Love Telling ThanhCaVN nhắn với ACE: Kính chúc ACE: Giáng Sinh & Năm Mới 2021 - An Bình & luôn tràn đầy Hồng Ân Thiên Chúa

+ Trả lời chủ đề + Gửi chủ đề mới
kết quả từ 1 tới 10 trên 10

Chủ đề: Hồng Ân & Huyền Nhiệm (Nội dung chính)

  1. #1
    DonRac's Avatar

    Tham gia ngày: May 2007
    Tên Thánh: Peter Anthony
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Việt Nam
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 3,781
    Cám ơn
    3,752
    Được cám ơn 15,421 lần trong 2,949 bài viết

    Thumbs down Hồng Ân & Huyền Nhiệm (Nội dung chính)

    Tôi còn nhớ rất rõ về buổi họp mặt thật tươi vui tại Vatican vào mùa thu năm vừa qua (27-10-95), nhờ sáng kiến của Bộ Giáo sĩ, mừng kỷ niệm năm thứ ba mươi sau ngày phổ biến Sắc Lệnh về Phẩm Trật Linh mục (Presbyterium Ordinis) của Công đồng Vatican II. Trong bầu không khí tưng bừng của buổi gặp mặt thân thương đó, một số linh mục đã chia sẻ về ơn gọi của mình, và tôi cũng làm chứng nhân về ơn gọi làm linh mục của tôi. Một dịp để các linh mục nâng đỡ nhau như thế này trước sự hiện diện của Dân Chúa, thật là một điều tốt đẹp và đáng quý vô cùng. Những lời chia sẻ của tôi trong dịp đó đã được đón nhận thật nồng hậu. Và kết quả, nhiều người thúc dục tôi phát biểu nhiều hơn về ơn gọi của tôi trong năm nay mừng Kim Khánh Linh mục.

    Tôi phải thú nhận, lúc đầu tôi đón nhận ý kiến đó với sự dè dặt thường lệ. Nhưng sau đó, tôi cảm thấy bổn phận của tôi là phải nhận lời mời như một phần vụ liên quan đến mục vụ của Giáo hoàng. Nhờ ông Gioan Franco Svidercoschi đưa một số câu hỏi gợi ý như một dàn bài, tôi thả hồn cho từng đợt sóng ký ức tràn ngập tự do, với không một ý định sắp xếp thành một thứ tài liệu lớp lang.

    Điều tôi kể ra ở đây thuộc về thâm tâm sâu thẳm nhất của tôi, về kinh nghiệm thầm kín nhất nơi tôi, vượt lên trên và ra ngoài mọi biến cố ngoại cảnh. Tôi ghi nhớ lại tất cả những sự việc này, trước hết và trên hết, để cảm tạ Thiên Chúa. "Con ca ngợi lòng xót thương của Chúa đến muôn đời!" (Misericordias Domini in aeternum cantabo!) Cha trao tặng tập hồi ký này tới các linh mục và tới tất cả Dân Chúa như một chứng tá của yêu thương.


    ***
    I

    LÚC KHỞI ĐẦU... MỘT HUYỀN NHIỆM!

    Câu chuyện về ơn gọi linh mục của tôi sao? Chúa biết rõ nhất. Trong tiềm thức sâu thẳm nhất, mỗi ơn gọi linh mục là một huyền nhiệm thật cao trọng, là một hồng ân vượt lên trên con người một cách vô biên. Mỗi linh mục cảm nghiệm điều này thật rõ ràng qua suốt dòng đời của mình. Đối diện với hồng ân cao cả này, chúng ta cảm thấy mình thật bất xứng.

    Ơn gọi là một lựa chọn huyền diệu của Chúa: "Không phải các con chọn Ta, nhưng Ta đã chọn các con và chỉ định các con phải lên đường sinh hoa trái và hoa trái của các con tồn tại" (Ga 15:16). "Và không ai được tự hãnh huống về vinh dự ấy, nhưng phải được Thiên Chúa kêu gọi, như Aaron thuở xưa" (Dt 5:4). "Trước khi tạo thành con trong cung lòng, Cha đã biết con và trước khi con chào đời, Cha đã cung hiến con; Cha đã chỉ định con làm ngôn sứ cho các dân tộc" (Jr 1:5). Những lời linh ứng này không thể không lay động thật thâm sâu trái tim của mỗi linh mục.

