Love Telling Trang Ngô nhắn với ThanhCaVN: SỐNG ĐỨC KHÔN NGOAN, ĐỂ ĐƯỢC THIÊN CHÚA YÊU THƯƠNG JB.Lưu Hùng Vương nhắn với TCVN: Happy Birthday lần thứ 12: Website https://thanhcavietnam.net 18.05.2007 -- 18.05.2019 cat nhắn với Bác gioanha: Hôm nay 27/12 Lễ kính Thánh Gioan - bổn mạng bác Gioanha. Xin Chúa chúc lành cho bác nhiều sức khỏe, nhiều niềm vui, mãi là tông đồ nhiệt thành phụng sự Chúa. An Phúc nhắn với Peter Nguyễn: Hôm nay 23.7, mừng ngày em thêm tuổi mới. Chúc em luôn vui khỏe và an bình. Nguyện xin Mẹ Maria cùng đồng hành với em trong cuộc sống. An Phúc nhắn với Peter Nguyễn: Em hiện tại bây giờ ở đâu? Hãy liên lạc với mình nhé. bethichconlua nhắn với DD TCVN: bé xin mến mời cả nhà cùng hiệp dâng giờ kinh nguyện. Tháng Hoa Kính Mẹ Maria. Vào lúc 11 giờ 30' trưa Việt Nam. Xin Mẹ thương chúc lành. Amen bethichconlua nhắn với TCVN: bethichconlua xin kính chúc toàn thể gia đình TCVN luôn tràn đầy ơn Chúa và luôn làm sáng danh Chúa. Amen onggiachonggay_99 nhắn với Gửi TCVN: Xin toàn thể gia đình TCVN cầu nguyện cho ông cố Giuse Dương Phách là nhạc Phụ của Già onggiachonggay_99 nhắn với Gửi Gia Đình TCVN: Xin toàn thể gia đình TCVN cầu nguyện cho ông cố Giuse Dương Phách là nhạc gia của Già cat nhắn với daohong2310: Chúc mừng bổn mạng bà quản daohong2310 (Thánh Rosa Lima Lễ nhớ ngày 23/8) phale nhắn với admin: Ngày 13/6 Lễ nhớ Thánh Antoine de Padoue. Chúc mừng bổn mạng admin. LUCIA_HUONG nhắn với TCVN: Lucia Nguyen xin Thien Chua và Mẹ Maria ban cho tất cả Quý OBACE được BÌNH AN trong tháng HOA của Mẹ . Thank mlien07 nhắn với Gia đình Thánh ca: Xin Chúa Phục Sinh luôn đồng hành cùng ACE trong mọi bước đường của cuộc sống. Xin cho chúng ta luôn sống và làm chứng cho Chúa Phục Sinh. Amen. JB.Lưu Hùng Vương nhắn với TCVN: Chúng con cậy vì danh Chúa nhân từ,  xin cho Linh hồn Đức Ông Phêrô Nguyễn Quang Sách được sớm hưởng phúc quê Trời. JB.Lưu Hùng Vương nhắn với TCVN: Chúng con cậy vì danh Chúa nhân từ, xin cho tôi tớ Chúa là Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Hòa được sớm hưởng phúc quê Trời. ThanhCaVN nhắn với Gia đình TCVN: Valentine's Day, kính chúc ACE luôn vững bền trong Tình Yêu ĐÃ - ĐANG và SẼ đoan hứa. ThanhCaVN nhắn với Gia đình TCVN: Kính chúc Quý Cha, Quý Tu sỹ Nam Nữ, Ca - Nhạc sỹ và ACE năm mới ĐINH DẬU: Tràn đầy HỒNG ÂN CHÚA bethichconlua nhắn với TCVN: Chúc cả nhà tràn đấy ơn Chúa mlien07 nhắn với Ace: Chúc anh chị em bình an đón Chúa đến vui vẻ. phale nhắn với F.X Nhatdong: Chúc mừng bổn mạng F.X Nhatdong! Chúc người tông đồ nhỏ mãi là tông đồ nhiệt thành! Ước mong em mãi yêu DĐTCVN và cùng chung tay xây dựng nhà nhỏ.

+ Trả lời chủ đề + Gửi chủ đề mới
kết quả từ 1 tới 6 trên 6

Chủ đề: Chân phước Têrêsa Calcutta, Nữ tu (Ngày 05 - 09)

  1. #1
    Gia Nhân's Avatar

    Tham gia ngày: Aug 2009
    Tên Thánh: ✛ Louis
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Sông Nước - Miền Tây
    Quốc gia: Không chọn
    Bài gởi: 3,129
    Cám ơn
    4,022
    Được cám ơn 15,421 lần trong 2,928 bài viết

    Post Chân phước Têrêsa Calcutta, Nữ tu (Ngày 05 - 09)

    Chân phước Têrêsa Calcutta, Nữ tu
    (Ngày 05 - 09)







    Mẹ Têrêsa Calcutta là một phụ nữ nhỏ bé về thể lý nhưng đã được cả thế giới nhận biết qua hành động yêu thương của Mẹ đối với những con người nghèo khổ nhất trong các người nghèo.

    Ngày 19-10-2003, trong một nghi thức của giáo hội, chân phước GH Gioan Phaolô II đã tuyên bố Mẹ Têrêsa là chân phước trước 300.000 khách hành hương tại quảng trường Thánh Phêrô, trong đó có hàng trăm nữ tu Dòng Truyền giáo Bác ái (Missionaries of Charity) mà chính Mẹ đã thành lập năm 1950 (thuộc dòng giáo phận). Ngày nay dòng còn phát triển thêm các dòng chiêm niệm nam và nữ, có cả dòng cho các linh mục.

    Trong bài giảng, CP GH Gioan Phaolô II đã gọi Mẹ têrêsa là “một trong những nhân cách xứng đáng của thời đại chúng ta” và là “hình ảnh của người Samari nhân hậu”. Ngài nói rằng cuộc đời của Mẹ Têrêsa là “bản tuyên ngôn can đảm của Phúc âm”. Mẹ Têrêsa được phong chân phước chỉ sau 6 năm Mẹ qua đời.

    Bà sinh năm 1910 tại Albani (nay là Skopje), Macedonia, lúc đó là một phần của đế quốc Ottoman. Tên “cúng cơm” của bà là Agnes Gonxha Bojaxhiu, là con út trong 3 người con. Gia đình có một thời gian sống thoải mái nhờ công việc xây dựng của người cha phát đạt. Nhưng cuộc sống hoàn toàn thay đổi sau khi người cha đột ngột qua đời.

    Trong những năm còn đi học, Mẹ Têrêsa tham gia một Hội Tương tế Công giáo và thích đi truyền giáo ở ngoại quốc. Lúc 18 tuổi, bà vào Dòng nữ Loreto ở Dublin. Năm 1928, cô Agnes từ giã mẹ lần cuối và đi tới miền đất mới với cuộc sống mới. Năm sau, cô Agnes được vào nhà tập ở Darjeeling, Ấn Độ. Từ đó bà lấy tên Têrêsa và chuẩn bị cho đời sống phục vụ. Bà được sai tới một trường nữ trung học ở Calcutta để dạy lịch sử và địa lý cho các nữ sinh con nhà giàu. Bà không thể không chú ý tới xung quanh là dân nghèo, khổ sở, cơ cực.

    Năm 1946, khi đi xe lửa tới Darjeeling để cấm phòng, nữ tu Têrêsa nghe được điều mà về sau bà giải thích là “ơn gọi trong ơn gọi”. Bà kể: “Sứ điệp rõ ràng. Tôi phải rời tu viện để giúp đỡ người nghèo khi sống giữa họ”. Bà cũng nghe tiếng gọi rời khỏi Dòng nữ Loreto để “theo Chúa Kitô đến những khu nhà ổ chuột để phục vụ Ngài giữa những người nghèo nhất trong những người nghèo”.

    Sau khi được phép rời Dòng Loreto, bà lập một dòng mới và đảm trách công việc mới. Bà học y tá vài tháng rồi trở lại Calcutta, tại đây bà sống trong những khu nhà ổ chuột và mở trường học cho trẻ em. Mặc sari trắng (sari là trang phục phụ nữ thường nhật) và đi dép, bà mau chóng được người ta biết là hàng xóm của họ – nhất là những người nghèo và bệnh tật, bà biết nhu cầu của họ qua những lần thăm viếng họ. Sari là thường phục và cũng là tu phục của dòng.

    Công việc mệt nhọc, nhưng bà được nhiều người tình nguyện tới giúp, một số là học sinh cũ của bà, và đó là những người nòng cốt của Dòng Truyền giáo Bác ái. Những người khác giúp đỡ bằng cách cho lương thực, quần áo, đồ dùng, nhà cửa,… Năm 1952, thành phố Calcutta tặng bà một khách sạn nhỏ và cũ, bà dùng làm nhà cho những người hấp hối và nghèo khổ. Khi dòng phát triển nhiều, dòng còn phục vụ các trẻ mồ côi, các trẻ bị bỏ rơi, người nghiện rượu, người già và những người vô gia cư.

    Suốt 40 năm bà làm việc không biết mệt mỏi chỉ vì người nghèo. Tình yêu của bà không biên giới. Bà đi khắp thế giới để xin tài trợ và mời người ta đến xem gương mặt của Chúa Giêsu ở những người nghèo nhất trong nhưng người nghèo. Năm 1979, bà được trao giải Nobel Hòa bình. Nhưng Thiên Chúa đã gọi bà từ giã thế gian vào ngày 5-9-1997.

    St

    Chữ ký của Gia Nhân

    LoVe yOu & LoVe mE

  2. Có 6 người cám ơn Gia Nhân vì bài này:


  3. #2
    phale's Avatar

    Tham gia ngày: Mar 2012
    Tên Thánh: Maria
    Giới tính: Nữ
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 5,030
    Cám ơn
    6,892
    Được cám ơn 6,056 lần trong 1,841 bài viết

    Default Mẹ Têrêxa: Tiểu sử và chứng từ

    MẸ TÊRÊXA: TIỂU SỬ VÀ CHỨNG TỪ
    "Theo huyết thống, tôi là người Anbani. Theo quốc tịch, tôi là người Ấn Độ. Theo đức tin, tôi là một nữ tu công giáo. Theo ơn gọi, tôi thuộc về thế gian. Theo con tim, tôi hoàn toàn thuộc về Trái Tim Chúa Giêsu" (Mẹ Têrêxa)

    Với dáng người nhỏ bé, nhưng với một đức tin sắt đá, Mẹ Têrêxa thành Calcutta được giao phó sứ mạng công bố tình yêu vô bờ bến của Thiên Chúa đối với nhân loại, đặc biệt đối với những người bần cùng nhất. "Thiên Chúa vẫn mãi yêu thương thế gian và Người sai chị em chúng ta ra đi để biểu lộ tình yêu và lòng thương cảm của Người đối với người nghèo". Mẹ có một tâm hồn tràn đầy ánh sáng Chúa Kitô, một tâm hồn bùng cháy tình yêu đối với Ngài và bị thôi thúc bởi một mong ước duy nhất: "xoa dịu cơn khát của Chúa: khát tình yêu và khát các linh hồn".

    Thời thơ ấu

    Agnes Gonxha Bojaxhiu sinh ngày 26 tháng 08 năm 1910, và chịu phép rửa ngay hôm sau, tại Skopje, Macedonia. Gia đình cô thuộc cộng đồng người Anbani. Đây là một gia đình công giáo, mặc dù đa số người Anbani ở đấy theo Hồi Giáo. Thời bấy giờ, Đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ cai trị đất nước. Cha cô, ông Nikola, là một doanh nhân. Ông làm chủ một công ty và một cửa hàng thực phẩm. Ông thường du hành đó đây, biết nhiều thứ tiếng và rất quan tâm đến chính trị. Ông là một thành viên của Hội Đồng người Anbani. Cùng với vợ mình là bà Drana, ông đã dạy cho Agnes những bài học bác ái đầu tiên.

