết,
    Rửa tội ngày 03-02-1927 tại nhà thờ Công Xá, giáo phận Hà Nội,
    Thêm sức năm 1935 tại nhà thờ Công Xá.
    Vào Trường Tập, rồi Tiểu chủng viện Hoàng Nguyên ngày 01-09-1939
    Có văn bằng CEPCI năm 1942
    Vào Đại chủng viện Saint-Sulpice Hà Nội ngày 16-08-1950
    Thụ phong linh mục tại nhà thờ Ngã Sáu Chợ Lớn ngày 01-05-1958
    do Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Bình
    Là linh mục gốc giáo phận Hà Nội, gia nhập giáo phận Saigon từ ngày 15-05-1958
    Những nơi đã phục vụ:
    1958: 3 tháng rưỡi tại Lái Thiêu, 2 tháng tại Tam Hà Thủ Đức
    1958–1959: Phó xứ Phúc Hải, Biên Hoà
    1959–1960: Phó xứ Hoà Khánh, Đức Hoà
    1960–1962: Phó xứ Hoà Hưng (Phó xứ đầu tiên của Hoà Hưng)
    1962–1970: Phó xứ Bắc Hà
    1970–1974: Nghỉ bệnh tại Nhà Hưu Hà Nội, Ngã Sáu
    3/1974–1998: Chính xứ Tân Phú Hoà
    Qua đời ngày 09-05-1998 tại nhà thờ Tân Phú Hoà, hưởng thọ 71 tuổi với 40 năm linh mục.

    Công trình văn hoá:
    - Phụ trách báo Mẹ Hiền của Các Bà Mẹ ngay từ đầu, khi làm Phó xứ Bắc Hà (báo Mẹ Hiền nay đã tục bản).
    - Những tác phẩm đạo đức: soạn Sách Giáo Lý cho trẻ em, nhất là biên soạn 13 tập Giờ Thánh.

    Công trình xây dựng:
    - Sửa sang khuôn viên Nhà thờ, vì là vùng thấp, hay bị lũ lụt.
    - Đại tu Nhà thờ Tân Phú Hoà năm 1996: nâng nền, tôn tạo cung thánh và xây nhà xứ mới (đơn sơ).
    Công trình đạo dức:
    - Từng làm Phó Giám đốc Liên Minh Thánh Tâm, Tuyên Uý Hội Các Bà Mẹ ở Bắc Hà
    - Chăm lo đời sống thiêng liêng, khuyến khích ơn kêu gọi, có nhiều con cái thiêng liêng nam cũng như nữ.

    Đức tính:
    - Sống thanh khiết: luôn luôn giữ gìn từ lời nói đến tiếp xúc: nói chuyện với nữ giới, ngài hay ngước mắt lên trời!
    - Tinh thần vâng phục: luôn vâng phục bề trên, phục vụ các nơi khác nhau: hai giáo xứ địa phương như Lái Thiêu, Hoà Hưng, cũng như các giáo xứ khác, đang nghỉ bệnh cũng vâng lời đi nhận xứ Tân Phú Hoà.
    - Sống khó nghèo: sống rất bình dị, không có gì sang trọng cho mình, tự mình lo cho mình: không bà bếp, không người giúp việc, sống trong nhà xứ lụp xụp, trần thấp (vì đôn nền mấy lần) suốt 22 năm từ 1974-1996, không bao giờ phàn nàn về cảnh sống của mình, sống nghèo cho mình, nhưng chăm lo cho Nhà Chúa khang trang và đóng góp nhiều cho việc chung của giáo phận.

    Đặc điểm:
    - Hy sinh chịu đựng: ngài là một vị linh mục chịu đau khổ nhiều không phải vì anh em giáo dân, mà do chính quyền địa phương: Phường 19 Quận Tân Bình, nơi có nhà thờ Tân Phú Hoà (nay là Phường Phú Trung Q,Tân Phú), là Phường gây khó khăn nhất cho hoạt động tôn giáo, vì nơi có nhiều dân nằm vùng, hay soi mói cha sở và nhà thờ: không cho ai phụ giúp ngài: ngài phải tự kéo chuông, dọn bàn thờ, đọc sách thánh phải đăng ký người, không có người làm bếp: ăn cơm theo chế độ “cà-mèn”: người đưa cơm tới nhà xứ thỉnh thoảng bị công an khu vực mở nắp ra coi xem những món gì. Sinh hoạt tôn giáo bị hạn chế, các đoàn thể bị theo dõi. Tình trạng khó khăn này kéo dài mãi đến thập niên 90 mới chấm dứt! Hy sinh chịu đựng vì môi trường: giáo xứ Tân Phú Hoà nằm ngay bên cạnh Nghĩa địa Phú Thọ Hoà: bình thường đã ô nhiễm, khi giải toả lại trở thành những lò hoả thiêu lộ thiên càng thêm ô nhiễm, hơn nữa lại còn ô nhiễm vì nước thải độc hại do thuốc nhuộm và các phế liệu… Ngài không kêu ca, mà còn dí dỏm gọi Tân Phú Hoà là “tàn phù hoa”!
    - Có lòng chung: chăm lo việc Nhà Chúa và đóng góp chung. giáo xứ Tân Phú Hoà gồm đa phần dân lao động nghèo (về sau lại thêm di dân), thế mà ngài vận động giáo dân đóng góp vào hàng nhất của hạt Phú Thọ (theo tỷ lệ), điển hình như việc đóng góp xây dựng Văn Phòng Toà TGM, Tân Phú Hoà xếp thứ hai, chỉ sau giáo xứ Phát Diệm Phú Nhuận. Hàng tháng vẫn gửi tiền lễ tốt cho các già hưu, nhất là cho Nhà Hưu Hà Nội Ngã Sáu.
    - Sống tế nhị: ra ngoài luôn vui vẻ với mọi người, luôn lắng nghe giáo dân, không ngắt lời (dù người đối thoại có nói dai), giữ thể diện người khác, không la mắng ai, không dùng toà giảng để chỉ trích ai, không tiết lộ chuyện người này cho người khác. Vì ngài nhân đức, nên đã giúp cho nhiều cuộc hoà giải thành công, không có chuyện thắng thua.
    - Thương người: sau 1975 âm thầm giúp đỡ cho các gia đình nghèo, người nghèo xin lễ: ngài thường cho lại, đặc biệt lễ cưới và lễ an táng: không nhận tiền lễ. Nhà thờ không có hòm khấn, không có giỏ tiền chuyền tay trong giờ lễ. Ngài chỉ đặt 6 hộp tiền chung quanh tường Nhà thờ, để giáo dân ý thức tự động bỏ tiền vào đó. Thế mà vẫn đủ chi dụng mà còn dư để giúp nơi khác.
    - Nói chung, cha Trần Văn Cừ đạo đức, hiền lành và khiêm nhường, được mọi người mến thương: từ các đấng bề trên đến anh em linh mục và giáo dân. Có thể nói ngài là một trong những linh mục gương mẫu của Tổng Giáo Phận Saigon.

    TGP TPHCM
    Chữ ký của Damsan
    Nàng đẹp quá, bạn tình ơi, đẹp quá !
    Đôi mắt nàng là một cặp bồ câu.