    Do đó, trong một số cơ hội - thí dụ Lễ Kim Khánh Linh Mục - chúng ta nói về thiên chức linh mục và làm chứng từ những gì mình chia sẻ với tất cả khiêm tốn, vì biết rằng Thiên Chúa "đã gọi chúng ta với lời mời gọi thánh thiện, không phải vì công đức của chúng ta, nhưng do kế hoạch của Ngài và ân huệ đã ban cho chúng ta" (2Tim 1:9). Cùng một lúc chúng ta nhận ra rằng ngôn từ loài người không đủ để diễn tả vẻ cao cả về huyền nhiệm thiên chức linh mục. Với tôi, những lời mở đầu vừa rồi thật cần thiết để minh định những gì tôi nói về con đường dẫn đưa tôi tới thiên chức linh mục, có thể được hiểu biết một cách chính xác.

    NHỮNG DẤU HIỆU KHỞI ĐẦU ƠN GỌI

    Tổng Giám mục Giáo khu Cracow, Đức Giáo Chủ Adam Stefan Sapieha đến thăm giáo xứ Wadowice khi tôi mới là học sinh trung học. Linh mục dậy giáo lý, Cha Edward Zacher đã chọn tôi đọc diễn từ chúc mừng. Đó là lần đầu tiên tôi có cơ hội hiện diện trước mặt một nhân vật được mọi người kính trọng. Cha biết sau bài diễn từ, Đức Tổng Giám mục hỏi Cha Zacher xem sau này cậu học sinh ấy sẽ học gì ở đại học sau khi tốt nghiệp trung học. Cha Zacher trả lời: "Cậu ấy sẽ học ngôn ngữ và văn chương Ba Lan." Đức Tổng Giám mục hình như nói thêm: "Thật đáng tiếc, đó không phải là môn thần học."

    Trong thời kỳ đó, ơn gọi làm linh mục của tôi chưa chín mùi, dầu cho nhiều người chung quanh nghĩ tôi nên vào chủng viện. Có lẽ một số người trong họ suy nghĩ, nếu một người trẻ với đầy khuynh hướng tôn giáo rõ ràng như thế mà không vào chủng viện, chắc hẳn đó là dấu hiệu cậu theo đuổi những tình yêu hoặc những sở thích nào khác. Thật vậy, tôi quen biết nhiều bạn gái cùng trường và khi tôi tham gia vào câu lạc bộ kịch nghệ, tôi đã có nhiều cơ hội kết thân với những người trẻ khác. Nhưng đó không phải là vấn đề nói ở đây. Vào thời gian đó, tôi hoàn toàn say mê văn chương, nhất là ngành bi kịch và kịch nghệ. Tôi đã được giới thiệu vào kịch trường nhờ Mieczyslaw Kotlarczyk, một giáo sư dậy tiếng Balan lớn hơn tôi mấy tuổi. Ông thực là một người tiên phong trong bộ môn kịch nghệ tài tử và đã nuôi nhiều tham vọng dàn dựng một ban kịch giá trị.

    THEO HỌC TẠI ĐẠI HỌC JAGELLON

    Tháng năm 1938 tôi thi đậu trung học và tôi ghi danh vào Đại học chọn ngôn ngữ và văn chương Ba Lan. Vì lý do này, hai cha con tôi từ Wadowice dời về Cracow và sống tại ngôi nhà số 10 đường Tyniecka, trong quận Debniki. Ngôi nhà này của những người bà con bên ngoại. Tôi bắt đầu theo học tại Phân khoa Triết học tại Đại học Jagellon, lấy một số lớn về ngôn ngữ và môn văn chương Ba Lan. Và tôi chỉ học xong một năm đầu, rồi Đệ Nhị Thế Chiến bùng nổ vào ngày mồng một tháng chín năm 1939.

    Về các môn học, tôi muốn nêu lên điểm này là việc lựa chọn theo học ngôn ngữ và văn chương Ba Lan đã được khẳng định nhờ thiên khiếu rõ ràng về văn chương. Ngay từ lúc bắt đầu học năm thứ nhất, tôi đã bị lôi cuốn theo học môn ngôn ngữ. Tôi đã học văn phạm diễn giải tiếng Ba Lan tân thời cũng như lịch sử những biến hóa của ngôn ngữ này, với sự chú tâm đặc biệt vào các tiếng gốc của cổ ngữ Slavic. Nhờ đó, những chân trời hoàn toàn mới mẻ trải rộng trước mặt tôi dẫn đưa tôi vào thế giới huyền diệu của chính ngôn ngữ.