    Khi Agnes lên 9, năm 1919, cha cô qua đời một cách đột ngột. Bà Drana phải một mình bươn chải hầu nuôi dạy ba người con là Aga (1904), Lazar (1907) và
    Agnes Gonxha (1910). Để sinh sống, bà lao động vất vả qua nghề thêu may. Dù vậy, bà vẫn dành thì giờ để giáo dục con cái. Gia đình cầu nguyện mỗi tối, đi nhà thờ hằng ngày, lần chuổi Mân Côi mỗi ngày trong suốt tháng Năm và chuyên cần tham dự các lễ kính Đức Mẹ. Họ cũng luôn quan tâm giúp đỡ những người nghèo khổ và túng thiếu đến gõ cửa nhà họ. Trong các kỳ nghỉ, gia đình có thói quen đến tĩnh tâm tại một nơi hành hương kính Đức Mẹ, ở Letnice.

    Agnes rất thích đi nhà thờ, cô cũng thích đọc sách, cầu nguyện và ca hát. Mẹ cô tình nguyện chăm sóc một phụ nữ nghiện rượu ở gần đấy. Mỗi ngày hai lần, bà đến rửa ráy và cho người phụ nữ ấy ăn, đồng thời bà cũng chăm sóc một bà góa có 6 con. Những ngày bà không đi được, thì Agnes thay bà đi làm các việc bác ái đó. Khi bà góa qua đời, những người con của bà đến sống với bà Drana như con ruột của mình.

    Ơn Gọi

    Những năm trung học, cô Agnes dùng phần lớn thời gian để hoạt động trong hội Đạo Binh Đức Mẹ (Legio Mariae). Vì giỏi ngoại ngữ, cô giúp một linh mục gặp khó khăn trong ngôn ngữ, cô dạy giáo lý và đọc rất nhiều sách về các nhà thừa sai Slovenia và Croatia ở Ấn Độ. Khi lên 12, lần đầu tiên cô mong muốn dâng đời mình để làm việc Chúa, hiến trọn đời mình cho Chúa để Người quyết định. Nhưng cô phải làm sao để biết chắc chắn là Chúa có gọi cô hay không?

    Cô cầu nguyện nhiều rồi tâm sự với các chị và mẹ mình. Cô cũng trình bày với vị linh mục giải tội: "Làm sao con biết chắc?". Cha trả lời: "Căn cứ trên NIỀM VUI. Nếu con cảm thấy thực sự hớn hở vui mừng với ý tưởng rằng Chúa có thể gọi con phục vụ Người và tha nhân, thì đấy là bằng chứng cho thấy rằng con có ơn gọi". Và cha nói thêm: "Niềm vui sâu xa mà con cảm nhận là la bàn để chỉ cho con biết hướng đi của đời mình".

    Năm 18 tuổi là năm trọng đại. Cô quyết định. Hai năm trước đó, cô đã đến tĩnh tâm nhiều lần tại Letnice và nhận ra rõ ràng là cô sẽ phải đi truyền giáo ở Ấn Độ. Vào ngày lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời năm 1928, cô đến Letnice cầu nguyện xin Đức Mẹ chúc lành trước khi ra đi. Cô chuẩn bị gia nhập dòng Đức Mẹ Lorette, một hội dòng đang hoạt động tích cực tại Ấn Độ.

    Ngày 25 tháng 09, cô lên đường. Cả cộng đồng tiễn cô ra ga: nào bạn hữu, nào láng giềng già trẻ, và dĩ nhiên cả Mẹ và bà chị Aga. Mọi người đều khóc.

    Cô đi qua Zagreb, Áo, Thụy Sĩ, Pháp và đến Luân Đôn, rồi từ đấy vào một tu viện gần Dublin là nhà mẹ của Hội Dòng Đức Mẹ Lorette. Tại đấy, cô học nói tiếng Anh và sống nếp sống nữ tu. Ngày mặc áo dòng, cô chọn tên là Têrêxa, để tưởng nhớ chị thánh Têrêxa Hài Đồng ở Lisieux, nơi mà cô dừng chân trên đường đến Luân Đôn. Cùng thời gian này cô làm các thủ tục giấy tờ và năm 1928 cô khởi sự cuộc hành trình đầu tiên đến với Ấn Độ: đất nước ước mơ của cô! Cuộc hành trình này thật gian nan. Có vài chị em nữ tu đi cùng tàu với cô nhưng phần đông hành khách thì theo Anh giáo. Suốt nhiều tuần lễ, họ không được dự lễ và rước lễ, kể cả ngày Giáng Sinh. Tuy nhiên, họ cũng làm một máng cỏ, lần hạt và hát thánh ca Giáng Sinh.


    Đầu năm 1929 họ đến Colombo, rồi đến Madras và cuối cùng là Calcutta. Họ tiếp tục đi đến Darjeeling, dưới chân dãy Hy mã lạp sơn, nơi mà người nữ tu trẻ sẽ hoàn tất thời gian huấn luyện. Ngày 23 tháng 05 năm 1929, chị Têrêxa vào tập viện và hai năm sau chị khấn lần đầu. Ngay sau đó, chị được chuyển đến Bengali để giúp đỡ các chị trong một bệnh viện nhỏ hầu chăm sóc các bà mẹ đau yếu, đói khát và không nơi nương tựa. Chị bị đánh động trước nỗi khốn cùng vô biên tại nơi này.

    Nữ Tu và Giáo viên

    Sau đó, chị được gởi đến Calcutta để học sư phạm. Khi nào có thể, chị đều đi giúp chăm sóc bệnh nhân. Khi ra trường, chị trở thành giáo viên và mỗi ngày phải đi xuyên qua thành phố. Công việc đầu tiên của chị là lau phòng học. Chẳng bao lâu, các em bé yêu mến cô giáo vì sự nhiệt tình và lòng trìu mến của cô, nên số học sinh lên đến ba trăm em. Ở một khu khác trong thành phố, còn 100 em nữa. Chị nhìn thấy nơi các em ở và đồ các em ăn. Cảm được sự chăm sóc và tình yêu của chị, các em gọi chị là ‘ma’ (mẹ). Những ngày chúa nhật, chị đi thăm viếng gia đình các em.

    Ngày 24 tháng 05 năm 1937, chị khấn trọn đời ở Darjeeling và trở thành, như lời chị nói, “hiền thê của Chúa Giêsu cho đến đời đời”. Chị được cử làm hiệu trưởng một trường phổ thông cơ sở tại trung tâm Calcutta, dành cho nữ sinh Bengali. Đôi khi chị cũng đích thân dạy sử địa. Cạnh trường là một trong những khu ổ chuột lớn nhất Calcutta. Chị Têrêxa không thể nhắm mắt làm ngơ được: Ai chăm sóc cho những người nghèo sống lang thang trên đường phố đây? Tinh thần bác ái toát ra từ những bức thư của mẹ chị nhắc lại tiếng gọi căn bản: hãy chăm sóc người nghèo.

    Hội đoàn Legio Mariae cũng hoạt động trong trường này. Cùng với các nữ sinh, chị Têrêxa thường đi thăm bệnh viện, khu ổ chuột, người nghèo. Họ không chỉ cầu nguyện suông. Họ cũng nghiêm túc trao đổi về những gì mình thấy và làm. Cha Henry, một linh mục dòng Tên người Bỉ, là vị linh hướng của chị; ngài gợi ý nhiều điều trong công tác này. Ngài hướng dẫn chị Têrêxa trong nhiều năm. Qua các gợi ý của ngài, chị càng ngày càng mong muốn phục vụ người nghèo, nhưng bằng cách nào đây?

    Ơn gọi trong ơn gọi

    Với tất cả những thao thức ấy, chị đi tĩnh tâm ngày 10 tháng 09 tại Darjeering. Sau này chị nói: "đấy là chuyến đi quan trọng nhất trong đời tôi". Đấy chính là nơi mà chị thực sự nghe được tiếng Chúa: "Hãy đến làm ánh sáng cho Thầy”". Sứ điệp của Người rất rõ ràng: chị phải rời tu viện để giúp đỡ những kẻ khốn khổ nhất và cùng sống với họ. "Đấy là một mệnh lệnh, một bổn phận, một xác tin tuyệt đối. Tôi biết mình phải làm gì, nhưng không biết phải làm thế nào". Ngày 10 tháng 09 là một ngày quan trọng đến nỗi Hội Dòng gọi ngày này là ‘ngày linh hứng’ (inspiration day).

    Chị Têrêxa cầu nguyện, trình bày cho vài chị khác, tham khảo ý kiến mẹ bề trên, và mẹ bảo chị đến gặp đức tổng giám mục Calcutta, Đức Cha Perrier. Chị giải thích cho ngài về ơn gọi của mình, nhưng đức cha không cho phép. Ngài đã trao đổi với các cha dòng Tên Henry và Celeste Van Exem, là những vị biết rõ chị Têrêxa. Các ngài xem xét mọi mặt vấn đề: Ấn Độ sắp được độc lập và chị Têrêxa lại là một người Âu! E rằng chị sẽ gặp những nguy hiểm về chính trị và nhiều vấn đề khác xuất phát từ việc phân biệt sắc tộc. Liệu Rôma có phê chuẩn quyết định này chăng? Đức cha khuyên chị cầu nguyện một năm nữa trước khi thực hiện quyết định này, nếu không thì nên gia nhập dòng các Nữ Tử thánh Anna, những nữ tu mặc sari xanh đang hoạt động cho người nghèo. Chị Têrêxa nghĩ rằng đấy không phải là con đường thích hợp cho mình. Chị muốn sống cùng với người nghèo. Một năm sau, khi chị Têrêxa trình lên ý định mình, đức tổng giám mục muốn cho phép, nhưng ngài bảo tốt hơn là chị hãy xin phép Rôma và Mẹ bề trên tổng quyền của chị ở Dublin. Chị lại phải chờ đợi một thời gian khá lâu để nhận được quyết định từ trung ương.

    Quyết định

    Tháng 08 năm 1948, chị Têrêxa được phép rời cộng đoàn Lorette với điều kiện là tiếp tục tuân giữ các lời khấn khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục. Chị chia tay với chị em mình năm 38 tuổi, rời tu phục dòng Lorette để mặc lấy chiếc sari rẻ tiền màu trắng viền xanh. Trước hết, chị đến Patna để theo học một khóa huấn luyện y tá cùng với các nữ tu tại đấy. Chị thấy rõ ràng là chị chỉ có thể giúp đỡ người nghèo trong các căn nhà bẩn thỉu bệnh hoạn của họ nếu chị biết cách phòng bệnh và chữa bệnh. Kiến thức y khoa là điều kiện không thể thiếu được hầu chu toàn ơn gọi mới của mình.

    Vị bề trên ở Patna, một bác sĩ, đã cho chị một lời khuyên khôn ngoan khi chị tỏ ý muốn ra sống giữa những người nghèo và chăm sóc họ. Chị bảo rằng chị muốn sống chỉ bằng cơm với muối, giống như người nghèo, và vị bề trên đáp lại rằng đấy là cách hay nhất để cản trở chị khỏi phải đi theo ơn gọi của chị: nếp sống mới đòi hỏi ở chị một sức khoẻ thật vững và thật tốt.