    (Dc 1,15 )

  67. Có 4 người cám ơn Damsan vì bài này:


  68. #36
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,695 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha Matthêu PHẠM HẢO KỲ
    (1912–1994)
    Nhà tu đức chuyên nghiệp


    Lời vị chủ chăn giáo phận
    Chiều 31-5-1982, trong giờ tôn vinh Đức Mẹ tại giáo xứ Ninh Phát, trước khi ban phép lành kết thúc, Đức cha Đaminh Nguyễn Văn Lãng, Giám mục Chính toà giáo phận Xuân Lộc đã nói: ‘‘Ngày nay, kiếm một linh mục đã khó. Thế nhưng, kiếm một linh mục đạo đức, thánh thiện trổi vượt mà lại khiêm tốn như cha cố Mátthêu Phạm Hảo Kỳ lại còn khó hơn gấp bội”.
    Thật vậy, “hữu xạ tự nhiên hương”, những ai đã từng tiếp xúc và sống với cha cố Mátthêu chắc chắn đã cảm nhận được ảnh hưởng về đời sống thiêng liêng cũng như hương thơm nhân đức nơi ngài toả ra như thế nào.
    Hành trình đời sống trần thế
    Mùa Thu năm 1912, cậu Mátthêu Phạm Hảo Kỳ đã cất tiếng khóc chào đời đúng vào ngày 21-9 tức ngày lễ kính thánh Matthêu tông đồ thánh sử. Được sinh ra và lớn lên trong một gia đình nề nếp đạo hạnh, với tư chất thông minh sẵn có và lòng đạo đức trổi vượt so với các bạn cùng trang lứa, cậu đã hiến dâng đời mình cho Chúa và được diễm phúc lãnh nhận thánh chức linh mục ngày 12-8-1944 tại Phát Diệm.
    Khởi đầu sứ vụ linh mục, cha Matthêu được bề trên bổ nhiệm làm cha phó xứ Bình Sa - Ninh Bình từ 1944–1945. Năm Ất Dậu 1945 là kí ức kinh hoàng đối với dân tộc Việt Nam với khoảng 2 triệu người chết đói tại miền Bắc. Chính trong thời điểm này, bằng những việc bác ái rất mực cao độ kết hợp với đời sống đạo đức gương mẫu vốn đã có nền tảng từ những năm tháng ở chủng viện, cha đã chứng tỏ cho mọi người thấy cha đúng là vị mục tử như lòng Chúa mong ước. Nhận thấy chiều sâu tâm hồn của cha xứng đáng là mẫu gương cho các linh mục tương lai noi theo, trong suốt 30 năm, từ 1945–1975, Bề trên đã tín nhiệm đặt cha làm cha linh hướng kiêm giáo sư tại các chủng viện: Tiểu chủng viện Phúc Nhạc; Tiểu chủng viện Phát Diệm Phú Nhuận, Tiểu chủng viện và Đại chủng viện thánh Giuse Sài Gòn. Trong nhiều năm trước 1975, cha đã cộng tác với cha Bề trên Gioan Baotixita Trần Ngũ Nhạc để hướng dẫn hai tu hội: “Tu hội Chúa Giêsu” và “Tu hội Mẹ Maria” nay đổi tên là “Tu hội Nô tỳ Thiên Chúa”.
    Sau biến cố 1975, vì lý do thời cuộc, cha được Bề trên bổ nhiệm làm chánh xứ Ninh Phát từ 1975–1994; đồng thời kiêm nhiệm chức Quản hạt Gia Kiệm từ 1976–1994 và Bề trên đồng sáng lập Tu hội Nô Tỳ Thiên Chúa từ 1983–1994 (cha GB. Trần Ngũ Nhạc qua đời ngày 04-09-1983).
    Là một người rất sùng kính Đức Trinh Mẫu Rất Thánh Diễm phúc Maria, cha đã hướng dẫn rất nhiều tu sĩ và giáo dân hiểu biết về Mẹ. Cha tổ chức nhiều cuộc trình diễn với những lời dẫn, hình ảnh và hoạt cảnh để người tín hữu hiểu sâu xa hơn về cuộc đời của Chúa Cứu Thế và Đức Trinh Nữ Maria một cách sống động, cụ thể hơn, qua đó dễ thực hành theo gương Chúa và Đức Mẹ. Đặc biệt, cha tổ chức nhiều khoá huấn luyện về đời sống tận hiến, giúp người tín hữu biết chạy đến với Đức Mẹ, cậy trông, phó thác nơi Đức Mẹ, và qua Mẹ để đến với Chúa Ba Ngôi.
    Đầu năm 1994, cha lâm trọng bệnh và sức khỏe ngày càng suy giảm nghiêm trọng. Với lòng yêu mến Mẹ đặc biệt, Cha luôn cầu khẩn Đức Mẹ cho cha đựơc chết vào một ngày lễ nào đó của Mẹ. Và thật cảm động thay, như một dấu chỉ ưu ái mà Đức Mẹ ân ban cho cha, đúng vào lúc 11 giờ ngày 31-5-1994, ngày lễ Đức Mẹ đi thăm viếng bà thánh Isave, giữa lúc lời Kinh Truyền Tin đang được cất lên trên môi miệng của những người vây quanh giường cha thì cũng chính là lúc Đức Mẹ đến viếng thăm và đón cha về nhà Cha trên Trời.
    Linh đạo cha cố Matthêu
    Là một nhà tu đức chuyên nghiệp và sâu sắc, cha cố Matthêu đã trình bày cách rất bình dân dễ hiểu một KITÔ GIÁO HIỂU VÀ SỐNG, cũng gọi là ĐẠO CHÍNH TRUYỀN CẢI MẾN YÊU. Gọi là Đạo Chính Truyền vì là đạo do chính Chúa Kitô truyền dạy, còn ghi lại trong Tin Mừng.
    Dựa trên nền tảng hai lời Thánh Kinh: “Ai tin và chịu phép rửa tội sẽ được cứu rỗi, ai không tin sẽ bị luận phạt” (Mc 16,16); và “Đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2,17), cha phân tích:
    Đạo hiểu nghĩa là tin mà chưa có việc làm.
    Đạo sống tức là tin và có việc làm.
    Thế nên, để được cứu rỗi cần phải kết hợp đạo hiểu và sống. Sau đây là tóm tắt cách trình bầy của cha:
    A. PHẦN LÝ THUYẾT
    1/ ĐẠO HIỂU tức KẾ HOẠCH CỨU RỖI (phần tín lý): được tóm gọn trong kinh Tin kính các Thánh Tông Đồ gồm 3 điểm:
    – Chúa Cha tạo dựng loài người và nhận làm con để có quyền thừa kế gia nghiệp của Cha là Nước Trời.
    – Chúa Con nhập thể làm người rồi chết khổ nhục và sống lại sướng vinh để chuộc lại cho loài người chức làm con Thiên Chúa và quyền thừa kế Nước Trời đã mất vì tội.
    – Chúa Thánh Thần cùng Hội Thánh tiếp tục việc cứu chuộc của Chúa Kitô, nhờ đó ta được thực sự làm con Thiên Chúa và có thể thừa kế Nước Trời.
    2/ ĐẠO SỐNG tức SỐNG ĐẠO CHÍNH TRUYỀN (phần luân lý và tu đức): đây là kết luận do phép rửa tội cũng gồm 3 điểm:
    – Ba lần thề hứa từ bỏ ma quỷ, công việc, sự phù hoa của chúng. Đó là bỏ tà dục, nết xấu, tội lỗi, gọi tắt là CẢI.
    – Ba lần thề hứa làm con Thiên Chúa. Con thì phải mến Cha, gọi tắt là MẾN.
    – Những người cùng làm con một Cha chung thì là anh chị em với nhau. Anh chị em thì phải yêu nhau, gọi tắt là YÊU.
    Vậy Cải mình, Mến Chúa, Yêu người là những việc phép rửa tội đòi buộc nói tắt là CẢI, MẾN, YÊU. Sống 3 việc đó là sống ĐẠO CHÍNH TRUYỀN CẢI MẾN YÊU.
    Tuy nhiên, để đạt tới sự yêu người hoàn bị, Kitô giáo đề cập đến ba yếu tố: Công bình, Bác ái, Hoà giải, gọi tắt là CÔNG, ÁI, HOÀ.
    Như vậy, sống đạo Cải Mến Yêu cách trọn vẹn chính là sống ĐẠO CHÍNH TRUYỀN gồm 5 điểm căn bản: CẢI, MẾN, CÔNG, ÁI, HÒA với 5 lời Thánh kinh sau:
    CẢI: “Hãy cởi bỏ người cũ” (Ep 4,22).
    MẾN: “Này con đến để tuân hành ý Cha” (Dt 10,9).
    CÔNG: “Đừng làm cho ai cái mình không muốn chịu” (Tob 4,10).
    ÁI: “Mọi điều chúng con muốn người ta làm cho mình thế nào, thì hãy làm cho họ như vậy.” (Mt 7,12).
    HÒA: “Đừng để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn” (Ep 4,26).
    B. PHẦN THỰC HÀNH
    Xác tín rằng: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2,17), cha cố Matthêu đã dày công nghiên cứu, đã sống và rút ra những chỉ dẫn cụ thể để giúp ta hoàn thiện lối sống Đạo Chính Truyền Cải Mến Yêu như sau:
    Để sống Đạo Chính Truyền Cải Mến Yêu cách sâu đậm và toàn diện:
    – Tránh những lối sống đạo lệch lạc như: sống đạo theo hứng, sống đạo vụ lợi, sống đạo kinh lễ.
    – Tận dụng tất cả những sinh hoạt tôn giáo vào việc đó như: Sống mầu nhiệm Nhập Thể, sống mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh; tôn sùng Phép Thánh Thể; sống thánh lễ; sống lời Chúa; chịu bí tích Sám hối; lần hạt Mân Côi – yêu mến Đức Mẹ; cầu nguyện.
    Kết hợp với những chỉ dẫn trên, ngài luôn yêu cầu người thực hiện phải có những điểm sống cụ thể đi kèm. Chẳng hạn: để thực thi sự tiết độ trong ăn uống, ngài dạy: Đừng để cho mình nghiện thứ gì; Bài trừ tật xấu như thi đua tửu lượng, ép nhau ăn uống đến say sưa; không mượn chén rượu để tranh luận, dạy con, mắng nhiếc người khác; thỉnh thoảng hãm mình như ăn chay, ăn vài miếng cơm nhạt, hoãn uống mấy phút khi khát …
    Ngài đã viết nhiều sách vở về thần học, tu đức, nhiều tập thơ để giúp cho giáo dân, nhất là các thiếu nhi dễ nhớ nội dung các bài giáo lý và những cách sống đạo thật thực tế và hữu hiệu.
    Tóm lại, ưu tiên hàng đầu mà ngài đặt ra sau khi đã giúp người nghe hiểu được điều phải tin là buộc phải có điểm sống cụ thể để thực hành trong đời sống.
    Lời kết
    Đức cố Giáo Hoàng Phaolô VI đã nói: “Ngày nay người ta tin vào chứng nhân hơn là thầy dạy. Nếu người ta tin vào thầy dạy vì thầy dạy đã sống chứng nhân”.
    Cha cố Matthêu đích thực là một vị mục tử tốt lành và thánh thiện, một chứng nhân sống động của Tin Mừng. Ngài không chỉ dạy người ta sống mà đặc biệt,ngài đã sống những điều đó một cách hết sức anh hùng và gương mẫu. Đời sống thánh thiện ấy đã ảnh hưởng rất lớn đến nhiều thế hệ linh mục, tu sĩ và giáo dân, những người được ngài trực tiếp hướng dẫn và chăm sóc đến độ mọi người, kể cả các đấng Bề Trên, từ lâu nay vẫn gọi ngài là “Cha thánh Kỳ” với lòng kính trọng đặc biệt.
    Nếu như khi được chứng kiến đời sống thánh thiện của cha thánh Gioan Maria Vianney, cha sở họ Ars, bổn mạng của các linh mục, đã khiến có người phải thốt lên: “Tôi đã thấy Chúa trong một con người”; thì con cái của cha cố Matthêu hôm nay cũng có thể nói được rằng: “Cha cố Matthêu cũng chính là hình ảnh sống động của Thiên Chúa giữa lòng thời đại hôm nay”.