    Lời nói, trước khi được diễn tả trên sân khấu, đã thực sự hiện diện trong lịch sử nhân linh như một kích thước nền tảng của kinh nghiệm tâm linh nơi con người. Cuối cùng, bức màn kỳ diệu của ngôn ngữ đưa chúng ta trở về với huyền diệu vô lường của chính Thiên Chúa. Nhờ thẩm định được năng lực kỳ diệu của lời nói trong các môn văn chương và ngôn ngữ, tôi càng tiến gần tới sự huyền diệu của Ngôi Lời - Lời mà hàng ngày chúng ta đọc trong kinh Truyền Tin Angelus: "Và Ngôi Lời đã trở nên xác phàm và cư ngụ giữa chúng ta" (Gio 1:14). Sau này tôi nhận ra môn ngôn ngữ học và văn chương Ba Lan đã chuẩn bị đất dụng võ cho tôi đi vào một sở thích khác và môn học khác: tôi đã được chuẩn bị làm quen với triết học và thần học.

    ĐỆ NHỊ THẾ CHIẾN BÙNG NỔ

    Chúng ta trở lại với ngày mồng 1 tháng 9 năm 1939. Thế chiến bùng nổ đã thay đổi tận gốc dòng đời của tôi. Đúng vậy, các giáo sư Đại học Jagellon đã cố công mở lại niên học mới theo thường lệ, nhưng công việc giảng dậy chỉ kéo dài tới ngày mồng 6 tháng 11 năm 1939. Vào ngày đó, chính quyền Đức Quốc Xã đã tập trung tất cả các giáo sư trong phòng họp và kết thúc bằng việc đầy ải các học giả nổi tiếng vào trại tập trung Sachsenhausen. Giai đoạn tôi dốc toàn lực theo đuổi ngôn ngữ học và văn chương Ba Lan đã đi vào hồi kết thúc và thời điểm Đức Quốc Xã chiếm đóng mở màn. Trong thời gian này, trước tiên tôi cố công đọc và viết thật nhiều. Những tác phẩm văn chương của tôi đã khởi sự vào thời kỳ đó.

    Để tránh khỏi bị cưỡng bách đi lao động tại nước Đức, tôi bắt đầu làm việc như một nhân công vào mùa thu năm 1940 tại hầm đá trực thuộc xưởng hoá chất ở Solvay. Đó là vùng Zakrzowek, cách xa nhà tôi tại Deniki nửa giờ đồng hồ và hàng ngày tôi phải đi bộ tới đó. Sau này tôi đã viết một số bài thơ về hầm đá này. Sau nhiều năm có dịp đọc lại, tôi vẫn còn nhận thấy những vần thơ ấy diễn tả thật sống động những kinh nghiệm rất kỳ diệu:
    "Hãy lắng nghe tiếng búa đập đều đều
    Khuơ vang động thật nhịp nhàng
    Ta hướng tới những người dân của ta
    Phải chịu đựng sức mạnh của từng cú đập.
    Nào hãy lắng nghe những dòng điện
    Đang cắt ngang qua dòng sông ngổn ngang đá tảng.
    Và một tư tưởng lớn lên trong ta mỗi ngày:
    Lao động thật cao cả tiềm tàng trong mỗi con người.
    (Hầm Đá, I, Vật liệu, 1).

    Tôi cũng đã hiện diện trong những lúc mìn nổ, những tảng đá tung lên cao và rớt xuống trúng một nhân công và giết chết anh. Kinh nghiệm ấy đã in dấu sâu đậm trong tâm khảm tôi:
    Đồng bạn đã khiêng xác anh và bước đi trong thầm lặng.
    Người công nhân ấy còn lảng vảng chung quanh một ý nghĩa của số phận bất công...

    (Hầm đá, IV, tưởng niệm một thân hữu nhân công, 2-3)

    Quản lý của hầm đá là những người Ba Lan, họ tìm cách miễn cho bọn sinh viên như tôi khỏi những lao động cực nhọc. Trường hợp của tôi, họ cho tôi làm phụ tá cho nhân viên nổ mìn đá: tên ông là Fraciszek Labus. Tôi còn nhớ ông vì có lần ông nói với tôi: "Karol ơi, anh nên làm linh mục. Anh có giọng nói thật tốt và anh sẽ hát hay, rồi anh sẽ sống đích đáng..." Ông nói điều đó với tất cả đơn sơ tâm thành, diễn tả một cái nhìn chung trong xã hội mong muốn các linh mục phải sống như thế nào. Những lời nói của người nhân công lớn tuổi này đã ghi sâu vào tâm khảm tôi nhiều lắm.