    Sau khi trở về Calcutta, chị Têrêxa đến với các khu ổ chuột và đường phố, thăm viếng và giúp đỡ người nghèo. Toàn bộ tài sản của chị vẻn vẹn là một cục xà phòng và năm rupi (một đôla = 45 rupi; và 5 rupi = dưới 2000 VNĐ). Chị giúp tắm các em bé và rửa các vết thương. Người nghèo rất ngạc nhiên: Cái bà người Âu mặc chiếc sari nghèo nàn này là ai vậy? Mà bà nói thông thạo tiếng Bengali! Bà lại đến giúp họ rửa ráy, lau chùi và chăm sóc họ nữa chứ! Thế rồi chị bắt đầu dạy các em bé nghèo học chữ, học cách rửa ráy và giữ vệ sinh. Sau đấy chị mướn được một phòng nhỏ để làm lớp học.

    Phần chị, chị vẫn tạm trú tại nhà các Chị Em Người Nghèo. Chúa là nơi nương tựa của chị để có được những sự trợ giúp vật chất. Và Người luôn có mặt: lúc nào chị cũng tìm ra thuốc men, quần áo, thức ăn và chỗ ở để đón người nghèo và chăm sóc họ. Vào giữa trưa, các em bé được uống một ly sữa và nhận một miếng xà phòng, nhưng đồng thời các em cũng được nghe nói về Chúa, Đấng Tình Yêu, và - ngược với cái thực trạng rành rành trước mắt các em - Người yêu thương các em, thực sự yêu thương các em.

    Một thời điểm cảm động

    Một hôm, một thiếu nữ Bengali, xuất thân từ một gia đình khá giả và là cựu học sinh của Mẹ Têrêxa, muốn đến ở với Mẹ mà giúp một tay. Đây là một thời điểm cảm động. Nhưng Mẹ Têrêxa rất thực tế: Mẹ nói về sự nghèo khó toàn diện, về những khía cạnh khó chịu của công việc Mẹ làm. Mẹ đề nghị thiếu nữ chờ đợi một thời gian nữa.

    Ngày 19 tháng 03 năm 1949, thiếu nữ ấy trở lại trong một chiếc áo nghèo nàn và không mang trên người một món nữ trang nào. Cô đã quyết định. Cô là người đầu tiên gia nhập cộng đoàn của Mẹ Têrêxa và lấy tên khai sinh của Mẹ là Agnes. Những thiếu nữ khác nối tiếp cô: vào tháng 05 cộng đoàn có ba người, tháng 11 là năm người, năm sau đó là bảy người. Mẹ Têrêxa thiết tha cầu nguyện để có được nhiều ơn gọi hơn nữa cho Chúa Giêsu và Đức Mẹ. Có quá nhiều việc phải làm. Các chị em thức dậy thật sớm, cầu nguyện lâu giờ, dự thánh lễ để kín múc sức mạnh cho đời sống thiêng liêng hầu thực thi những công việc phục vụ người nghèo. Tạ ơn Chúa, có một ông tên là Gomes đã dâng tặng tầng cao nhất của căn nhà mình cho cộng đoàn Mẹ Têrêxa. Đây cũng là năm mà Mẹ Têrêxa lấy quốc tịch Ấn Độ.

    Mẹ Têrêxa nhìn cộng đoàn lớn lên và biết rằng Mẹ có thể nghiêm túc nghĩ đến việc sáng lập một hội dòng. Muốn xây dựng hiến pháp đầu tiên, Mẹ tham khảo ý kiến của hai người đã từng giúp Mẹ trước đây: các cha dòng Tên Julien Henry và Celest Van Exem. Vị linh mục đọc lại lần cuối là cha De Gheldere. Giờ đây "hiến pháp của Hội Dòng Thừa Sai Bác Ái" có thể trình lên đức tổng giám mục, và ngài gởi về Rôma để xin phê chuẩn.

    Đầu mùa thu, sắc lệnh phê chuẩn của Đức Thánh Cha đến, và ngày 7 tháng 10 năm 1950, lễ Mân Côi, nghi thức khánh thành diễn ra trong nhà nguyện của chị em. Đức tổng giám mục cử hành thánh lễ và cha Van Exem đọc sắc lệnh thành lập. Vào lúc ấy, có 12 chị em. Không đầy 5 năm sau, cộng đoàn được nâng lên thành hội dòng Tòa Thánh, có nghĩa là trực thuộc Đức Thánh Cha.

    Những lãnh vực khác

    Muốn đáp ứng trọn vẹn hơn các nhu cầu vật chất và thiêng liêng của người nghèo, Mẹ Têrêxa sáng lập:

     Năm 1963:
    Tu hội Anh Em Thừa Sai Bác Ái.
     Năm 1976:
    Nhánh nữ tu chiêm niệm.
     Năm 1979,
    Các Nam tu sĩ chiêm niệm.
     Năm 1984,
    Hội linh mục Thừa Sai Bác Ái.
    Tuy nhiên, thao thức của Mẹ không dừng lại nơi những người có ơn gọi tu trì mà thôi. Mẹ thiết lập hội:

     Những Cộng Tác Viên với Mẹ Têrêxa và những Cộng Tác Viên Bệnh Tật Và Đau Khổ, gồm những người thuộc nhiều quốc tịch khác nhau mà Mẹ chia sẻ tinh thần cầu nguyện, đơn sơ, hy sinh và công tác tông đồ qua những việc làm hèn mọn vì tình yêu. Tinh thần này cũng thôi thúc Mẹ thiết lập hội:
     Giáo Dân Thừa Sai Bác Ái.
     Để đáp lại yêu cầu của nhiều linh mục, năm 1981, Mẹ Têrêxa khởi xướng phong trào Corpus Christi dành những linh mục nào muốn chia sẻ linh đạo và đặc sủng của Mẹ.
    Trong những năm lớn mạnh đó, thế giới bắt đầu chú ý đến Mẹ và các công trình mà Mẹ đã khởi xướng. Mẹ nhận được nhiều giải thưởng:

     Giải Padmashri của Ấn Độ, năm 1962.
     Giải Hoà Bình của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII, năm 1971.
     Giải Nêru vì có công thăng tiến nền hòa bình và sự thông cảm trên thế giới, năm 1972.
     Giải Nobel Hòa Bình, năm 1979; trong khi đó, các phương tiện truyền thông càng ngày càng ca tụng Mẹ hết lời qua các công việc Mẹ làm. Mẹ đón nhận tất cả ‘vì vinh danh Thiên Chúa và nhân danh người nghèo’

    Chứng từ của một cuộc đời.

    Toàn bộ cuộc đời và công trình của Mẹ Têrêxa là một chứng từ cho niềm vui trong yêu thương, cho sự cao cả và phẩm giá của mỗi một con người, cho giá trị của từng việc nhỏ nhất được thực thi với đức tin và tình yêu, và trên hết, cho sự kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa.

    Nhưng có một khía cạnh anh dũng khác của vĩ nhân này mà ta chỉ biết được sau khi Mẹ qua đời. Đây là một điều Mẹ dấu kín đối với mọi người, kể cả những thân hữu gần gũi nhất với Mẹ: Trong cuộc sống nội tâm, Mẹ có một cảm nghiệm sâu lắng, đau đớn và thường xuyên rằng Mẹ ở xa cách Chúa, thậm chí bị Người ruồng bỏ, và vì thế càng ngày Mẹ càng khao khát được Chúa yêu thương nhiều hơn. Mẹ gọi cái cảm nghiệm nội tâm ấy là ‘bóng tối’. Cái ‘đêm đen cay đắng’ này khởi sự từ ngày Mẹ bắt đầu công việc phục vụ người nghèo và tiếp tục mãi cho đến cuối đời, khiến Mẹ ngày càng kết hiệp mật thiết hơn với Chúa. Qua cái tối tăm đó, Mẹ tham dự một cách huyền nhiệm vào cơn khát cùng cực và đau đớn của Chúa Giêsu và chia sẻ tự thâm sâu sự khốn cùng của người nghèo.

    Trong những năm cuối đời, mặc cho sức khoẻ càng ngày càng giảm sút, Mẹ vẫn tiếp tục điều hành Hội Dòng và đáp ứng các nhu cầu của người nghèo và của Giáo Hội.

     Năm 1997, số nữ tu của Mẹ Têrêxa là 4000 chị, hoạt động tại 610 nhà, trong 123 quốc gia trên thế giới.
     Tháng 03 năm 1997, Mẹ chúc phúc cho vị bề trên tổng quyền mới của Hội Dòng Thừa Sai Bác Ái (chị Nirmala Joshi), rồi thực hiện một chuyến du hành ở nước ngoài.
     Sau khi yết kiến Đức Thánh Cha lần chót, Mẹ về lại Calcutta, dành những ngày cuối đời để tiếp khách và dạy dỗ các nữ tu con cái mình.
     Ngày 05 tháng 09 là ngày cuối cùng trong cuộc đời trần thế của Mẹ. Mẹ được tiễn đưa về vĩnh cửu theo nghi lễ quốc táng của Ấn Độ và thi hài Mẹ được chôn cất tại nhà mẹ của hội dòng Thừa Sai Bác Ái. Mộ của Mẹ trở thành nơi hành hương cho mọi người, giàu cũng như nghèo.

    Không đầy hai năm sau ngày qua đời, do sự thánh thiện mà mọi người đã đồng thanh ca ngợi và những báo cáo về các ơn thiêng nhận được qua Mẹ, nên Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã cho phép tiến hành xem xét hồ sơ phong thánh cho Mẹ. Ngày 20 tháng 12 năm 2002, ngài phê chuẩn sắc lệnh công nhận nhân đức anh hùng và các phép lạ của Mẹ.

    Ngày 19 tháng 10 năm 2003, Mẹ được nâng lên hàng chân phước (lễ kính vào ngày 05 tháng 9). Mẹ là người được phong chân phước nhanh nhất trong lịch sử Giáo Hội từ trước đến nay: chỉ 6 năm sau ngày qua đời. Trước Mẹ, thánh Gioan Bosco và thánh Maximilian Kolbe được phong chân phước 30 năm sau ngày qua đời và là những người được phong chân phước nhanh nhất.

    Chân phước Têrêxa thành Calcutta - một người của toàn thể nhân loại, mang dòng máu Anbani, có quốc tịch Ấn độ và công dân danh dự của Hoa kỳ, nhưng lại xóa mình đến nỗi ít ai còn nhớ đến cái tên khai sinh
    Agnes Gonxha Bojaxhiu - mãi mãi là hình ảnh của một Kitô hữu có một đức tin không hề lay chuyển, một đức cậy bất chấp phong ba và một đức ái vượt mọi biên thùy. Lời đáp trả trước tiếng gọi của Chúa Giêsu "Hãy đến làm ánh sáng cho Thầy" đã biến người thành một nhà Thừa Sai Bác Ái, một ‘người mẹ của kẻ nghèo’, một biểu tượng cho lòng thương cảm của Thiên Chúa đối với con người và một bằng chứng sống động cho thấy rằng Chúa Giêsu từng ngày khắc khoải chờ đợi tình yêu của mỗi một linh hồn.
    TRẦN DUY NHIÊN
    Tổng hợp theo tài liệu của Mạng Lưới Vatican
    và Hội Dòng Thừa Sai Bác Ái.

    Chữ ký của phale
    Điều đẹp ý Ngài xin dạy con thực hiện (Tv142,10)

  4. Có 4 người cám ơn phale vì bài này:


  5. #3
    Gia Nhân's Avatar

    Tham gia ngày: Aug 2009
    Tên Thánh: ✛ Louis
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Sông Nước - Miền Tây
    Quốc gia: Không chọn
    Bài gởi: 3,129
    Cám ơn
    4,022
    Được cám ơn 15,421 lần trong 2,928 bài viết

    Post Mẹ Têrêsa Calcutta hết lòng gắn bó với Việt Nam

    Mẹ Têrêsa Calcutta hết lòng gắn bó với Việt Nam

    Mẹ Á Thánh Teresa Calcutta sinh ngày 26.08.1910, tại Skopje nước Albanie. Tên thánh Rửa tội và tên gọi là Agnes Gonxha
    Bojaxhiu.