    GP Xuân Lộc
    thay đổi nội dung bởi: Damsan, 02-01-2010 lúc 08:31 PM
    Chữ ký của Damsan
    Nàng đẹp quá, bạn tình ơi, đẹp quá !
    Đôi mắt nàng là một cặp bồ câu.

    (Dc 1,15 )

  69. Có 4 người cám ơn Damsan vì bài này:


  70. #37
    sake's Avatar

    Tham gia ngày: Nov 2009
    Tên Thánh: Cecilia
    Giới tính: Nữ
    Đến từ: Đak Đoa - Gialai
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 277
    Cám ơn
    724
    Được cám ơn 1,555 lần trong 271 bài viết

    Default

    Cha Phaolô Châu
    (1833-1862)

    Ông Hòa và bà Nguyện là một gia đình dòng dõi công giáo ở Gò Thị, làng Xuân Hương, tỉnh Bình Định (nay là thôn Xuân Phương, xã Phước Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định). Vợ chồng ông Hòa và bà Nguyện tảo tần buôn bán nuôi sống gia đình, một gia đình bình dân vừa đủ ăn đủ mặc, không bon chen ngược xuôi. Trong mái ấm gia đình này, vào khoảng năm 1833, một bé trai đã chào đời và được đặt tên là Phaolô Châu.
    Khi lên 9, Phaolô Châu được đi học và được phát hiện là một đứa trẻ thông minh. Năm mười ba tuổi, Phaolô Châu được cha mẹ cho giúp Đức cha Cuénot Thể tại Gò Thị. Đức cha nhận thấy Phaolô Châu sáng trí và tính hiền nết tốt nên gởi đi học ở Chủng viện Penang.
    Sau bảy năm dùi mài kinh sử ở Chủng viện Penang, thầy Phaolô Châu trở về quê nhà và được Đức cha Cuénot sai đi giúp xứ ba năm. Năm 1856, thầy Phaolô Châu được Đức cha Cuénot truyền chức linh mục tại Gia Hựu. Tân linh mục Phaolô Châu vừa tròn 23 tuổi, một tuổi đời rất trẻ so với các linh mục Việt Nam thời bấy giờ. Được truyền chức linh mục với một tuổi đời trẻ trung ấy chứng tỏ lòng đạo đức, nhân cách trưởng thành, sự cần mẫn chu toàn việc bổn phận, sự chững chạc, hiền lành và khiêm nhường trong đối nhân xử thế cũng như khả năng tri thức của cha Phaolô Châu đã tạo được sự tín nhiệm của Bề trên.
    Sự tín nhiệm này còn được thể hiện qua việc Đức cha Cuénot bổ nhiệm tân linh mục Phaolô Châu làm Giám đốc chủng viện Mương Lở [1], một trong ba chủng viện được thành lập sau Công Nghị Địa Phận Đàng Trong tại Gò Thị, tức sau năm 1841:Một trường tại họ Tùng Sơn, Quảng Nam, một trường tại họ Mương Lở và một trường tại họ Làng Sông tỉnh Bình Định [2] .
    Các chủng viện này sinh hoạt tương đối ổn định cho đến năm 1859, năm Vua Tự Đức ra sắc dụ cấm đạo và được thi hành gắt gao. Trước tình trạng khó khăn vì sắc dụ cấm đạo, Đức cha Cuénot cho giải thể chủng viện Tùng Sơn và Mương Lở, các chủng sinh ở Mương Lở nhập về chủng viện Làng Sông do cha Tư làm Giám đốc. Cha Phaolô Châu ở lại Mương Lở chăm sóc mục vụ cho giáo dân. Sau khi chủng viện Mương Lở nhập về Làng Sông khoảng hai tháng, một hôm trên đường từ Làng Sông ra Gò Thị yết kiến Đức cha Cuénot, cha Tư đã bị bắt giam. Cha Phaolô Châu liền được bổ nhiệm về làm Giám đốc chủng viện Làng Sông.
    Năm 1861, chiếu chỉ phân sáp của Vua Tự Đức được các quan thi hành triệt để. Đức cha Cuénot chỉ thị cho cha Phaolô Châu tìm cách đưa các chủng sinh vô Gia Định ẩn trú. Trong khi như một quản gia trung tín đang thắt lưng gọn gàng phục vụ, sắp xếp công việc theo ý Giám mục của mình, cha Phaolô Châu đã bị bắt giam và đã hy sinh mạng sống vì đức tin như lời tường thuật:
    “Đến khi có chỉ ra bắt bổn đạo đi phân sáp, cùng truyền phá nhà bổn đạo hết, cho nên các chú ở nhà trường không được nữa, thì Đức cha dạy người lo chở các chú vô Gia Định; nên người dọn đem đồ cần dùng, và mướn đặng một chiếc ghe kẻ ngoại, lại dặn các chú phải chia nhau ở xung quanh gần chỗ ghe đậu mà đợi người. Mà có bữa kia người xuống một mình dưới ghe ấy, có ý gặp lái ghe, mà hỏi thăm cho biết ngày nào chạy, thì có một tên thơ lại, và chức việc làng tới bắt người trong ghe tại sông Dinh gần nhà trường, liền gia giang giáo mác dùi gậy, giải về huyện, tra hỏi căn do, tên tuổi chức phận. Người xưng ngay mình là đạo trưởng, tức thì quan huyện giải người nạp tỉnh. Khi đã giải nạp tỉnh thì ngày mang gông, đêm bị cùm. Cha Châu được giam cùng trại với cha Bửu và ông Qui. Có lần cha Châu mang gông đến thăm và an ủi đôi ba chú chủng sinh bị giam ở một trại khác” [3].
    Những ngày bình yên nơi chủng viện, cha con sống với nhau, cha huấn giáo, cha an ủi… là chuyện thường ngày. Tuy nhiên cuộc thăm viếng trong chốn lao tù này chắc hẳn đã để lại trong lòng các chủng sinh một sự ấm áp khó quên, một bài ‘huấn đức không lời’ đầy ấn tượng. Ngày xưa Thánh Phaolô đã viết thư khuyên nhủ Timôthê, người học trò của mình: “Chớ gì đừng có ai khinh thường con vì con còn trẻ. Trái lại, con hãy nên gương mẫu cho các tín hữu về lời ăn tiếng nói, về cách cư xử, về đức ái, đức tin và lòng trong sạch” (1Tm 4,12). Bây giờ, trong đời thường cũng như trong chốn lao tù, linh mục Phaolô Châu, một người học trò ‘muộn màng’ của Thánh Phaolô trên giải đất Việt Nam, đã cặm cụi thi hành hết mình lời nhủ khuyên ấy.
    Trong các lần khai báo trước quan quyền, cha Châu luôn nhận mình là đạo trưởng; cùng có thầy bốn Quờn (quê Lò Giấy, Phú Yên) nhận mình là đạo sư; ông Qui (quê Tân Hội, Bình Định) và ông Me (quê Quảng Nghiệp, Bình Định) cùng xưng là đạo chúng và cùng che giấu đạo trưởng. Căn cứ vào lời khai khẳng khái này, quan tỉnh làm án và thích vào má các vị hai chử “tả đạo”. Theo án chỉ triều đình, cha Châu, ông Qui và ông Me chịu án trảm quyết, thầy bốn Quờn chịu án giảo quyết.Án lệnh được thi hành tại Gò Chàm, Bình Định vào ngày 2 tháng 3 năm thứ 15 triều Tự Đức (tháng 5 năm 1862). Sự hy sinh anh dũng của bốn vị chứng nhân đức tin đã được kể lại:
    “Khi dẫn bốn đứng ấy đến chốn pháp đình, đô hội người chen nhau đến coi, đạo một phần mà kẻ ngoại năm bảy phần. Tiên đoàn có một tên lính, vác thẻ biên tên bốn đứng ấy, hai tên khiêng chiêng tiếp sau; bốn đứng đi giữa. Mỗi đứng có hai tên lính, bồng gươm trấn áp tả hữu. Vòng ngoài có năm mươi lính khác, tay cầm giáo mác, tay cầm roi; sau hết hai quan giám sát võng ngựa điệu đi.
    Các đứng ấy đi tề chỉnh, mặt vui vẻ, tay cầm ảnh thánh giá chuộc tội, miệng thầm thì đọc kinh cầu nguyện, chẳng thấy dấu lo sợ buồn bực chút nào; kẻ ngoại ai nấy đều khen ngợi.
    Bấy giờ nghe tiếng truyền rằng: hễ nghe ba hồi chiêng rồi, thì cứ y như lịnh dạy; mà khi mới nghe một hai tiếng chiêng, tức thì nó đã chém rồi và thắt cổ xong; song bởi đứt dây, thì nó làm vòng thắt lại. Rồi lính quăng đầu các đứng ấy lên và lấy đuốc đốt chơn thầy Quờn bay khét nồng nà.
    Khi ấy bổn đạo ở xung quanh khóc om sòm, cùng chạy lại lấy vải thấm máu; đoạn thầy Khoa lo chôn cất phô đứng ấy nơi xử. Đến khi cha Triết lấy cốt đem về Gò Thị, rồi chở vô nhà trường Làng Sông, táng trong nhà thờ. Trước năm Ất Dậu dỡ nhà thờ ấy, thì lấy cốt vào quách, để trong phòng nhà thờ mới; đến năm giặc Văn Thân, phải thân hào phá mất hết, chỉ còn một mình xác cha Châu mà thôi, vì trước đó các cha nhà trường Penang đã xin đem về cùng chôn tại nhà thờ”. [4]
    Như lời Thánh Tổ của mình: “Tôi đã chiến đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường và đã giữ vững niềm tin” (2Tm 4,7), cha Phaolô Châu đã ra đi trong đức tin cao đẹp. Một niềm tin khẳng khái trung thành với Đấng chịu đóng đinh. [5]
    Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa thì Ta sẽ vào nhà người ấy” (Kh 3, 20). Cha Phaolô Châu đã mau mắn quảng đại mở cánh cửa lòng ra đón tiếp Chúa qua những con người, qua những công việc hằng ngày, hết mình với bổn phận cho đến hy sinh mạng sống, đến hơi thở cuối cùng. Noi gương và nhân thừa phong cách sống đạo của cha Phaolô Châu, năm 1921, Đức Cha Damien Grangeon Mẫn, vị Giám mục thứ 14 cai quản Giáo Phận Qui Nhơn, đã thành lập Hội Phaolô Châu. Qua đó, các hội hữu Phaolô Châu quảng đại mở cánh cửa lòng ra đóng góp tài sản nhằm giúp giáo phận nuôi dưỡng, giáo dục chủng sinh cho đến khi làm linh mục, đồng thời giúp cho các hội hữu Phaolô Châu có một ‘hương hỏa’ vĩnh viễn cho mình qua những ơn lành từ những thánh lễ do cha Giám đốc Hội cử hành: thánh lễ ngày thứ bảy đầu tháng, lễ Các Đẳng Linh Hồn hằng năm, thánh lễ khi hội viên vừa mới qua đời hoặc thánh lễ cho hội viên đã qua đời khi vừa được ghi tên vào Hội và một thánh lễ trong tháng đầu tiên của các tân linh mục.
    Hội Phaolô Châu, một hậu duệ tinh thần của cha Phaolô Châu được phát triển bền vững cho đến ngày hôm nay là một chứng tá sống động về lòng quảng đại, tinh thần trách nhiệm, lòng trung thành yêu mến Chúa và Giáo Hội của cha Phalô Châu như là muối men ướp mặn và xúc tác đời sống đức tin của dân Chúa.
    Gp. Đà Nẵng
    thay đổi nội dung bởi: sake, 09-01-2010 lúc 02:57 PM
    Chữ ký của sake
    :sing::sing: Sống trong đời sống cần có một tấm lòng :sing::sing:

  71. Có 4 người cám ơn sake vì bài này:


  72. #38
    xuandao's Avatar

    Tuổi: 49
    Tham gia ngày: Sep 2008
    Tên Thánh: teresa
    Giới tính: Nữ
    Đến từ: sydney
    Quốc gia: Australia
    Bài gởi: 52
    Cám ơn
    322
    Được cám ơn 169 lần trong 36 bài viết

    Default

    cam on cac anh chi da cho moi nguoi nhieu thong tin ve cac cha viet nam .RAT HAY
    Chữ ký của xuandao
    xin cho doi con nhu cay sao cua nguoi

  73. Được cám ơn bởi:


  74. #39
    Damsan's Avatar

    Tham gia ngày: Oct 2008
    Tên Thánh: Joseph
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Tây nguyên xanh
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 1,860
    Cám ơn
    2,553
    Được cám ơn 8,695 lần trong 1,669 bài viết

    Default

    Cha Micae LÊ QUANG VINH
    (1917–1946)

    Cha Micae Lê Quang Vinh sinh năm 1917 tại họ đạo Cái Mơn, nay thuộc xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
    Cha mẹ ngài là ông Phaolô Lê Quang Mầu và bà Maria Nguyễn Thị Dết. Cha mẹ ngài sinh ra được mười người con. Cha Micae Quang Vinh là anh hai trong gia đình. Ngài có hai người em gái làm dì phước: Dì năm Nghiệm thuộc dòng Cái Mơn (1924-2008), dì út Ngọc thuộc dòng Nữ Tử Bác Ái và hai cháu làm linh mục: cha Gioan Baotixita Nguyễn Tri Tài và cha Phanxicô Xaviê Lê Quang Dũng.
    Vào khoảng năm 1928, cha Gioan Baotixita Lê Quang Triêu cho ngài đi tu. Sau 15 năm tu luyện ngài được Đức cha Jean Cassaigne phong chức linh mục năm 1943 tại Nhà thờ chánh toà Sài Gòn.
    Sau đó ngài được Đức Cha Phêrô Ngô Đình Thục bổ nhiệm về làm phó xứ cho cha Vincent Nguyễn Ngọc Thanh để coi sóc họ đạo Cái Cá, Cồn Rừng và Khâu Băng. Ngài thi hành chức vụ linh mục chỉ vỏn vẹn được khoảng hai năm.
    Tính tình hiền hoà, vui vẻ, dễ thương và lòng nhiệt thành tông đồ của ngài đã để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp nơi bổn đạo và anh em lương dân.
    Mùa xuân năm Ất Dậu 1946, tại một họ đạo nhỏ bé mang tên Cái Cá ở vùng sình lầy đất đỏ xa xăm…
    Ngày mồng một tết, Ban Quới Chức và bổn đạo đến mừng tuổi cha phó xứ, linh mục Micae Lê Quang Vinh. Năm đó cha phó mới được 29 tuổi. Sau khi cám ơn mọi người cha cho biết ngày mồng hai cha sẽ đi Cái Mơn thăm và chúc tết ông bà nội, mồng mười tết mới về. Nhưng chỉ mới mồng bốn tết cha đã lật đật quay trở về, bất chấp nguy hiểm và sự ngăn cản của cha mẹ vì cha không thể bỏ rơi đàn chiên.
    Trước tình hình rối ren, bổn đạo sợ cha gặp nguy hiểm nên bàn bạc để lén đưa cha đi họ đạo khác hay về Cái Mơn. Nhưng cha không đồng ý: “Sống chết tôi cũng ở đây với họ đạo, tôi không đi đâu hết.”
    Chiều ngày mồng chín tết, người ta gánh cao su và kéo rất nhiều lá dừa đem đến sân nhà thờ. Cả họ đạo xôn xao bàn tán vì chẳng biết người ta sẽ làm gì. Tình hình bấy giờ rất căng thẳng. Một số người biết chuyện nhưng không dám hé môi. Thế là kế hoạch giết cha đã được định đoạt. Nhưng ai sẽ là người thực hiện? Người ta đã phải bốc thăm bởi vì ai cũng sợ làm việc này.
    Như thường lệ, vào lúc 5 giờ sáng ngày mồng mười tết, một số bổn đạo đến nhà thờ để tham dự thánh lễ nhưng bốn bề vắng lặng. Phía trên nhà sàn, ngay chỗ cha ở có lố nhố vài bóng đen. Sau khi rước Mình Thánh Chúa, cha đi từ nhà thờ đến nhà xứ, vừa đi vừa đọc kinh nhật tụng.
    Vào khoảng 6 giờ sáng, có tiếng tàu Pháp chạy từ Bến Tre xuống Thạnh Phú. Trong làng tiếng mõ báo động đánh liên hồi như báo trước điều gì khủng khiếp sắp ập tới.
    Giờ hành quyết bắt đầu. Toàn bộ khu vục nhà thờ phát hoả. Nhà thờ, nhà xứ, nhà ông từ thi nhau bốc cháy. Cùng lúc đó họ bịt mắt, trói tay, hai người được chỉ định kè cha xuống phía sau nhà thờ. Nơi gần con sông nhỏ với mục đích thủ tiêu xong thả xác cha trôi sông. Cha vùng vẫy nói: “Tôi muốn chết tử vì đạo.”
    Túng thế, họ đã dùng dao găm đâm vào trái tim của cha. Trong lúc sơ ý, kẻ sát nhân đã để máu từ trong lồng ngực cha vọt ra trúng mặt và tóc của hắn. Cha thốt lên: “Tôi vô tội. Tại sao các anh lại giết tôi?”
    Với nhát dao xuyên tâm ấy, cha đã gục xuống trên vũng máu. Như để cho chắc ăn, họ đã cắt cổ cha và ném thi thể vào ngôi nhà của ông từ đang còn cháy dở dang.
    Có một điều lạ xảy ra. Đó là người cầm dao đâm cha bị máu xịt văng lên mặt. Nửa mặt của y bị nám đen, rửa không ra. Trên đầu người này có bốn chòm tóc bạc hình cây thánh giá, cố nhuộm đen mà không thể được.
    Khoảng 9 giờ sáng, ngọn lửa đã tắt nhưng một vài chỗ vẫn còn âm ỉ bốc khói. Trước mắt mọi người chỉ còn lại cảnh hoang tàn thê lương. Những kẻ hành sự đã rút đi.
    Khi đó bổn đạo chặt cây, xới tung đống lửa vẫn còn âm ỉ cháy trong nhà chú từ, tìm thấy một xác người nằm co quắp. Khi lật xác lên thì thấy cha nằm trên đống đồ lễ, gót giầy vẫn còn dính ở chân. Thi thể của cha bị cháy đen hết, lóng chân và lóng tay rớt ra từng đốt. Máu cháy đọng lại thành dề. Dầu vậy, phần lồng ngực cha vẫn trắng tinh, không chút bị nám vì cha mới rước Mình Thánh Chúa buổi sáng hôm đó.