    BAN KỊCH THƠ

    Trong thời gian đó tôi vẫn giữ liên lạc với ban kịch thơ do Mieczyslaw Kotlarczyk đã thành lập và tiếp tục điều khiển trong bí mật. Ban đầu khi dấn thân vào kịch trường tôi được Kotlarczyk và vợ ông là Sofia giúp đỡ qua việc họ ở trọ trong nhà tôi. Họ đã tìm cách di động từ Wadowice tới Cracow nằm trong lãnh thổ của viên Tướng Cầm quyền. Chúng tôi cùng chung sống trong một nhà. Tôi làm việc như một nhân công. Lúc đầu ông lái xe điện và sau đó làm nhân viên văn phòng. Cùng ở chung một nhà, không những chúng tôi tiếp tục đàm đạo với nhau về kịch nghệ, nhưng cũng tìm cách diễn xuất thực sự một đồi lần. Đúng đây là hình thức một ban kịch thơ. Thật giản dị vô cùng. Phong cảnh và trang hoàng giảm thiểu tối đa, tất cả cố công của chúng tôi tập trung chính yếu vào diễn tả các lời thơ.

    Chúng tôi trình diễn trước một nhóm nhỏ những người quen biết và trước những khách mời có sở thích đặc biệt về văn học, được coi như những "người nhập cuộc." Điều chính yếu là phải giữ bí mật những trình diễn kịch nghệ này; nếu không, chúng tôi sẽ bị các lực lượng chiếm đóng trừng trị đích đáng, có khi bị đưa vào các trại tập trung. Tôi phải nhìn nhận rằng toàn bộ những kinh nghiệm kịch trường này đã để lại ấn tượng thâm sâu nơi tôi, cho dầu vào một lúc nào đó tôi đã nhận ra đó không phải là ơn gọi thực sự của mình.

  2. Có 3 người cám ơn DonRac vì bài này:


  3. #2
    DonRac's Avatar

    Tham gia ngày: May 2007
    Tên Thánh: Peter Anthony
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Việt Nam
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 3,781
    Cám ơn
    3,752
    Được cám ơn 15,421 lần trong 2,949 bài viết

    Thumbs down Phần II

    II

    QUYẾT ĐỊNH VÀO CHỦNG VIỆN

    Mùa thu năm 1942, tôi quyết định dứt khoát vào chủng viện Cracow được điều hành một cách lén lút. Cha Bề Trên Jan Piwowarczyk nhận tôi gia nhập. Công việc này phải được giữ thật bí mật, ngay cả đối với các người thân nhất. Tôi bắt đầu theo học Phân khoa Thần học thuộc đại học Jagellon, cũng được điều hành bí mật, trong lúc tôi vẫn tiếp tục làm việc như một công nhân tại Solvay.

    Trong thời kỳ bị chiếm đóng, Đức Tổng Giám mục thiết lập chủng viện bí mật ngay tại chỗ ngài ở. Bất cứ lúc nào, với công việc này, các bề trên và chủng sinh có thể bị chính quyền Đức Quốc Xã đàn áp nghiêm khắc. Tôi bắt đầu cư ngụ ngay trong chủng viện bất thường này với vị Giáo chủ đáng kính vào tháng 9 năm 1944 và tôi có thể ở đó với các đồng môn cho tới ngày 18 tháng giêng năm 1945, ngày - đúng hơn là đêm - giải phóng. Thật ra ngay đêm hôm đó Hồng Quân tiến vào vùng ngoại ô Cracow. Đoàn quân Đức quốc rút lui đã phá nổ chiếc cầu Dedniki. Tôi còn nhớ một tiếng nổ kinh thiên động địa: tiếng nổ mãnh liệt đã làm bể tan tất cả các cửa sổ của tòa Giám mục. Lúc đó chúng tôi đang ở trong nhà nguyện tham dự nghi lễ với Đức Tổng Giám mục. Ngày hôm sau chúng tôi ra tay gấp rút sửa chữa các hư hại.