    Nhân dịp kỷ niệm 3 năm Mẹ Teresa Calcutta được phong chân phước - ngày 19.10.2003 - chúng tôi muốn được chia sẻ một vài nét về Mẹ trong những lần Mẹ đến Việt Nam mà chúng tôi được gặp gỡ.


    - Vào tháng 6 năm 1973, Mẹ Teresa và Cha Andrew gửi 7 thầy Thừa Sai Bác Ái từ Ấn Ðộ đến Việt Nam. Ðức Tổng Phaolô Nguyễn Văn Bình đã mua 2 căn nhà tại đường Cống Quỳnh cho các thầy ở và làm việc. Các thầy rước các người vô gia cư về chăm sóc, nhưng chỉ được vài năm thì biến cố 1975 các thầy đã phải tản cư sang Hongkong và Campuchia.


    Ðức Tổng Phaolô Nguyễn Văn Bình rất yêu thích linh đạo của Mẹ Teresa. Trong hoàn cảnh mới giao thời của năm 1975, khó khăn nhiều mặt, nhất là khan hiếm về thuốc men mà bệnh tật lại nhiều và người vùng quê tỉnh lẻ không dễ dàng nhập các bệnh viện tại Sài Gòn để điều trị.


    Mặt trận Cộng sản miền Bắc tiếp nhận các bệnh viện Sài Gòn và hầu hết các bệnh viện trong miền Nam - đội ngũ y bác sĩ tản cư chạy loạn... phải mất mấy năm sau mới có thể ổn định.


    Trước nhu cầu của những bệnh nhân nghèo, Ðức Tổng Bình đã mời gọi một số bác sĩ y tá người công giáo họp thành một nhóm để có thể tiếp cận chữa bệnh miễn phí và chia sẻ thuốc men cần kíp cho bệnh nhân nghèo, hoặc rước Mình Thánh Chúa cho họ. Sau này nhóm còn lại vài bác sĩ, một số y tá và các thành viên thường xuyên lui tới bệnh viện; tất cả những người này độc thân nên có nhiều thì giờ tham gia sinh hoạt. Nhóm này mỗi tháng1 lần lên gặp Ðức Tổng để được người chia sẻ Lời Chúa và huấn đức, cũng như trình cho ngài biết những sinh hoạt hoặc những khó khăn.


    Từ năm 1991 tới ngày 20.12.1995, Mẹ đã đến Việt Nam 5 lần:


    (1) Lần thứ nhất là đầu tháng 9 năm 1991, Mẹ Teresa đến Hà nội gặp Chính phủ Việt Nam.


    (2) Lần thứ hai, ngày 05.11.1993 Mẹ đi từ Calcutta đến thành phố Sàigòn. Cùng đi với Mẹ là Soeur Nirmala - nay là Bề trên Tổng quyền Dòng Thừa Sai Bác Ái của Mẹ Teresa - và có cô bác sĩ tên Jannet, cô cũng là thành viên của Tu hội đời của Mẹ. Chỉ có ông lãnh sứ quán Ấn Ðộ và cô Thanh Nga ra phi trường đón Mẹ bởi vì vợ của ông lãnh sứ quán từ Calcutta gọi điện và báo về cho ông rằng: "Mẹ đến Việt Nam", (cô ấy là người công giáo, là thư ký của ông). Theo lời của cô thư ký nói lại với chúng tôi, vừa lên xe ông lãnh sứ quán, Mẹ đã đưa cho ông ấy tên và địa chỉ của Chị Marie Francoise Hà Thị Thanh Tịnh - vì có thư của tôi gửi cho Mẹ và thư của Ðức Cố Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình đã giới thiệu tôi và một số chị em cho Mẹ - Vì thế tôi và một vài chị em lên gặp Mẹ tại khách sạn Ðộc lập. Sau đó Mẹ nói tôi gọi điện qua Toà Giám Mục để xin hẹn được gặp chào Ðức Tổng Phaolô - Ðức Tổng đang nghỉ dưỡng bệnh tại Bãi Dâu Vũng Tàu - Ngài hẹn gặp Mẹ vào 2 giờ chiều ngày thứ Bảy mồng 6.11.1993. Mẹ đã ở lại Sài Gòn một tuần lễ và mỗi ngày Mẹ đến chia sẻ với chị em chúng tôi tại 428 Huỳnh Văn Bánh, F. 14, Phú Nhuận, giáo xứ Tân Hoà.


    (3) Vào tháng 4 năm 1994, Mẹ sang Việt Nam lần thứ 3. Mẹ được Bộ Thương binh Xã hội mời 8 nữ tu của Mẹ qua Việt Nam làm việc: 4 nữ tu chăm sóc các em cô nhi tại 38 Tú Xương, Q.3, Tp. Sàigòn; và 4 nữ tu chăm sóc các em khuyết tật tại trung tâm Thụy An, Ba Vì, Hưng Hoá. Ðồng thời Mẹ Teresa làm đơn gửi Chính phủ Trung ương Hà Nội xin mở nhà dòng tại Việt Nam; Mẹ có đề cập tới 20 chị em chúng tôi xin gia nhập Dòng và xin bảo lãnh 7 người chúng tôi qua Ấn Ðộ để được huấn luyện.


    Một buổi chiều đầu tháng 4 năm 1994, tôi chuẩn bị rước Mình Thánh Chúa cho một Linh mục bà con đang nằm tại bệnh viện Chợ Rẫy, ngài là Cha Gioan Hồ Hán Thanh, thuộc giáo phận Ban Mê Thuột - ngài bị sưng khớp đầu gối không thể đi lại và rất đau nhức - ngài phải nằm điều trị tại lầu 7 bệnh viện Chợ Rẫy. Ngài và một vị Ðảng viên cộng sản (40 năm tuổi Ðảng) đã về hưu cùng nằm chung một phòng.


    Tôi và một chị khác đang chuẩn bị đi thì gặp Mẹ Teresa và Soeur Nirmala đi tắc-xi tới - Lần này Mẹ tới không báo trước - Khi tôi cho Mẹ biết là tôi rước Mình Thánh Chúa và đi thăm Cha Gioan Thanh bà con của tôi, Mẹ cũng muốn cùng hai chị em chúng tôi đi thăm Cha. Khi tới trước cửa phòng của Cha Thanh, tôi đã nói nhỏ với Mẹ và chỉ cho Mẹ biết giường nào là của Cha Gioan Thanh và giường nào là của ông Ðảng viên.


    Mẹ bước vào phòng, đi thẳng tới giường ông Ðảng viên hỏi thăm ông và khi biết ông ấy bị đau tim, Mẹ Á Thánh Teresa đã đặt bàn tay lên ngực của ông và cầu nguyện vài phút. Sau đó Mẹ lấy một ảnh Ðức Mẹ Ban Ơn trong giỏ vải xách tay của Mẹ, Mẹ đã hôn ảnh trước khi đưa cho ông Ðảng viên và nói: "Xin Ðức Mẹ Maria chúc lành và ban cho ông mau bình phục". Tiếp đó Mẹ mới qua giường Cha Gioan Thanh, Mẹ cũng đặt tay trên 2 đầu gối của Cha cầu nguyện và Cha Thanh rước Mình Thánh Chúa. Vài ngày sau, tôi tới thăm cha Thanh, điều cảm động và hết sức ngạc nhiên là tôi nhìn thấy ông Ðảng viên đeo mẫu ảnh Ðức Mẹ Ban Ơn trên túi áo ông ấy mặc.


    Mẹ chia sẻ với chúng tôi: "Thế giới này đã quá nhiều bom đạn, những thứ đó không thể đem lại hoà bình hạnh phúc - chỉ có tình yêu và lòng thương xót. Hãy bắt đầu bằng một nụ cười - hãy mỉm cười ít là 5 lần mỗi ngày với người mà bạn không muốn cười tí nào! Xin hãy làm điều đó vì hoà bình! Ngày nay trên thế giới có quá nhiều đau khổ, rất nhiều! Những đau khổ về vật chất như: đau khổ vì đói, đau khổ vì không nhà cửa, đau khổ vì bệnh tật... Nhưng tôi vẫn nghĩ rằng đau khổ lớn nhất là cô đơn! Bị bỏ rơi, không ai yêu thương là căn bệnh khủng khiếp nhất mà bất cứ ai đều cảm nhận được".


    Trong thời đại văn minh và phát triển ngày nay, cả thế giới ai cũng vội vã và hối hả, nhưng cũng có những người quỵ ngã trên đường và không còn đủ sức để đứng lên mà đi. Ðó là những người mà chúng ta phải quan tâm.


    (4) Ðầu tháng 9 năm 1994, Mẹ lại qua thăm các con cái của Mẹ ở Hà Nội và Thành phố Sàigòn. Sau đó Mẹ Teresa gặp chính quyền về vấn đề bảo lãnh của chúng tôi, nhưng Mẹ vẫn chưa nhận được câu trả lời...! Lần này Mẹ ở lại Việt Nam10 ngày.


    (5) Ngày 20.12.1995, Mẹ và Soeur Nirmala lại sang Hà Nội. Lần này Mẹ sang để xin cho các soeurs được gia hạn - vì Chính phủ Việt Nam không cho phép các soeurs gia hạn tiếp - Mẹ đã xin gặp chính quyền để xin cho các soeurs tiếp tục làm việc. Nhưng ngày 22.12.1995, Mẹ Teresa nhận được lệnh: các soeurs phải rời Việt Nam vào ngày 23.12.1995. Mẹ Teresa rất buồn về điều ấy. Mẹ ôm tôi và nói: "Chúng ta hãy nhận thánh ý Chúa, tìm hiểu thánh ý Ngài muốn chúng ta làm gì". Ước ao của Mẹ Teresa là được mở nhà tại Việt Nam.


    Sau khi các soeurs rời Việt Nam, Mẹ Teresa thấy chưa được phép mở nhà tại Việt Nam cũng như chưa bảo lãnh các chị em qua Ấn Ðộ nên Mẹ đã viết thư cho Ðức cha Giám quản Tông toà Ðịa phận Sài Gòn - Ðức cha Nicolas Huỳnh Văn Nghi - xin ngài cho phép chúng tôi được thành lập Hội dòng mang tên Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô; và sống theo hiến luật, linh đạo của Dòng Mẹ Teresa - Ðức Giám quản Nicolas đã chấp thuận. Mẹ Teresa nói với chúng tôi: "Khi nào Dòng Mẹ được trở lại ViệtNam, nếu các con muốn sát nhập vào Dòng Mẹ, Dòng luôn mở rộng đón các con.


    Năm 1995, Dòng Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô lúc đó có 30 chị em, nay đã hơn 120 chị em gồm 58 khấn; 23 tập sinh và trên 40 thỉnh sinh. Dòng đã và đang phục vụ những người nghèo nhất trong những người nghèo qua việc: đón nhận những cụ già neo đơn bị bỏ rơi, các cô gái lầm lỡ, chăm sóc bệnh nhân AIDS. v.v...


    * Ngày 23.12 1995 Mẹ bị sốt nặng, phải rời Hà Nội bay qua Singapor và Mẹ phải vào nằm trong bệnh viện. Còn các soeurs thì bay qua Hongkong.


    Từ khi rời Việt Nam lần cuối sức khoẻ Mẹ cũng yếu nhiều, nên lần đó trở đi Mẹ không còn có dịp sang Việt Nam vì sức khoẻ không cho phép.