    Sau khi rửa xác cha xong, vì tình hình căng thẳng không thể mua hàng được nên ông Câu Sáu, ông Biện Thu và một số bổn đạo đành liệm xác người cha kính yêu của mình vào trong cái rương đựng đồ lễ. Dùng ba miếng ván của bộ ngựa làm kim tĩnh, vội vàng chôn cất cha. Chôn xong, mạnh ai nấy chạy trốn.
    Vào năm 1963, theo lời gợi ý của cha Nguyễn Văn Xuân, gia đình đã nhờ cha Bernard Nguyễn Ngọc Khả, dì năm Nghiệm là em của cha Micae dẫn đầu đoàn cùng với cha Phaolô Lê Văn Linh, cha Phaolô Nguyễn Minh Đoán và một số đông các dì phước đi lấy hài cốt cha Micae Lê Quang Vinh. Phái đoàn lên đường trong sự hồi hộp lo lắng vì tình hình bất ổn. Khi tới nơi, ông Biện Thu chỉ chỗ cho người ta đào mộ lên nhưng chỉ gặp cục đá và cây thánh giá mà không gặp miếng xương nào.
    Mọi sự tưởng chừng như đã chấm dứt. Chỉ còn lại nắm đất kỷ niệm được vun lên. Thân xác vị linh mục trẻ gửi lại nơi lòng đất lạnh, chẳng mấy ai quan tâm để ý. Gia tài cha để lại cho đàn chiên là tấm gương hy sinh, quên mình, trung thành với đức tin cho đến hơi thở cuối cùng.
    Phần mộ của cha Micae Lê Quang Vinh nằm trong một giáo xứ nhỏ của giáo phận Vĩnh Long. Giáo xứ này do cha Gioan Phạm Hữu Diện đảm trách suốt gần mười ba năm nay.
    Vào năm 1998, nhân cơ hội tu bổ khu vực nhà thờ để đón Đức cha về ban phép thêm sức cho ngày 13-01-1999, một tấm đan bằng xi măng được đặt bên trên phần mộ của cha với vài hàng chữ ngắn gọn: “Nơi an nghỉ của linh Mục Micae Lê Quang Vinh”. Chỉ với mong ước là hãy nhớ đến Ngài, xin đừng để cái chết ấy rơi vào quên lãng.
    Ngày 06-06-2005, nhà thờ Cái Cá được phép xây dựng. Vài đoàn thể đã đến tận nơi xem thực hư nhà thờ thế nào để giúp đỡ, nhân tiện viếng thăm mộ cha Micae Lê Quang Vinh.
    Trong niềm vui hân hoan tạ ơn Chúa và Đức Mẹ, ngày 07-10-2005 họ đạo khởi công xây cất nhà thờ. Họ đạo cũng nhớ đến công ơn của cha Micae nên vào ngày 15-02-2006 đã xây một ngôi mộ đơn sơ cho cha.
    Vào ngày 03-09-2007 Đức cha Tôma Nguyễn Văn Tân chủ sự lễ khánh thành nhà thờ Cái Cá. Trong thánh lễ, Đức cha có nhắc tới gương hy sinh anh dũng của cha Micae. Sau khi lễ tan, nhiều người đã ra viếng mộ, thầm thĩ cầu nguyện xin cha Micae chuyển cầu những ước vọng của họ lên trước tòa Chúa.
    Nhiều người đã được ơn qua lời chuyển cầu của cha Micae Lê Quang Vinh. Trong số đó có anh Nguyễn Văn Nhu tại giáo xứ Bùi Chu. Chính vì vậy nên anh có ý xây cho cha một ngôi mộ khang trang hơn để tỏ lòng biết ơn. Vấn đề được đặt ra là: xây trên nền mộ cũ hay di dời mộ cha đến chỗ mới?
    Nhưng liệu hài cốt cha có còn không, vì gia đình đã bốc một lần mà không thấy. Vấn đề này được trình lên Đức Giám mục. Ngài cho ý kiến: “Hãy cầu nguyện. Tin tưởng phó thác cho Chúa. Cộng thêm sự khôn ngoan và một chút liều nữa.”
    Sau khi đã cầu nguyện, ngày 09-03-2009 họ đạo đã khởi sự dỡ bỏ ngôi mộ cũ. Ngày 10-03-2009 đào sâu xuống độ một mét nhưng không thấy gì. Phần lớn chắc là đã bị phân huỷ hết rồi. Số đất đào lên đem cho ngôi mộ mới xây. Ngày 11-03-2009, đang khi Ban Quới Chức kéo hàng rào thì Biện Chung lén vào thắp hương cầu nguyện trước di ảnh của Cha Micae, sau đó rủ thêm Biện Chí tiếp tục đào, giá của họ chạm vào miếng ván. Họ reo mừng la lên: “Thấy rồi!”
    Mọi người xúm lại vui mừng khôn xiết, ông Trùm Trung buột miệng nói: “Cha nói là cha không đi đâu hết, sống chết cha cũng ở với họ đạo mà.”
    Tin tìm thấy hài cốt của cha Micae Lê Quang Vinh được loan đi trong họ đạo. Bổn đạo tuôn đến quy tụ lại quanh hài cốt của cha, bùi ngùi rơi lệ và đọc kinh cầu nguyện.
    Ngày 14-03-2009, nấm mộ bằng đá được chở xuống. Nghi thức tẩm liệm, làm phép xác và huyệt mộ được diễn ra trước sự chứng kiến của một số đông bổn đạo. Ngày 15-03-2009, sau thánh lễ tạ ơn, mọi người quây quần bên phần mộ của người cha kính yêu để đọc kinh và chứng kiến việc dựng bia mộ.
    Từ đó đến nay đã có nhiều đoàn thể đến kính viếng, cầu nguyện bên di ảnh và phần mộ của linh mục Micae Lê Quang Vinh. Một vị chủ chăn trẻ, cuộc sống chỉ vỏn vẹn hai mươi chín năm ngắn ngủi. Can đảm ở lại với đàn chiên đến giây phút cuối cùng. Lìa đời trong những ngày đầu xuân khói lửa ở trần gian để vươn tới mùa xuân vĩnh cửu nơi thiên đàng. Tấm gương ngời sáng ấy sẽ không thể nhạt nhòa theo thời gian.
    GP Vĩnh Long
    Chữ ký của Damsan
    Nàng đẹp quá, bạn tình ơi, đẹp quá !
    Đôi mắt nàng là một cặp bồ câu.

    (Dc 1,15 )

  75. Có 3 người cám ơn Damsan vì bài này:


  76. #40
    sake's Avatar

    Tham gia ngày: Nov 2009
    Tên Thánh: Cecilia
    Giới tính: Nữ
    Đến từ: Đak Đoa - Gialai
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 277
    Cám ơn
    724
    Được cám ơn 1,555 lần trong 271 bài viết

    Default

    Đức cha
    Micae NGUYỄN KHẮC NGỮ
    (1909–2009)