    Nhưng bây giờ tôi cần trở lại những tháng dài trước lúc giải phóng này. Như tôi đã nói, tôi sống với những người trẻ khác trong Toà Đức Tổng Giám mục. Ngay từ lúc đầu ngài đã giới thiệu chúng tôi với một vị linh mục trẻ làm linh hướng. Đó là cha Stanislaw Smolenski, một linh mục sống nội tâm sâu sắc đã tốt nghiệp tiến sĩ tại Roma: ngày nay ngài là Giám mục Phụ tá hưu trí của Cracow. Cha Smolenski nhận lãnh công tác chuẩn bị chu đáo cho chúng tôi lãnh chức linh mục. Trước đây cha Kazimierz Klosak, bề trên duy nhất của chúng tôi đã là trưởng tràng. Ngài đã theo học tại Louvain và là giáo sư triết học; chúng tôi kính trọng và rất thán phục ngài sống khắc kỷ và từ tâm. Ngài trực tiếp nhận trách nhiệm với Đức Tổng Giám mục để điều hành chủng viện chui trực thuộc ngài. Sau mùa nghỉ hè năm 1945, Cha Karol Kozlowski, trước đây đến từ Wadowice và đã là cha linh hướng chủng viện trước chiến tranh, đã được mời thay thế cha Jan Piwowarczyk làm giám đốc chủng viện, nơi đây ngài phục vụ hầu như suốt cuộc đời.
    Những năm được đào tạo tại chủng viện qua đi như thế đó. Hai năm đầu tiên miệt mài học triết học. Tôi đã tốt nghiệp trong bí mật, trong khi làm việc như một công nhân. Hai năm sau, 1944 và 1945 tôi gia tăng nỗ lực và thời giờ tại Đại học Jagellon, dầu cho chương trình học còn rất khiếm khuyết trong năm đó theo sau chiến tranh. Tuy nhiên, niên khoá 1945-1946 lại là một năm học bình thường. Tại Phân khoa Thần học, tôi thật may mắn gặp được một số các giáo sư thời danh, như cha Wladyslaw Wicher, giáo sư thần học luân lý và cha Ignacy Rozycki, giáo sư thần học tín lý, người đã hướng dẫn tôi đi vào khoa phương pháp khoa học trong thần học. Ngày nay nhớ lại, tôi vô cùng biết ơn tất cả các vị bề trên, các cha linh hướng và các giáo sư đã góp phần vào công cuộc đào tạo tôi tại chủng viện. Xin Thiên Chúa trả công bội hậu cho những cố công và hy sinh của các ngài!

    Vào đầu niên khóa thứ năm, Đức Tổng Giám mục đã quyết định tôi đi Roma hoàn tất học trình của tôi. Và nhờ vậy, tôi đã được thụ phong linh mục sớm hơn các đồng bạn vào ngày mồng một tháng mười một, năm 1946. Dĩ nhiên, vào năm đó, nhóm của tôi chưa được đông lắm: chúng tôi có tất cả bẩy người. Ngày nay chỉ còn lại ba người còn sống. Nhóm ít người như thế có nhiều điểm thuận lợi: chúng tôi có cơ hội quen biết nhau tường tận và kết bạn với nhau thân tình. Đàng khác, nhờ vậy chúng tôi cũng sống thật ân nghĩa với các bề trên và giáo sư, cả trong giai đoạn học hành lén lút cũng như trong thời gian ngắn ngủi theo học chính thức tại Đại học.

    NHỮNG NGÀY NGHỈ HÈ CỦA MỘT CHỦNG SINH

    Ngay từ giai đoạn đầu gia nhập chủng viện, tôi bắt đầu nghỉ hè theo một cách thức mới. Đức Tổng Giám mục gửi tôi tới giáo xứ Raciborowice, tại vùng ngoại ô Cracow. Tôi phải tri ân sâu xa linh mục chánh xứ Jozef Jamroz và các linh mục phó xứ này đã trở thành những người bạn vững bền với một chủng sinh chui còn non trẻ. Đặc biệt tôi nhớ đến linh mục Franciszek Szymonek, sau này, trong thời kỳ kinh hoàng của Staline, tôi đã bị buộc tội và xử án với mục đích đe dọa các chức sắc của Giáo hội tại Cracow: ngài đã bị kết án tử hình. Nhưng thật may mắn, chỉ sau một thời gian ngắn, ngài được hoãn thi hành bản án tử hình. Tôi cũng nhớ đến Linh mục Adam Biela, người đã học trước tôi một vài năm trung học tại Wadowice. Nhờ những linh mục trẻ trung này, tôi quen với nếp sống Kitô hữu của toàn giáo xứ.

    hẳng bao lâu sau đó, người ta thiết kế một quận hạt rộng lớn được gọi là Nowa Huta trong vùng chung quanh làng Bienczyce, là một phần lãnh địa của giáo xứ Raciborowice. Tôi đã nghỉ hè nhiều ngày tại đây vào năm 1944 cũng như năm 1945, sau khi chiến tranh kết thúc. Tôi thường đi thăm viếng nhà thờ cổ kính tại Raciborowice, có từ thời của Jan Dlugosz. Tôi đã suy niệm nhiều giờ tại đây khi đi bách bộ trong nghĩa trang. Tôi đã mang theo tới đây nhiều sách vở cần thiết cho công việc học hành: những pho sách của Thánh Tôma với phần dẫn giải. Có thể nói được tôi đã học thần học từ ”trung tâm” của một truyền thống thần học uyên bác. Lúc đó tôi cũng bắt đầu viết luận án về Thánh Gioan Thánh Giá, và sau này tôi còn tiếp tục dưới sự hướng dẫn của cha Ignacy Rozycki, giảng viên tại Đại học Cracow, khi Đại học này được mở cửa lại. Về sau tôi đã hoàn thành luận án này tại Đại học Angelicum, dưới sự khải đạo của cha Garrigou Lagrange.