    Ðức cố Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình giới thiệu chúng tôi cho Mẹ, để được huấn luyện trở thành nữ tu của Mẹ và trở về phục vụ người nghèo tại Việt Nam. Vì thế mà những lần sang Việt Nam Mẹ thường đến tham dự thánh lễ, Chầu Thánh Thể và chia sẻ cho chúng tôi.


    Mẹ Teresa đã chia sẻ và để lại cho chúng tôi rất nhiều bài học. Trong những lần Mẹ ở Việt Nam chúng tôi được tiếp xúc, sinh hoạt với Mẹ, lúc ở trên xe, khi ăn cơm hoăc trong giờ chia sẻ...


    Tôi xin kể vài sự việc nho nhỏ về Mẹ Á Thánh Teresa Calcutta:


    Mẹ còn chia sẻ với chúng tôi: "Thiên Chúa nói trong thinh lặng của tâm hồn. Nếu bạn đối diện với Chúa trong thinh lặng và cầu nguyện, Thiên Chúa sẽ nói với bạn". Ðể thực hành sự thinh lặng bên trong thực sự, cần theo các bước sau:


    - Thinh lặng của mắt: bằng cách tìm kiếm vẻ đẹp và sự tốt lành của Thiên Chúa ở mọi nơi; và đóng lại trước những sai lỗi của người khác, trước những tội lỗi và tất cả những gì có thể gây rối loạn cho tâm hồn.


    - Thinh lặng của tai: bằng cách lắng nghe tiếng nói của Chúa, tiếng kêu than thống thiết của người nghèo, người túng quẫn; và đóng lại trước những lời nói thiếu bác ái, nói chuyện không tốt của người khác.


    - Thinh lặng nơi lưỡi: bằng cách luôn ca ngợi Chúa và nói những lời mang lại sự sống của Người; kiềm chế hãm lại những sự tự vệ và tất cả những lời nói gây ra sự tối tăm, rối loạn, đau khổ và chết chóc.


    - Thinh lặng trong trí: bằng cách mở ra trước sự thật và sự hiểu biết về Chúa trong sự cầu nguyện và chiêm niệm; và đóng lại trước những sự giả dối, điên cuồng, những ý nghĩ phá đổ, phán đoán bừa bãi, những hoài nghi sai lầm về người khác và những ý nghĩ cùng ước muốn trả thù.


    - Thinh lặng trong trái tim: bằng cách yêu mến Chúa hết tâm hồn, hết trí khôn và hết sức lực, và yêu thương tha nhân như Chúa yêu thương họ; tránh tất cả những sự ích kỷ, hận thù, tham vọng, ghen ghét và tham lam".


    Mẹ còn đề cao giá trị của tình yêu: "Mỗi hành động của tình yêu, cho dù nhỏ bé đến đâu, đều là một công việc của hoà bình". Có thể chỉ là một nụ cười, một sự viếng thăm ngắn ngủi, thắp một cây đèn dầu, viết giùm một lá thư cho một người mù, xách giúp một thùng than, tặng cho ai đó một đôi giày, hay đọc giùm một tờ báo... những việc thật nhỏ - rất nhỏ mọn - nhưng trong thực tế là tình yêu của Thiên Chúa được thể hiện trong hành động.


    "Tại Ðại chủng viện ơ Bangalore, một tu sĩ lần kia nói với tôi rằng: 'Thưa Mẹ Teresa, Mẹ đang làm hư những người nghèo bằng việc cứ cho họ mọi thứ cách nhưng không. Họ đang mất dần phẩm cách của họ'.


    Khi mọi người thinh lặng, Mẹ điềm tĩnh nói: "Không ai làm hư con người bằng chính Thiên Chúa. Hãy xem tất cả những ân huệ tuyệt vời Chúa đã ban cho chúng ta cách nhưng không. Tất cả các bạn ở đây đều có thể nhìn thấy cả. Nếu Thiên Chúa bắt các bạn trả tiền mới được nhìn thấy cảnh vật chung quanh thì điều gì sẽ xảy ra? Chúng ta đang tiếp tục thở và sống trong bầu khí oxy mà chúng ta không hề trả đồng nào. Và điều gì sẽ xảy ra nếu Thiên Chúa nói: 'Nếu các con làm việc bốn tiếng thì các con sẽ được hưởng ánh mặt trời trong hai tiếng?' Nếu vậy thì có bao nhiêu người trong chúng ta sẽ sống sót?"


    Sau đó Mẹ cũng nói với họ rằng: "Ðã có rất nhiều hội dòng làm hư người giàu, thì cũng tốt thôi nếu có một Hội dòng nhân danh người nghèo để làm hư người nghèo". (Trích trong In The Heart of The World)


    Những lời nói và việc làm của Mẹ không thể kể hết được ở đây. Nhưng tựu chung những hành động yêu thương và những bài nói chuyện của Mẹ đều phát xuất từ một linh đạo đặc biệt.


    Theo linh đạo của Dòng Mẹ, sứ mạng của Hội Dòng là chầu Chúa Giêsu Thánh Thể và phục vụ những người nghèo nhất trong những người nghèo trong đa dạng: nghiện ngập, ma tuý, chăm sóc người hấp hối, cô nhi, người vô gia cư, những người bị bỏ rơi không được ai biết tới,...


    Sau Ðây Là Những Sự Kiện Chính Trong Tiểu Sử Của Mẹ Teresa:


    1928 : Mẹ vào dòng Ðức Mẹ Loretto ở Ái Nhỉ Lan và vào nhà tập ở Darjeeling, Ấn Ðộ.


    1929 - 1948 : Mẹ làm giáo viên dạy địa lý và lịch sử ở trường trung học St. Mary tại Calcutta trong nhiều năm, làm hiệu trưởng của trường.


    1948 : Mẹ đựơc phép của Toà thánh để sống ngoài tu viện và phục vụ những người nghèo nhất trong những người nghèo trên các đường phố của Calcutta.


    1949 : Mẹ nhận quyền công dân Ấn Ðộ.


    1950 : Dòng các soeurs Thừa Sai Bác Ái được Hội thánh Công giáo công nhận, thành lập tại Calcutta.


    1952 : Thiết lập nhà đầu tiên tại Ấn Ðộ - nhà mang tên Nirmal Hriday - bổn mạng là Lễ Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria.


    1953 : Di chuyển nhà Mẹ đến đường Lower Circular, Calcutta.


    1965 : Dòng Thừa Sai Bác Ái trở thành dòng thuộc Quyền Giáo hoàng tại Roma. Nhà đầu tiên được mở ngoài Ấn Ðộ là ở Coconote, nước Venezuela.


    1966 : Dòng nam dòng Thừa Sai Bác Ái được thành lập.


    1969 : Hiệp hội Thiện nguyện quốc tế được thành lập. Mở các nhà tại Úc và bắt đầu lan tràn tại nhiều nước.


    1973 : Các thầy Thừa Sai Bác Ái mở nhà đầu tiên ngoài Ấn Ðộ tại Việt Nam.


    1976 : Mẹ lập ngành chiêm niệm các soeurs Thừa Sai Bác Ái gọi là " Sisters of the Word".


    1979 : Mẹ Teresa lãnh giải thưởng Nobel Hoà bình.


    1980 : Từ năm nay, nhiều nhà được mở cho các bệnh nhân cai nghiện, các cô gái lỡ lầm và những người phụ nữ bị hành hung trên khắp thế giới. Vận động chống lại việc phá thai bằng cách khuyến khích nhận con nuôi; xây dựng cô nhi viện và các trường học cho trẻ em nghèo.


    1985 : Thiết lập trung tâm cho những bệnh nhân AIDS tại New York.


    1986 : Thành lập Tu hội đời Thừa Sai Bác Ái.


    1988 : Mẹ gởi các soeurs Thừa Sai Bác Ái đến làm việc tại Nga. - Mở một nhà cho bệnh nhân AIDS tại San Francisco ở Mỹ.


    - Ngày 24.09. 1991: Mẹ đến Hà Nội, Việt Nam.


    - Ngày 05.11.1993 : Mẹ đến thành phố Sàigòn.


    - Ngày 01.04.1994 : Mẹ gởi 8 soeurs Thừa Sai Bác Ái đến làm việc tại Việt Nam: 4 soeurs làm việc tại trung tâm Thuỵ An, Ba Vì, Hà Nội; và 4 soeurs làm việc tại 38 Tú Xương, Q.3, TP Sàigòn.


    Hiện nay, Dòng Mẹ Á Thánh Teresa Calcutta có 759 nhà tại 136 nước trên thế giới với gần 4,500 nữ tu.


    - Ðầu tháng 4.2006 Dòng đã gởi 4 nữ tu sang Thượng Hải theo lời mời của Ðức Giám mục Thượng Hải.


    - Ngày 06.06.2006, Soeur Nirmala (BT Tổng quyền- kế vị Mẹ Teresa) cùng Soeur Lysa (phó BT Tổng quyền) và Soeur Leon (Giám Tỉnh Hongkong) đã đến Việt Nam, có Soeur BT Marie Francoise Hà Thị Thanh Tịnh ra đón tại Hà Nội. Và ngày 09.06.2006, Soeur Marie Francoise cùng với phái đoàn các Soeurs lên gặp Ban Tôn giáo Chính phủ. Ban Tôn giáo đã tiếp đón vui vẻ và sẵn sàng mời các Soeurs sang làm việc từ thiện tại Việt Nam.


    Ban Tôn giáo Chính phủ và TP. Sàigòn đã cho phép Dòng Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô tại TP. Sàigòn - 428 Huỳnh Văn Bánh, F.14, Phú Nhuận - được tiếp đón các Soeurs trong tu viện của Dòng 01 tháng, nhưng các soeurs có chương trình nên chỉ ở 01 tuần lễ. Trong thời gian này các soeurs đi thăm tất cả các cộng đoàn của Dòng Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô. Soeur Nirmala nhận định: "Chính phủ Việt Nam đã có rất nhiều cởi mở so với cách đây 10 năm".


    Dòng của Mẹ gồm 8 ngành:
    1. Ngành hoạt động nữ.
    2. Ngành chiêm niệm nữ.
    3. Ngành hoạt động nam.
    4. Ngành chiêm niệm nam.
    5. Ngành các cha Thừa sai.
    6. Tu hội đời Thừa sai.
    7. Hiệp hội những người thiện nguyện.
    8. Hiệp hội những bệnh nhân và những người đau khổ.

    Sr. Marie Francoise Hà Thị Thanh Tịnh - MCC.
    Tổng phụ trách Dòng Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô

    (Kỷ niệm 3 năm phong chân phước Mẹ Têrêsa, ngày 19/10/2003-19/10/2006
    Veritas Radio - Đài Phát Thanh Chân Lý Á Châu )










    Chữ ký của Gia Nhân

    LoVe yOu & LoVe mE

  6. Có 2 người cám ơn Gia Nhân vì bài này:


  7. #4
    Dom Khoa's Avatar

    Tuổi: 24
    Tham gia ngày: Feb 2010
    Tên Thánh: Đôminicô
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Hòa Thành, Cà Mau
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 155
    Cám ơn
    417
    Được cám ơn 636 lần trong 140 bài viết

    Default

    Lạy Mẹ Têrêsa, xin cầu bầu cùng Chúa cho mọi người khắp nơi trên thế giới đều có quả tim biết yêu như Mẹ.
    Chữ ký của Dom Khoa
    Lạy chúa! Con đây

  8. #5
    hongbinh's Avatar

    Tham gia ngày: Sep 2010
    Tên Thánh: Gioan Baotixita
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Gx Thổ Hoàng
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 5,901
    Cám ơn
    9,433
    Được cám ơn 27,500 lần trong 4,680 bài viết

    Default

    Trích Nguyên văn bởi Gia Nhân View Post
    Mẹ Têrêsa Calcutta hết lòng gắn bó với Việt Nam

    Mẹ Á Thánh Teresa Calcutta sinh ngày 26.08.1910, tại Skopje nước Albanie. Tên thánh Rửa tội và tên gọi là Agnes Gonxha
    Bojaxhiu.