    Vị mục tử tốt lành và nhân từ





    Đức cha Micae Nguyễn Khắc Ngữ sinh ngày 2 tháng 2 năm 1909 tại Vạn Đồn, huyện Thụy Anh, tỉnh Thái Bình. Nhập tiểu chủng viện Mỹ Sơn, địa phận Lạng Sơn năm 1922. Du học tại Đại Chủng Viện Luçon, miền Vendée, nuớc Pháp năm 1928. Thụ phong linh mục ngày 29 tháng 6 năm 1934. Làm cha chính địa phận Lạng Sơn năm 1951. Làm Giám mục địa phận Long Xuyên từ ngày 4 tháng 4 năm 1961. Qua đời ngày 10 tháng 5, năm 2009, hưởng thọ 101 tuổi.
    Làm sao ghi lại được nhân đức của một vị tu hành, của một linh mục, và của một vị Giám mục đã được Chúa cho sống hơn ba vạn sáu ngàn ngày trên dương trần như Đức cha Micae Nguyễn Khắc Ngữ đây?
    Ta thử dựa vào những lời trong Tin Mừng xem sao.
    “Hãy học với tôi vì tôi hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11,29)
    Đức cha Ngữ là một người cha tốt lành và nhân từ. Thật vậy, suốt thời gian ngài cai quản địa phận Long Xuyên trong chức vụ Giám mục tiên khởi, không ai chê trách ngài được điều gì về cuộc sống thường ngày, về đường lối làm việc, và về cách xử sự với linh mục đoàn cũng như với giáo dân trong địa phận. Ngài có tất cả những đức tính của một vị chủ chiên, của bậc làm cha mẹ, và của một người lãnh đạo tinh thần là: yêu thương, chăm sóc, cảm thông, nâng đỡ, và bao dung …
    Giám mục vẫn là con người nên Đức cha Ngữ hiểu được những yếu đuối của con người, những nhẹ dạ của linh mục, những nông nổi của tu sĩ… nên ngài dễ cảm thông và tha thứ. Ngài nghiêm minh nhưng không nghiêm khắc. Ngài thẳng thắn nhưng lại cũng khoan dung.
    Ngài hay dùng “cô Hồng” và “cô Hoa” để chỉ người phụ nữ. Thầy nào “tai tiếng” với “cô Hoa” hay cha nào “ấm ớ” với “cô Hồng” thì ngài gọi vào phòng riêng, đấm vào vai một phát: “Tao nghe nói mày thế này thế kia… Ráng tu trì nhá…” La mắng rồi ngài lại vỗ về và cho tiền về xe. Khác nào Chúa Giêsu xưa kia đã nói với người phụ nữ ngoại tình: “Ta cũng không kết án con đâu. Về đi và đừng… lôi thôi nữa…”. Khác nào người mẹ đánh cho đứa con một roi rồi lại lấy dầu cù là bôi vào vết roi ấy. Còn gì đẹp hơn và yêu thương hơn.
    Ai cũng biết “chiếc áo không làm nên thầy tu” dù đó là tu chùa hay tu nhà thờ, dù đó là ni cô hay linh mục, dù đó là hồng y hay giám mục. Và ở bậc sống nào thì nhân đức cũng vẫn là thói quen tốt lành phải/được/cần tập luyện và thực hiện hằng ngày. Không phải một chủng sinh khi vừa mặc áo dòng là các nhân đức khó nghèo và vâng lời… tự động được gài vào con người ấy vĩnh viễn như người ta cài đặt Windows XP vào máy computer. Không phải một nữ tu vừa khấn trọn đời là các nết xấu như làm biếng, ghen tị, háo danh… tự động biến đi khỏi người ấy như một phép lạ ắt có mà Chúa phải làm. Cũng vậy, không phải khi đã được thụ phong Giám mục là Đức Giám mục không cần phải tập luyện nhân đức nữa.
    Đức cha Ngữ “hồi còn trẻ” cũng nóng tính lắm, nhưng sau khi nghe các cha trong địa phận phản ảnh, Ngài đã thay đổi, và thay đổi thật nhiều. Trong địa phận Long Xuyên sau này cũng có nhiều linh mục thuộc típ nóng nảy, nhưng tất cả hầu như đã bị cái hiền lành của Đức cha Ngữ hóa giải, đã bị cái trầm tĩnh của Đức cha thắng vượt. Ngài đã vui vẻ đặt tên cho các vị “hay sốt” này là Năm Lửa, Bảy Lửa, Mười Lửa… và cuối cùng thì tất cả các lửa này đã… tắt ngúm hoặc chẳng còn lửa nào cháy bùng nữa.
    Đức Giám mục xưng tội với ai? Thường là với một cha có tuổi và có tiếng đạo đức. Nhưng Đức cha Ngữ thì lại thường xưng tội với các linh mục bình thường, có khi lại là một linh mục học trò, đáng tuổi con, tuổi cháu của ngài, nhất là các linh mục mới chịu chức. Tại sao vây? Chắc tại ngài khiêm nhường và luôn xác tín rằng linh mục chỉ là khí cụ của Chúa mà thôi.
    “Ngài đã yêu thương những người thuộc về Ngài đến cùng” (Ga 13,1)
    Thương yêu và nâng đỡ các linh mục là những người cộng tác trực tiếp với mình là chuyện bình thường. Đức cha Ngữ còn yêu thương và nâng đỡ cả những chủng sinh lớp đệ thất đệ lục (lớp 6, lớp 7) vừa vào Tiểu chủng viện nữa. Ngài thuộc tên từng chú chủng sinh, nhà ở đâu, con cha nào... Ngài yêu thưong nên biết tên, biết tuổi, biết tính tình, và biết cả nết xấu của mỗi chủng sinh nữa. Biết để huấn luyên, để uốn nắn, và để nâng đỡ.
    Không chỉ yêu thương các linh mục, các tu sĩ, các chủng sinh, ngài còn thương yêu và để ý đến các giảng viên giáo lý. Rồi ngài còn thuơng cả những chủng sinh đã bị loại khỏi chủng viện. Có lần ngài đã đậu xe lại ở đầu Chợ Kênh Tám, bước vào thẳng nhà ông trùm Đệ tìm anh Hoàng Thắng đã bị đuổi khỏi chủng viện trước đó ít lâu. Không thấy Thắng, Đức cha nhắn với bố của Thắng: “Bảo nó nếu còn muốn đi tu nữa, thì lên gặp tôi…”
    Đức cha Ngữ cũng rất để ý nâng đỡ các linh mục nghèo và đau bệnh trong địa phận. Ngài luôn tìm kiếm và chia bổng lễ cho các linh mục trong những xứ mà giáo dân chỉ xin lễ có khi bằng một rổ khoai lang hoặc bằng vài lon gạo hoặc những linh mục già yếu, đau bệnh trong các nhà hưu dưỡng. Khi nghe cha Nguyễn Đăng Trình bệnh nặng trong tuổi thanh xuân, Đức cha đã than thở: giá Chúa để tôi chết thay cho cha Trình để cha Trình sống mà làm việc…
    “Ai trung thành trong việc nhỏ sẽ trung thành trong việc lớn” (Lc 16,10)
    Linh đạo của Đức cha Ngữ là linh đạo của Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, là đường thiêng liêng thơ ấu, là đơn sơ và khiêm nhu. Ngài đã chọn con đường này và đã giới thiệu cho những người sống với ngài.
    Khi làm cha chính và cha bề trên chủng viện Lạng Sơn, ngoài Bắc, ngài đã tặng cho mỗi chủng sinh ngày mới bước vào chủng viện hai tập sách. Đó là cuốn Đường Thiêng Liêng Thơ Ấu và cuốn Chỉ Nam Hướng Đạo Sinh. Khi lập Tiểu chủng viện ở Long Xuyên, trong Nam, Ngài đã đặt tên chủng viện là chủng viện Têrêxa, và ngài cũng có lòng kính mến vị thánh nữ này một cách đặc biệt.
    Cho nên đường nên thánh của ngài cũng rất đơn giản: chu toàn mọi công việc trong đấng bậc của mình, dù đó là việc lớn hay việc nhỏ.
    Ngài đặc biệt yêu quý lao động chân tay. Cho dù bận rộn công việc, Đức cha Ngữ đôi khi cũng tự giặt giũ quần áo cho mình. Ngài đã làm gương và không muốn sắm máy giặt cho các thầy đại chủng viện.