    HỒNG Y ADAM STEFAN SAPIEHA

    Một ảnh hưởng mãnh liệt đã tác động trong suốt giai đoạn tôi được đào tạo làm linh mục chính là hình ảnh thời danh của Đức Tổng Giám mục Giáo chủ, đó là Đức Hồng Y tương lai Adam Stefan Sapieha, tôi hằng ghi nhớ với tất cả thương mến và biết ơn. Ảnh hưởng của ngài nơi chúng tôi được gia tăng nhiều nhất trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi chủng viện được mở cửa lại. Chúng tôi sống tại nơi cư ngụ của ngài và được gặp mặt ngài hàng ngày. Đức Giáo chủ Tổng Giám mục Cracow đã được phong chức hồng y liền ngay sau khi chiến tranh kết kiễu, lúc đó ngài đã già cả rồi. Mọi người đều hân hoan chào mừng việc tấn phong này như một sự đền đáp xứng đáng cho những công trạng của một đại nhân suốt trong thời kỳ Đức Quốc xã chiếm đóng, đã thành công nêu cao danh dự tổ quốc, biểu dương rõ rệt phẩm giá của mình trên hết tất cả. Tôi còn nhớ vào ngày của tháng Ba ấy, trong Mùa Chay, khi Đức Tổng Giám mục trở về từ Roma với chiếc nón hồng y.

    Các sinh viên đã nhấc bổng chiếc xe của ngài và khiêng đi xa một quãng bằng đi tới Vương Cung Thánh Đường Đức Bà Mông Triệu tại Công trường Chợ. Đó là cách thức các sinh viên bộc lộ lòng ái quốc và mộ đạo được thôi thúc nơi dân chúng, trước việc ngài được vinh thăng hồng y.

  4. Có 4 người cám ơn DonRac vì bài này:


  5. #3
    DonRac's Avatar

    Tham gia ngày: May 2007
    Tên Thánh: Peter Anthony
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Việt Nam
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 3,781
    Cám ơn
    3,752
    Được cám ơn 15,421 lần trong 2,949 bài viết

    Thumbs down Phần III

    III

    NHỮNG ẢNH HƯỞNG ƠN GỌI

    Tôi đã nói nhiều về kinh nghiệm tại chủng viện vì chắc chắn đó là ảnh hưởng lớn lao nhất trong tiến trình đào luyện tôi thành linh mục. Nhưng nhìn bức tranh một cách toàn vẹn hơn, tôi thấy rõ ràng một số hoàn cảnh và cá nhân khác đã tác động nơi tôi một ảnh hưởng tích cực và chắc chắn Thiên Chúa đã dùng những người này để tiếng Ngài được vang động.

    GIA ĐÌNH

    Việc chuẩn bị tôi cho thiên chức linh mục tại chủng viện, theo một ý nghĩa nào đó, đã đến sau việc gia đình chuẩn bị cho tôi, nhờ đời sống và gương sáng của song thân tôi. Trước tiên, tôi phải biết ơn cha tôi góa vợ lúc ngài còn trẻ. Tôi chưa được Rước Lễ Lần Đầu thì đã mất mẹ: khi ấy tôi mới lên chín tuổi. Do đó tôi chưa ý thức được rõ ràng những gì mẹ tôi đã đóng góp cho công việc rèn luyện đời sống đạo của tôi, nhưng chắc chắn phải lớn lao. Sau khi mẹ tôi chết, rồi tiếp theo đó người anh cả cũng chết theo, và như vậy tôi sống đơn côi với cha tôi, một người có lòng đạo đức thâm sâu. Hàng ngày tôi có thể quan sát thấy lối sống khắc kỷ của ngài. Trước đây ngài theo binh nghiệp, và sau khi mẹ tôi qua đời, cuộc sống của ngài trở thành lời cầu nguyện liên lỉ. Thỉnh thoảng thức giấc nửa đêm, tôi nhìn thấy ngài vẫn quỳ gối, như tôi thường thấy ngài quỳ trong nhà thờ. Chúng tôi không bao giờ nói về ơn gọi linh mục, nhưng gương sáng của ngài chính là chủng viện đầu tiên, một loại chủng viện tại gia.