    Nhân dịp kỷ niệm 3 năm Mẹ Teresa Calcutta được phong chân phước - ngày 19.10.2003 - chúng tôi muốn được chia sẻ một vài nét về Mẹ trong những lần Mẹ đến Việt Nam mà chúng tôi được gặp gỡ.


    - Vào tháng 6 năm 1973, Mẹ Teresa và Cha Andrew gửi 7 thầy Thừa Sai Bác Ái từ Ấn Ðộ đến Việt Nam. Ðức Tổng Phaolô Nguyễn Văn Bình đã mua 2 căn nhà tại đường Cống Quỳnh cho các thầy ở và làm việc. Các thầy rước các người vô gia cư về chăm sóc, nhưng chỉ được vài năm thì biến cố 1975 các thầy đã phải tản cư sang Hongkong và Campuchia.


    Ðức Tổng Phaolô Nguyễn Văn Bình rất yêu thích linh đạo của Mẹ Teresa. Trong hoàn cảnh mới giao thời của năm 1975, khó khăn nhiều mặt, nhất là khan hiếm về thuốc men mà bệnh tật lại nhiều và người vùng quê tỉnh lẻ không dễ dàng nhập các bệnh viện tại Sài Gòn để điều trị.


    Mặt trận Cộng sản miền Bắc tiếp nhận các bệnh viện Sài Gòn và hầu hết các bệnh viện trong miền Nam - đội ngũ y bác sĩ tản cư chạy loạn... phải mất mấy năm sau mới có thể ổn định.


    Trước nhu cầu của những bệnh nhân nghèo, Ðức Tổng Bình đã mời gọi một số bác sĩ y tá người công giáo họp thành một nhóm để có thể tiếp cận chữa bệnh miễn phí và chia sẻ thuốc men cần kíp cho bệnh nhân nghèo, hoặc rước Mình Thánh Chúa cho họ. Sau này nhóm còn lại vài bác sĩ, một số y tá và các thành viên thường xuyên lui tới bệnh viện; tất cả những người này độc thân nên có nhiều thì giờ tham gia sinh hoạt. Nhóm này mỗi tháng1 lần lên gặp Ðức Tổng để được người chia sẻ Lời Chúa và huấn đức, cũng như trình cho ngài biết những sinh hoạt hoặc những khó khăn.


    Từ năm 1991 tới ngày 20.12.1995, Mẹ đã đến Việt Nam 5 lần:


    (1) Lần thứ nhất là đầu tháng 9 năm 1991, Mẹ Teresa đến Hà nội gặp Chính phủ Việt Nam.


    (2) Lần thứ hai, ngày 05.11.1993 Mẹ đi từ Calcutta đến thành phố Sàigòn. Cùng đi với Mẹ là Soeur Nirmala - nay là Bề trên Tổng quyền Dòng Thừa Sai Bác Ái của Mẹ Teresa - và có cô bác sĩ tên Jannet, cô cũng là thành viên của Tu hội đời của Mẹ. Chỉ có ông lãnh sứ quán Ấn Ðộ và cô Thanh Nga ra phi trường đón Mẹ bởi vì vợ của ông lãnh sứ quán từ Calcutta gọi điện và báo về cho ông rằng: "Mẹ đến Việt Nam", (cô ấy là người công giáo, là thư ký của ông). Theo lời của cô thư ký nói lại với chúng tôi, vừa lên xe ông lãnh sứ quán, Mẹ đã đưa cho ông ấy tên và địa chỉ của Chị Marie Francoise Hà Thị Thanh Tịnh - vì có thư của tôi gửi cho Mẹ và thư của Ðức Cố Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình đã giới thiệu tôi và một số chị em cho Mẹ - Vì thế tôi và một vài chị em lên gặp Mẹ tại khách sạn Ðộc lập. Sau đó Mẹ nói tôi gọi điện qua Toà Giám Mục để xin hẹn được gặp chào Ðức Tổng Phaolô - Ðức Tổng đang nghỉ dưỡng bệnh tại Bãi Dâu Vũng Tàu - Ngài hẹn gặp Mẹ vào 2 giờ chiều ngày thứ Bảy mồng 6.11.1993. Mẹ đã ở lại Sài Gòn một tuần lễ và mỗi ngày Mẹ đến chia sẻ với chị em chúng tôi tại 428 Huỳnh Văn Bánh, F. 14, Phú Nhuận, giáo xứ Tân Hoà.


    (3) Vào tháng 4 năm 1994, Mẹ sang Việt Nam lần thứ 3. Mẹ được Bộ Thương binh Xã hội mời 8 nữ tu của Mẹ qua Việt Nam làm việc: 4 nữ tu chăm sóc các em cô nhi tại 38 Tú Xương, Q.3, Tp. Sàigòn; và 4 nữ tu chăm sóc các em khuyết tật tại trung tâm Thụy An, Ba Vì, Hưng Hoá. Ðồng thời Mẹ Teresa làm đơn gửi Chính phủ Trung ương Hà Nội xin mở nhà dòng tại Việt Nam; Mẹ có đề cập tới 20 chị em chúng tôi xin gia nhập Dòng và xin bảo lãnh 7 người chúng tôi qua Ấn Ðộ để được huấn luyện.


    Một buổi chiều đầu tháng 4 năm 1994, tôi chuẩn bị rước Mình Thánh Chúa cho một Linh mục bà con đang nằm tại bệnh viện Chợ Rẫy, ngài là Cha Gioan Hồ Hán Thanh, thuộc giáo phận Ban Mê Thuột - ngài bị sưng khớp đầu gối không thể đi lại và rất đau nhức - ngài phải nằm điều trị tại lầu 7 bệnh viện Chợ Rẫy. Ngài và một vị Ðảng viên cộng sản (40 năm tuổi Ðảng) đã về hưu cùng nằm chung một phòng.


    Tôi và một chị khác đang chuẩn bị đi thì gặp Mẹ Teresa và Soeur Nirmala đi tắc-xi tới - Lần này Mẹ tới không báo trước - Khi tôi cho Mẹ biết là tôi rước Mình Thánh Chúa và đi thăm Cha Gioan Thanh bà con của tôi, Mẹ cũng muốn cùng hai chị em chúng tôi đi thăm Cha. Khi tới trước cửa phòng của Cha Thanh, tôi đã nói nhỏ với Mẹ và chỉ cho Mẹ biết giường nào là của Cha Gioan Thanh và giường nào là của ông Ðảng viên.


    Mẹ bước vào phòng, đi thẳng tới giường ông Ðảng viên hỏi thăm ông và khi biết ông ấy bị đau tim, Mẹ Á Thánh Teresa đã đặt bàn tay lên ngực của ông và cầu nguyện vài phút. Sau đó Mẹ lấy một ảnh Ðức Mẹ Ban Ơn trong giỏ vải xách tay của Mẹ, Mẹ đã hôn ảnh trước khi đưa cho ông Ðảng viên và nói: "Xin Ðức Mẹ Maria chúc lành và ban cho ông mau bình phục". Tiếp đó Mẹ mới qua giường Cha Gioan Thanh, Mẹ cũng đặt tay trên 2 đầu gối của Cha cầu nguyện và Cha Thanh rước Mình Thánh Chúa. Vài ngày sau, tôi tới thăm cha Thanh, điều cảm động và hết sức ngạc nhiên là tôi nhìn thấy ông Ðảng viên đeo mẫu ảnh Ðức Mẹ Ban Ơn trên túi áo ông ấy mặc.


    Mẹ chia sẻ với chúng tôi: "Thế giới này đã quá nhiều bom đạn, những thứ đó không thể đem lại hoà bình hạnh phúc - chỉ có tình yêu và lòng thương xót. Hãy bắt đầu bằng một nụ cười - hãy mỉm cười ít là 5 lần mỗi ngày với người mà bạn không muốn cười tí nào! Xin hãy làm điều đó vì hoà bình! Ngày nay trên thế giới có quá nhiều đau khổ, rất nhiều! Những đau khổ về vật chất như: đau khổ vì đói, đau khổ vì không nhà cửa, đau khổ vì bệnh tật... Nhưng tôi vẫn nghĩ rằng đau khổ lớn nhất là cô đơn! Bị bỏ rơi, không ai yêu thương là căn bệnh khủng khiếp nhất mà bất cứ ai đều cảm nhận được".


    Trong thời đại văn minh và phát triển ngày nay, cả thế giới ai cũng vội vã và hối hả, nhưng cũng có những người quỵ ngã trên đường và không còn đủ sức để đứng lên mà đi. Ðó là những người mà chúng ta phải quan tâm.


    (4) Ðầu tháng 9 năm 1994, Mẹ lại qua thăm các con cái của Mẹ ở Hà Nội và Thành phố Sàigòn. Sau đó Mẹ Teresa gặp chính quyền về vấn đề bảo lãnh của chúng tôi, nhưng Mẹ vẫn chưa nhận được câu trả lời...! Lần này Mẹ ở lại Việt Nam10 ngày.


    (5) Ngày 20.12.1995, Mẹ và Soeur Nirmala lại sang Hà Nội. Lần này Mẹ sang để xin cho các soeurs được gia hạn - vì Chính phủ Việt Nam không cho phép các soeurs gia hạn tiếp - Mẹ đã xin gặp chính quyền để xin cho các soeurs tiếp tục làm việc. Nhưng ngày 22.12.1995, Mẹ Teresa nhận được lệnh: các soeurs phải rời Việt Nam vào ngày 23.12.1995. Mẹ Teresa rất buồn về điều ấy. Mẹ ôm tôi và nói: "Chúng ta hãy nhận thánh ý Chúa, tìm hiểu thánh ý Ngài muốn chúng ta làm gì". Ước ao của Mẹ Teresa là được mở nhà tại Việt Nam.


    Sau khi các soeurs rời Việt Nam, Mẹ Teresa thấy chưa được phép mở nhà tại Việt Nam cũng như chưa bảo lãnh các chị em qua Ấn Ðộ nên Mẹ đã viết thư cho Ðức cha Giám quản Tông toà Ðịa phận Sài Gòn - Ðức cha Nicolas Huỳnh Văn Nghi - xin ngài cho phép chúng tôi được thành lập Hội dòng mang tên Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô; và sống theo hiến luật, linh đạo của Dòng Mẹ Teresa - Ðức Giám quản Nicolas đã chấp thuận. Mẹ Teresa nói với chúng tôi: "Khi nào Dòng Mẹ được trở lại ViệtNam, nếu các con muốn sát nhập vào Dòng Mẹ, Dòng luôn mở rộng đón các con.


    Năm 1995, Dòng Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô lúc đó có 30 chị em, nay đã hơn 120 chị em gồm 58 khấn; 23 tập sinh và trên 40 thỉnh sinh. Dòng đã và đang phục vụ những người nghèo nhất trong những người nghèo qua việc: đón nhận những cụ già neo đơn bị bỏ rơi, các cô gái lầm lỡ, chăm sóc bệnh nhân AIDS. v.v...


    * Ngày 23.12 1995 Mẹ bị sốt nặng, phải rời Hà Nội bay qua Singapor và Mẹ phải vào nằm trong bệnh viện. Còn các soeurs thì bay qua Hongkong.


    Từ khi rời Việt Nam lần cuối sức khoẻ Mẹ cũng yếu nhiều, nên lần đó trở đi Mẹ không còn có dịp sang Việt Nam vì sức khoẻ không cho phép.