    Trung thành hoàn tất mọi việc trong chức vụ dù lớn nhỏ, Đức cha Ngữ là một nhà giáo dục tận tâm, khôn ngoan, và kiên nhẫn. Ngài nhìn thấy cả cái hay và cái dở; cả cái yếu và cái mạnh của một học trò và của người đối diện. Nhưng ngài luôn nhắm và tập trung vào cái hay, cái tốt, cái mạnh, và cái tài năng tiềm ẩn trong một con người. Từ đó, ngài luôn lạc quan trong việc giáo dục: Không dập tắt tim đèn còn leo lét. Không bỏ rơi một người mới vấp ngã. Không loại trừ một học trò thông minh nhưng lại có tí bướng bỉnh. Điều quan trọng nhất là ngài cho người ta thời gian để đi đến đích: không vội vàng, đốt giai đoạn. Ngài biết rõ một đứa bé chỉ có thể được cưu mang bởi một người phụ nữ trong chín tháng chứ không phải chín người phụ nữ cưu mang đứa bé trong một tháng. Ngài biết mình đang trồng một thế hệ học trò, chứ không phải một luống khoai hay một luống bắp, nên Ngài cho học trò thời gian và cơ hội để thử và học hỏi, đồng thời cũng không cứng nhắc trong đích điểm của việc giáo dục. Điều này lại rất đúng trong thể kỷ 21 này. Với ngài: không làm linh mục thì làm ông trùm, và không làm bác sĩ thì làm bác nông dân. Điều quan trọng là làm một người TỐT.
    Đức cha Ngữ cũng còn là một nhà lãnh đạo đúng điệu nữa. Một trong những đức tính của nhà lãnh đạo là tin tưởng vào người cộng tác: khi đã trao phó công tác cho người được chỉ định thì không can thiệp, không phê bình, không gièm pha, và nhất là không sợ người đựoc trao công tác nổi trợi hơn mình. Sau năm 1975, khi đã trao công việc cho Đức cha Phó là ngài dứt khoát lui vào phía sau hậu trường, hay đúng hơn là lui vào bóng tối, chấp nhận bị quên lãng để người kế vị làm việc và có toàn quyền quyết định. Nhiều lần ngài nhắc: trong địa phận chỉ có một chủ chăn duy nhất mà thôi.
    “Từ nay thầy sẽ không gọi chúng con là người tôi tớ, nhưng là bạn hữu thân tình” (Ga 15,15)
    Trước Đức cha Micae, chắc chưa có vị Giám mục nào dám xưng mày-tao với các linh mục, với các thầy, và với các chủng sinh. Và sau ngài cũng chưa chắc có vị nào dám làm và làm được như vậy.
    Tại sao? Tại vì ngài coi những người cộng tác với mình như bạn bè. Ngài coi con cái trong nhà, trong địa phận như bè bạn. Làm được như vậy vì ngài chân tình và bình dị. Được gọi là MÀY tức là người đối diện, nếu là linh mục, thì đã được nâng lên một cấp, còn nếu là một chủng sinh hoặc một giáo dân, thì còn được nâng nhiều cấp hơn nữa: cấp tuổi, cấp chức vụ, cấp đạo đức…
    Nhưng cho dù ngài hạ mình xuống để xưng TAO hay nâng người đối diện lên để gọi MÀY, thì cái lối xưng hô độc đáo này cũng thật dễ thương và đầy ấn tượng. Trong tiếng Do Thái chắc hẳn không có đại danh từ Mày và Tao như trong tiếng Việt, nên Chúa Giêsu mới phải dài dòng giải thích: Thầy không gọi các con là người tôi tớ, nhưng gọi các con là bạn hữu thân tình, vì các con đã biết chia sẻ công việc của Thầy.
    Ngài sống bình dị và đôi khi còn như phóng khoáng nữa. Việc đổi các cha xứ đâu phải truyện nhỏ. Vậy mà Ngài làm hai phiếu cho hai cha xứ rút thăm chơi. Một khi đã đồng ý cuộc chơi thì “ông nào được xứ nào thì… ráng mà chịu”. Luật “giang hồ” đó. Ấy thế mà lại được việc. (Có khi được cả phúc nữa). Có lần ngài xông vào gõ cửa nhà cha xứ giữa lúc ngủ trưa: Này, này chuẩn bị đổi xứ đấy nhá. “Giang hồ” đến thế là cùng, nhưng việc vẫn chạy và chẳng ai ghét Ngài được.
    “Phúc cho ai có tinh thần khó nghèo vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3)
    Thử đi tìm một vị linh mục không có tiền bạc. Chắc khó lắm hoặc không thể tìm được, vì trong một xứ đạo nghèo nhất, cha sở vẫn có tiền, và trong một địa phận nghèo nhất, Đức Giám mục vẫn không thiếu tiền. Đức cha Ngữ chắc chắn không phải là một luật trừ: ngài phải có tiền. Không có tiền sao ngài xây dựng được bao nhiêu cơ sở to lớn trong địa phận. Không có tiền sao huấn luyện đào tạo được bao nhiêu lớp tu sĩ và giáo sĩ. Chắc chắn ngài có tiền, có của, nhưng ngài lại sống rất khó nghèo và tiết độ với chính mình. Quần áo của ngài rất đơn giản. Giường chiếu của ngài rất thanh bạch. Bàn ghế trong phòng của ngài rất mộc mạc. Tòa Giám mục của ngài bao nhiêu năm chỉ là một nhà xứ cũ nhỏ bé. Chiếc xe ô-tô của Ngài cũng bé và cũ, nhiều lần tài xế phải nhờ các chủng sinh đẩy, khi đề máy không nổ.
    Áo dòng của ngài cũ hơn áo dòng của các linh mục, và tất nhiên là cũ hơn của… các thầy. Nhưng cũ hay mới, thì ngài cũng chia sẻ với mọi người khi cần. Nhiều thầy trong địa phận đã mặc áo dòng của ngài, vì chưa kịp may để đi giúp xứ. Và ngài cũng chia sẻ ngay cả quần áo mặc thường ngày nữa. Nhưng nhiều người khi được chia sẻ áo quần của ngài, cũng phải bấm bụng mà nhận, vì có khi “tặng phẩm’ không được mới và lại chẳng mẫu mã gì cả. Khó mà mặc được.
    Ngài đi chiếc xe cũ, để dành tiền xây Tiểu chủng viện Têrêxa. Ngài đắp chiếc mền cũ, để dành tiền xây đại chủng viện Thánh Tôma. Ngài nằm chiếc giường gỗ cũ kỹ, để dành tiền xây viện giáo lý. Ngài dùng bao thư làm bằng giấy xi-măng, để dành tiền cho các chủng sinh ăn học, để dành tiền cho học trò đi đường. Ngài từng dạy các chủng sinh: “Nếu không cần thì một xu ta cũng không xài, nhưng nếu cần thì một triệu ta cũng chi”. Cho nên ngài đã “ra lệnh” vá lại cái mền cũ nhiều lần, chứ nhất định không chịu mở những chiếc mền mới mà người ta trao tặng.
    Đấy là một vài nét chấm phá về Đức cha Ngữ. Có đôi phần dí dỏm, và mong được như thế, vì dí dỏm cũng là một nét đặc trưng tốt lành trong đời của ngài vậy.


    GP Long Xuyên
    thay đổi nội dung bởi: sake, 22-01-2010 lúc 01:43 PM
    Chữ ký của sake
    :sing::sing: Sống trong đời sống cần có một tấm lòng :sing::sing:

  77. Có 4 người cám ơn sake vì bài này:


+ Trả lời chủ đề + Gửi chủ đề mới
Trang 1/2 12 cuốicuối

Quyền hạn của bạn

  • Bạn không được gửi bài mới
  • Bạn không được gửi bài trả lời
  • Bạn không được gửi kèm file
  • Bạn không được sửa bài

Diễn Đàn Thánh Ca Việt Nam - Email: ThanhCaVN@yahoo.com