    XƯỞNG MÁY SOLVAY

    Sau những năm đầu ấy, hầm đá và xưởng lọc nước trong xưởng hóa chất tại Borek Falecky trở thành chủng viện của tôi; đó không chỉ là một 'trường thử' như tại Wadowice. Với tôi, tại thời điểm này, nhà máy đã thực sự là một chủng viện, dẫu là một chủng viện bí mật. Tôi bắt đầu làm việc tại hầm đá vào tháng chín năm 1940; một năm sau tôi qua xưởng lọc nước. Đó là những năm dẫn đưa quyết định cuối cùng của tôi đến chỗ chín mùi. Mùa thu 1942, tôi bắt đầu theo học tại chủng viện chui như một sinh viên văn khoa cũ, trong lúc vẫn là một công nhân tại Solvay. Khi ấy tôi chưa nhận ra được tầm quan trọng của những kinh nghiệm này. Chỉ sau này, khi là linh mục theo học tại Roma, các đồng môn tại Đại học Bỉ đã giúp tôi ý thức về vấn đề của các linh mục thợ thuyền và Phong trào Thanh Lao Công (JOC), lúc đó tôi mới nhận ra tầm quan trọng của những tiếp xúc với thế giới lao động mà Giáo hội và các linh mục Phương Tây phải đương đầu. Giao tiếp này đã ghi khắc sâu kinh nghiệm vào cuộc đời tôi.

    Thực sự, kinh nghiệm của tôi không phải là kinh nghiệm của một "linh mục thợ thuyền" nhưng của "chủng sinh thợ thuyền". Bằng đôi tay lao động, tôi đã hiểu rất rõ ý nghĩa của lao động thể xác. Hàng ngày tôi sinh sống với những người lam lũ nặng nhọc. Tôi đã đến để hiểu được những hoàn cảnh sống của họ, gia đình họ, những quan tâm của họ, những giá trị nhân linh nơi họ và cả tư cách của họ nữa. Đích thân tôi đã cảm nghiệm được những tấm lòng hào hiệp của họ. Họ biết tôi là một sinh viên và họ đều biết rằng khi hoàn cảnh cho phép, tôi sẽ trở lại công việc học hành. Không bao giờ tôi gặp thù nghịch nơi họ về mục đích này. Tôi không làm họ bực bội khi mang theo sách đi lao động. Họ thường nói, "Chúng tôi canh chừng cho đó: cứ tiếp tục đọc sách đi!" Chuyện này đặc biệt xẩy ra vào những ca ban đêm. Họ thường nói: "Cậu đi kiếm chỗ nghỉ đi, chúng tôi coi chừng cho!"

    Tôi kết thân với các thợ thuyền. Đôi khi họ mời tôi về thăm nhà họ. Sau này khi đã làm linh mục và giám mục, tôi rửa tội cho con cháu họ, làm đám cưới cho các con cháu họ và chủ tế những đám tang của họ nữa. Tôi cũng đã có thể quan sát được lòng đạo đức thâm sâu đầy trầm lặng của họ và sự hiểu biết sâu rộng của họ về cuộc sống. Những giao tiếp này vẫn tiếp tục rất thân tình với tôi, cả sau khi cuộc chiếm đóng của Đức Quốc Xã đã chấm dứt, cho đến ngày tôi được chọn làm Giám Mục Roma. Một vài người trong họ vẫn liên lạc thư từ với tôi.

    GIÁO XỨ DEBNIKI: DÒNG SALÊSIÊNG

    Tôi phải lùi trở lại thời gian trước khi vào chủng viện. Tôi không thể không nhắc tới một địa danh đặc biệt và một nhân vật tại đó, người mà tôi đã học hỏi rất nhiều trong thời kỳ đó. Địa danh ấy chính là giáo xứ của tôi được dâng hiến cho Thánh Stanislaus Kostka, tại Debniki, trong Tổng Giáo phận Cracow. Các cha dòng Salêsiêng coi sóc giáo xứ này và vào một ngày đen tối, các ngài bị Đức Quốc Xã lùa vào trại tập trung. Chỉ còn lại cha xứ già cả và vị giám tỉnh. Tất cả những linh mục khác đều bị giam giữ tại Dachau. Tôi vẫn tin rằng sự hiện diện của các linh mục Dòng Salêsiêng đóng một vai trò quan trọng trong công việc đào tạo ơn gọi cho tôi.