    Ðức cố Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình giới thiệu chúng tôi cho Mẹ, để được huấn luyện trở thành nữ tu của Mẹ và trở về phục vụ người nghèo tại Việt Nam. Vì thế mà những lần sang Việt Nam Mẹ thường đến tham dự thánh lễ, Chầu Thánh Thể và chia sẻ cho chúng tôi.


    Mẹ Teresa đã chia sẻ và để lại cho chúng tôi rất nhiều bài học. Trong những lần Mẹ ở Việt Nam chúng tôi được tiếp xúc, sinh hoạt với Mẹ, lúc ở trên xe, khi ăn cơm hoăc trong giờ chia sẻ...


    Tôi xin kể vài sự việc nho nhỏ về Mẹ Á Thánh Teresa Calcutta:


    Mẹ còn chia sẻ với chúng tôi: "Thiên Chúa nói trong thinh lặng của tâm hồn. Nếu bạn đối diện với Chúa trong thinh lặng và cầu nguyện, Thiên Chúa sẽ nói với bạn". Ðể thực hành sự thinh lặng bên trong thực sự, cần theo các bước sau:


    - Thinh lặng của mắt: bằng cách tìm kiếm vẻ đẹp và sự tốt lành của Thiên Chúa ở mọi nơi; và đóng lại trước những sai lỗi của người khác, trước những tội lỗi và tất cả những gì có thể gây rối loạn cho tâm hồn.


    - Thinh lặng của tai: bằng cách lắng nghe tiếng nói của Chúa, tiếng kêu than thống thiết của người nghèo, người túng quẫn; và đóng lại trước những lời nói thiếu bác ái, nói chuyện không tốt của người khác.


    - Thinh lặng nơi lưỡi: bằng cách luôn ca ngợi Chúa và nói những lời mang lại sự sống của Người; kiềm chế hãm lại những sự tự vệ và tất cả những lời nói gây ra sự tối tăm, rối loạn, đau khổ và chết chóc.


    - Thinh lặng trong trí: bằng cách mở ra trước sự thật và sự hiểu biết về Chúa trong sự cầu nguyện và chiêm niệm; và đóng lại trước những sự giả dối, điên cuồng, những ý nghĩ phá đổ, phán đoán bừa bãi, những hoài nghi sai lầm về người khác và những ý nghĩ cùng ước muốn trả thù.


    - Thinh lặng trong trái tim: bằng cách yêu mến Chúa hết tâm hồn, hết trí khôn và hết sức lực, và yêu thương tha nhân như Chúa yêu thương họ; tránh tất cả những sự ích kỷ, hận thù, tham vọng, ghen ghét và tham lam".


    Mẹ còn đề cao giá trị của tình yêu: "Mỗi hành động của tình yêu, cho dù nhỏ bé đến đâu, đều là một công việc của hoà bình". Có thể chỉ là một nụ cười, một sự viếng thăm ngắn ngủi, thắp một cây đèn dầu, viết giùm một lá thư cho một người mù, xách giúp một thùng than, tặng cho ai đó một đôi giày, hay đọc giùm một tờ báo... những việc thật nhỏ - rất nhỏ mọn - nhưng trong thực tế là tình yêu của Thiên Chúa được thể hiện trong hành động.


    "Tại Ðại chủng viện ơ Bangalore, một tu sĩ lần kia nói với tôi rằng: 'Thưa Mẹ Teresa, Mẹ đang làm hư những người nghèo bằng việc cứ cho họ mọi thứ cách nhưng không. Họ đang mất dần phẩm cách của họ'.


    Khi mọi người thinh lặng, Mẹ điềm tĩnh nói: "Không ai làm hư con người bằng chính Thiên Chúa. Hãy xem tất cả những ân huệ tuyệt vời Chúa đã ban cho chúng ta cách nhưng không. Tất cả các bạn ở đây đều có thể nhìn thấy cả. Nếu Thiên Chúa bắt các bạn trả tiền mới được nhìn thấy cảnh vật chung quanh thì điều gì sẽ xảy ra? Chúng ta đang tiếp tục thở và sống trong bầu khí oxy mà chúng ta không hề trả đồng nào. Và điều gì sẽ xảy ra nếu Thiên Chúa nói: 'Nếu các con làm việc bốn tiếng thì các con sẽ được hưởng ánh mặt trời trong hai tiếng?' Nếu vậy thì có bao nhiêu người trong chúng ta sẽ sống sót?"


    Sau đó Mẹ cũng nói với họ rằng: "Ðã có rất nhiều hội dòng làm hư người giàu, thì cũng tốt thôi nếu có một Hội dòng nhân danh người nghèo để làm hư người nghèo". (Trích trong In The Heart of The World)


    Những lời nói và việc làm của Mẹ không thể kể hết được ở đây. Nhưng tựu chung những hành động yêu thương và những bài nói chuyện của Mẹ đều phát xuất từ một linh đạo đặc biệt.


    Theo linh đạo của Dòng Mẹ, sứ mạng của Hội Dòng là chầu Chúa Giêsu Thánh Thể và phục vụ những người nghèo nhất trong những người nghèo trong đa dạng: nghiện ngập, ma tuý, chăm sóc người hấp hối, cô nhi, người vô gia cư, những người bị bỏ rơi không được ai biết tới,...


    Sau Ðây Là Những Sự Kiện Chính Trong Tiểu Sử Của Mẹ Teresa:


    1928 : Mẹ vào dòng Ðức Mẹ Loretto ở Ái Nhỉ Lan và vào nhà tập ở Darjeeling, Ấn Ðộ.


    1929 - 1948 : Mẹ làm giáo viên dạy địa lý và lịch sử ở trường trung học St. Mary tại Calcutta trong nhiều năm, làm hiệu trưởng của trường.


    1948 : Mẹ đựơc phép của Toà thánh để sống ngoài tu viện và phục vụ những người nghèo nhất trong những người nghèo trên các đường phố của Calcutta.


    1949 : Mẹ nhận quyền công dân Ấn Ðộ.


    1950 : Dòng các soeurs Thừa Sai Bác Ái được Hội thánh Công giáo công nhận, thành lập tại Calcutta.


    1952 : Thiết lập nhà đầu tiên tại Ấn Ðộ - nhà mang tên Nirmal Hriday - bổn mạng là Lễ Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria.


    1953 : Di chuyển nhà Mẹ đến đường Lower Circular, Calcutta.


    1965 : Dòng Thừa Sai Bác Ái trở thành dòng thuộc Quyền Giáo hoàng tại Roma. Nhà đầu tiên được mở ngoài Ấn Ðộ là ở Coconote, nước Venezuela.


    1966 : Dòng nam dòng Thừa Sai Bác Ái được thành lập.


    1969 : Hiệp hội Thiện nguyện quốc tế được thành lập. Mở các nhà tại Úc và bắt đầu lan tràn tại nhiều nước.


    1973 : Các thầy Thừa Sai Bác Ái mở nhà đầu tiên ngoài Ấn Ðộ tại Việt Nam.


    1976 : Mẹ lập ngành chiêm niệm các soeurs Thừa Sai Bác Ái gọi là " Sisters of the Word".


    1979 : Mẹ Teresa lãnh giải thưởng Nobel Hoà bình.


    1980 : Từ năm nay, nhiều nhà được mở cho các bệnh nhân cai nghiện, các cô gái lỡ lầm và những người phụ nữ bị hành hung trên khắp thế giới. Vận động chống lại việc phá thai bằng cách khuyến khích nhận con nuôi; xây dựng cô nhi viện và các trường học cho trẻ em nghèo.


    1985 : Thiết lập trung tâm cho những bệnh nhân AIDS tại New York.


    1986 : Thành lập Tu hội đời Thừa Sai Bác Ái.


    1988 : Mẹ gởi các soeurs Thừa Sai Bác Ái đến làm việc tại Nga. - Mở một nhà cho bệnh nhân AIDS tại San Francisco ở Mỹ.


    - Ngày 24.09. 1991: Mẹ đến Hà Nội, Việt Nam.


    - Ngày 05.11.1993 : Mẹ đến thành phố Sàigòn.


    - Ngày 01.04.1994 : Mẹ gởi 8 soeurs Thừa Sai Bác Ái đến làm việc tại Việt Nam: 4 soeurs làm việc tại trung tâm Thuỵ An, Ba Vì, Hà Nội; và 4 soeurs làm việc tại 38 Tú Xương, Q.3, TP Sàigòn.


    Hiện nay, Dòng Mẹ Á Thánh Teresa Calcutta có 759 nhà tại 136 nước trên thế giới với gần 4,500 nữ tu.


    - Ðầu tháng 4.2006 Dòng đã gởi 4 nữ tu sang Thượng Hải theo lời mời của Ðức Giám mục Thượng Hải.


    - Ngày 06.06.2006, Soeur Nirmala (BT Tổng quyền- kế vị Mẹ Teresa) cùng Soeur Lysa (phó BT Tổng quyền) và Soeur Leon (Giám Tỉnh Hongkong) đã đến Việt Nam, có Soeur BT Marie Francoise Hà Thị Thanh Tịnh ra đón tại Hà Nội. Và ngày 09.06.2006, Soeur Marie Francoise cùng với phái đoàn các Soeurs lên gặp Ban Tôn giáo Chính phủ. Ban Tôn giáo đã tiếp đón vui vẻ và sẵn sàng mời các Soeurs sang làm việc từ thiện tại Việt Nam.


    Ban Tôn giáo Chính phủ và TP. Sàigòn đã cho phép Dòng Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô tại TP. Sàigòn - 428 Huỳnh Văn Bánh, F.14, Phú Nhuận - được tiếp đón các Soeurs trong tu viện của Dòng 01 tháng, nhưng các soeurs có chương trình nên chỉ ở 01 tuần lễ. Trong thời gian này các soeurs đi thăm tất cả các cộng đoàn của Dòng Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô. Soeur Nirmala nhận định: "Chính phủ Việt Nam đã có rất nhiều cởi mở so với cách đây 10 năm".


    Dòng của Mẹ gồm 8 ngành:
    1. Ngành hoạt động nữ.
    2. Ngành chiêm niệm nữ.
    3. Ngành hoạt động nam.
    4. Ngành chiêm niệm nam.
    5. Ngành các cha Thừa sai.
    6. Tu hội đời Thừa sai.
    7. Hiệp hội những người thiện nguyện.
    8. Hiệp hội những bệnh nhân và những người đau khổ.

    Sr. Marie Francoise Hà Thị Thanh Tịnh - MCC.
    Tổng phụ trách Dòng Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô

    (Kỷ niệm 3 năm phong chân phước Mẹ Têrêsa, ngày 19/10/2003-19/10/2006
    Veritas Radio - Đài Phát Thanh Chân Lý Á Châu )










    Đây là một tài liệu quý có liên quan tới cuộc đời hoạt động của mẹ TêRêXa tại Việt Nam, Gia Nhân nên ghi rõ tác giả là : Sr. Marie Francoise Hà Thị Thanh Tịnh - MCC.Tổng phụ trách Dòng Thừa Sai Bác Ái Chúa Kitô, kẻo nếu để trống như vậy chỉ có cái nguồn conggiao.info rất nhỏ nằm ở trên tác giả có lẽ sẽ rất buồn và mình sẽ có lỗi với tác giả nữa..........Có thể kiểm chứng thông tin tại đây: http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/06news/6news325.htm
    Chữ ký của hongbinh
    Đạm bạc dĩ minh chí
    Ninh tĩnh nhi chí viễn

  9. Được cám ơn bởi:


  10. #6
    phale's Avatar

    Tham gia ngày: Mar 2012
    Tên Thánh: Maria
    Giới tính: Nữ
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 5,030
    Cám ơn
    6,892
    Được cám ơn 6,056 lần trong 1,841 bài viết

    Default Thiên sứ của Lòng Chúa thương xót

    Thiên sứ của Lòng Chúa thương xót

    Nhấn vào ảnh để xem kích thước thật

Tên:  Teresa Calcutta.jpg
Lần xem: 210
Kích thước:  43.5 KB

    Chúa Nhật 4-9-2016, Giáo hội Công giáo hân hoan kính chào một vị thánh mới: Mẹ Têrêsa Calcutta (TP Kolkata, Ấn Độ, 1910-1997).


    Mẹ Teresa được mệnh danh là “Thiên Sứ của Thiên Chúa”. Cả cuộc đời Mẹ đấu tranh cho giá trị nhân phẩm của những con người nghèo khổ nhất, đã nêu gương luân lý làm cầu nối các khoảng cách về văn hóa, giai cấp và tôn giáo. Một con người có vóc dáng nhỏ bé nhưng lại có trái tim “cực đại” và đầy lòng nhân ái. Bà nói: “Ngay cả những người giàu cũng khao khát tình yêu, muốn được quan tâm, muốn có ai đó thuộc về mình”.

    Cha mẹ của bà là người Albani. Bà sinh ngày 26-8-1910 tại Shkup (nay là Skopje), thuộc Cộng hòa Nam Tư (Macedonia), trước đó là Yugoslavia, với tên “cúng cơm” là Agnes Gonxha Bojaxhiu. Bà là con út trong 3 người con.

    Lúc bà 7 tuổi, cha của bà bị giết, nên bà quan tâm chính trị. Tuổi thiếu niên, bà là thành viên của nhóm bạn trẻ trong giáo xứ, gọi là nhóm Tương tế Tôn giáo (Sodality), dưới sự hướng dẫn của một linh mục Dòng Tên, bà cảm thấy quan tâm việc truyền giáo. Lúc 17 tuổi, bà gia nhập Dòng Nữ tử Loreto ở Ai-len, một dòng chuyên về giáo dục, rồi bà được gởi tới Bengal năm 1929 để vào nhà tập. Bà chỉ lõm bõm tiếng Anh nhưng vẫn khấn lần đầu, với tên dòng là Têrêsa (chọn theo tên của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu).

    Đến năm 1950, nữ tu Têrêsa lập Dòng Truyền giáo Bác ái (Dòng Thừa sai Bác ái, Missionaries of Charity). Bà nhận Giải Nobel Hòa bình năm 1979 và nhận Giải Bharat Ratna (भारत रत्न, nghĩa là “Viên Ngọc Ấn Độ”, giải thưởng cao nhất của Ấn Độ dành cho người dân) năm 1980. Trước đó, năm 1962, bà đã được chính phủ Ấn trao giải Padma Shri. Trong những thập niên kế tiếp bà được trao tặng các giải thưởng lớn như Giải Jawaharlal Nehru về Hiểu biết Quốc tế năm 1972.

    Trong thời kỳ Ấn Độ bị người Anh đô hộ (British Raj), trường Loreto nhận rất ít người Ấn, đa số là người Hindu Bengal, con gái các gia đình có thế lực ở Calcutta, nhưng đa số giáo viên vẫn là các nữ tu gốc Ai-len. Nữ tu Têrêsa không thuộc Dòng Nữ tử Loreto nữa nhưng thi thoảng bà vẫn về thăm. Bà dạy ở các trường nữ khác trong 3 năm trước khi (như bà nói) “theo Chúa đến với người nghèo khổ”. Theo các nữ sinh nói, sự gián đoạn đó không hoàn toàn thân thiện, ít là phần các nữ tu Dòng Loreto.

    Hình ảnh nữ tu Têrêsa nhỏ bé, với tấm khăn choàng sari (trang phục của phụ nữ Ấn) xõa xuống vai và lưng, bước đi trên đường đá đỏ, trông thật giản dị và khiêm nhường. Bà luôn có một hoặc hai nữ tu choàng sari đi theo. Bà là con người kỳ lạ của thế kỷ XX. Có thể bà “khác người” vì chúng ta không thấy nữ tu nào choàng sari như vậy. Nhưng đó là thói quen của nữ tu Têrêsa vùng Calcutta, bà “quên” mình là người Albani để hòa nhập và hoàn toàn nên giống các phụ nữ Ấn.

    Chính phủ đã “ầm ĩ” chống truyền giáo nhưng chưa bao giờ làm khó các nữ tu truyền giáo.





    Đầu thập niên 1950, các học sinh không có đạo ở Nhà Loreto đã nghi ngờ ý định của Mẹ Têrêsa trong việc giúp đỡ các trẻ em đường phố hoặc trẻ mồ côi. Bà đang cứu vớt chúng để “dụ” đưa chúng vào đạo Công giáo? Cứ hai tuần một lần, Mẹ Têrêsa nói chuyện để vận động phụ nữ không phá thai và bảo vệ sự sống.

    Dự định của Mẹ Têrêsa là chăm sóc những người bệnh ở thời kỳ cuối, những người đến Đền Kalighat để được chết gần “thánh địa”. Mẹ Têrêsa không mong kéo dài sự sống cho họ, nhưng buồn về tình trạng nhơ uế và cô độc của họ trong thời gian cuối đời. Mẹ Têrêsa quan ngại về tỷ lệ tử vong và ám ảnh về cách chết của họ, ngược với quan niệm của người Hindu về sự tái sinh và sự chết là được giải thoát khỏi maya.

    Mẹ Têrêsa lập một trại phong (Leprosarium) ở ngoại ô Calcutta, trên khu đất do chính phủ cấp. Bà là người lý tưởng hóa hơn là người lập dị. Người phong cùi bị coi thường không chỉ ở Calcutta mà ở khắp Ấn Độ, đến vài xu lẻ cũng không ai muốn bố thí cho họ. Ai cũng sợ bị lây nhiễm. Từ đó, người ta cũng có ánh mắt không thiện cảm với Mẹ Têrêsa.

    Từ năm 1970, Mẹ Têrêsa trở nên một nhân vật nổi tiếng thế giới với các hoạt động nhân đạo cứu giúp người nghèo và những người sống trong hoàn cảnh tuyệt vọng, một phần cũng nhờ cuốn sách và bộ phim tư liệu tựa đề “Something Beautiful for God” (Điều Tốt Đẹp Dành Cho Chúa) của Malcome Muggeridge.

    Bà không chỉ là nhà truyền giáo, mà còn là một “lương y” tận tình chăm sóc người phong cùi. Cách dấn thân của bà đã thay đổi người dân Calcutta, chính các nữ tu Dòng Loreto cũng trở lại tìm bà.

    Dân Calcutta rất quý mến Mẹ Têrêsa. Các chị em ở trường nữ Loreto hồi thập niên 1970 đều trở nên các bà vợ tốt, có địa vị trong xã hội và tình nguyện hoạt động xã hội theo ý định của Mẹ Têrêsa, nhất là vì trại phong. Những năm sau, Mẹ Têrêsa rất tin tưởng những phụ nữ tốt nghiệp trường Loreto.

    Số phận những người vận động luân lý dễ bị tổn thương vì các thay đổi của thói đạo đức giả hoặc tùy tiện của các chiến dịch. Những kẻ gièm pha đã kết tội Mẹ Têrêsa là phóng đại cảnh nghèo khổ của dân Calcutta. Mẹ Têrêsa luôn phải phải đấu tranh, dù vẫn bị người ta chỉ trích nhưng hoạt động của bà không suy giảm. Thậm chí bà còn thành công và cảm hóa chính những người đã nghi ngờ hoặc những người ghen ghét bà. Chính Mẹ Têrêsa đã thay đổi nhiều trái tim, đó là phép lạ thực sự vĩ đại.

    Mẹ Têrêsa nói: “Ở Tây phương có sự cô đơn, điều mà tôi gọi là bệnh-phong-của-Tây-phương. Bằng nhiều cách, nó còn tệ hơn người nghèo của chúng tôi tại Calcutta. Tôi không bao giờ từ chối một đứa trẻ nào, không bao giờ, dù chỉ một”.

    Năm 1950, cũng là năm Mẹ Têrêsa lập Dòng Truyền giáo Bác ái, ĐGH Piô XII đã phê chuẩn dòng này. Mẹ Têrêsa cũng đã từng có những lần sang thăm Việt Nam, chính Gx Thanh Đa (giáo hạt Gia Định, Saigon) đã được vinh dự đón tiếp Mẹ.

    Vì tuổi cao sức yếu, Mẹ Têrêsa qua đời ngày 5-9-1997, sau hơn nửa thế kỷ phục vụ những người cùng đinh trong xã hội trong đức ái của Chúa Giêsu. Mẹ Têrêsa được ĐGH Gioan Phaolô II tôn phong chân phước ngày 19-10-2003.

    Mẹ Teresa là nhân chứng sống động của Lòng Chúa Thương Xót. Thật tuyệt vời và phấn khởi, nhưng cũng thực sự mắc cở, khi nhớ lại lời nhận xét của Mẹ: “Người nghèo KHÔNG CẦN chúng ta THƯƠNG HẠI, họ cần TÌNH YÊU và CẢM THÔNG. Họ cho chúng ta nhiều hơn chúng ta cho họ. Trong thời gian khó khăn của Ấn Độ, chúng tôi xin một số người tình nguyện từ khắp nơi đến giúp. Nhiều ngàn người đã đến, và khi họ ra về, họ có chung nhận xét là họ đã đem về nhiều hơn là đem cho. Có một lần ờ Calcutta, chúng tôi nhặt được năm người đang hấp hối, trong đó có một người phụ nữ bệnh quá nặng. Tôi muốn ngồi với chị trong giờ phút cuối cùng. Tôi đặt tay tôi lên tay chị. Chợt chị tỉnh ra, nhìn tôi, không than đói, không than khát, nhưng cười và nói lời cảm ơn trước khi nhắm mắt từ giã cuộc đời”.

    Lạy Mẹ Têrêsa, xin ban cho chúng con trái tim nhân hậu như Mẹ để chúng con yêu thương mọi người, nhất là những người nghèo khổ, những người bị ruồng bỏ, những người bị ngược đãi,… Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ giàu lòng thương xót của chúng con. Amen.

    TRẦM THIÊN THU

    _____________________________________________________________________

    KINH CẦU THÁNH TERESA CALCUTTA
    (Trầm Thiên Thu chuyển ngữ)

    Kinh cầu làm Tuần Cửu Nhật kính nhớ và cầu xin Mẹ Teresa Calcutta – từ 27-8 tới 5-9:

    Lạy Chúa Giêsu, xin giúp con truyền bá hương thơm của Ngài tới mọi nơi con đến. Xin đổ vào linh hồn con tràn ngập tinh thần và tình yêu của Ngài. Xin làm thấm nhuần và sở hữu con hoàn toàn để cả cuộc đời con là ánh sáng của Ngài.

    Xin chiếu sáng con và ở trong con để mỗi linh hồn con giao tiếp đều có thể cảm nhận sự hiện hữu của Ngài trong linh hồn con. Xin để các linh hồn nhìn lên và không còn thấy con nữa mà chỉ thấy Chúa Giêsu. Xin ở lại với con và con sẽ bắt đầu tỏa sáng như Ngài tỏa sáng, tỏa sáng để thành ánh sáng cho người khác. Amen.

    (http://catholicism.about.com/od/dail...her-Teresa.htm)
    (nguồn: dongten)
    Chữ ký của phale
    Điều đẹp ý Ngài xin dạy con thực hiện (Tv142,10)

+ Trả lời chủ đề + Gửi chủ đề mới

Quyền hạn của bạn

  • Bạn không được gửi bài mới
  • Bạn không được gửi bài trả lời
  • Bạn không được gửi kèm file
  • Bạn không được sửa bài

Diễn Đàn Thánh Ca Việt Nam - Email: ThanhCaVN@yahoo.com