    Trong giáo xứ có một nhân vật nổi bật: tôi muốn nói tới Jan Tyranowski. Nghề nghiệp của ông là thư ký, nhưng ông đã chọn làm việc cho tiệm may của cha ông. Ông nói làm việc như người thợ may dễ giúp ông phát triển đời sống nội tâm. Ông đặc biệt có đời sống nội tâm thâm trầm. Các cha Dòng Salêsiêng thật can đảm khởi động công việc giữa giới trẻ vào giai đoạn khó khăn này, khi giao cho ông trọng trách thiết lập một mạng lưới giao tiếp với giới trẻ qua phương thức "Chuỗi Mân Côi Sống" (Living Rosary). Lúc điều hành công việc này, Jan Tyranowski không tổ chức đơn độc một mình; ông cũng quan tâm tới việc phải đào tạo tâm linh cho những người trẻ ông tiếp xúc. Nhờ đó tôi đã học được những phương pháp căn bản tự đào tạo mình mà sau này được xác quyết và khai triển trong chương trình đào tạo chủng sinh. Việc đào luyện cuộc sống tâm linh của Tyranowski dựa trên các tác phẩm của Thánh Gioan Thánh Giá và Mẹ Têrêsa Avila. Tyranowski đã giúp tôi đọc các tác phẩm này, một việc làm được coi như khác thường với lứa tuổi của tôi.

    CÁC CHA DÒNG CAMÊLÔ

    Đây là điểm giúp tôi quan tâm tới linh đạo Dòng Kín (Carmelite). Tại Cracow, trên đường phố Rakowicka có tu viện của các cha Dòng Camêlô cải cách. Tôi đã đến đây nhiều lần và trải qua một tuần tĩnh tâm với các ngài, dưới sự hướng dẫn của cha Leonard thuộc Dòng Đức Mẹ Sầu Bi.
    Có một thời gian tôi cũng có ý nghĩ gia nhập Dòng Camêlô. Những phân vân của tôi đã được Đức Hồng y Tổng Giám mục Sapieha giúp giải quyết, khi ngài nói một câu thật ngắn gọn: "Trước tiên con phải hoàn tất những gì con đã khởi sự." Và đó là tất cả những gì đã tiếp diễn.

    CHA KAZIMIERZ FIGLEWICZ

    Trong những năm đó, cha linh hướng và giải tội của tôi là linh mục Kazimierz Figlewicz. Lần đầu tiên tôi gặp ngài lúc ấy tôi theo học năm đầu tại trung học ở Wadowice. Cha Figlewicz là cha phó của giáo xứ Wadowice, dậy giáo lý cho chúng tôi. Nhờ ngài, tôi gần gũi với giáo xứ hơn và trở thành chú giúp lễ và những tay tổ chức nhóm giúp lễ. Khi ngài dời Wadowice về phục vụ tại Vương Cung Thánh Đường Cracow, nằm tại vùng cổ Lâu đài Hoàng gia Wawel, tôi vẫn tiếp tục liên lạc với ngài. Tôi còn nhớ vào năm thứ năm trung học, ngài đã mời tôi tới Cracow tham dự Tuần Tam Nhật Thánh (Sacred Triduum), bắt đầu với "Kinh Những Bóng Tối" vào buổi chiều Thứ Tư Tuần Thánh. Kinh nghiệm này đã gây những ấn tượng thâm sâu nơi tôi.

    Sau khi tốt nghiệp, ba tôi và tôi dời về Cracow. Khi ấy tôi gần gũi với linh mục Figlewixz hơn; ngài là linh mục phó xứ Vương Cung Thánh Đường. Tôi thường tới xưng tội và thăm ngài trong thời kỳ Đức Quốc Xã chiếm đóng.

    Không bao giờ tôi quên ngày mồng một tháng chín năm 1939. Đó là ngày Thứ Sáu Đầu Tháng. Tôi tới Wawel xưng tội. Vương Cung Thánh Đường hoàn toàn trống vắng. Có lẽ đó là lần cuối cùng tôi có thể bước vào nhà thờ một cách tự do. Sau này nhà thờ bị đóng cửa và Lâu Đài Hoàng Gia tại Wawel trở thành Tổng hành dinh của vị tướng chỉ huy trong chính phủ Đức Quốc Xã, tướng Hans Frank. Cha Figlewicz là linh mục duy nhất được cử hành Thánh lễ hai lần một tuần trong Vương Cung Thánh Đường đóng cửa và dưới sự canh chừng của cảnh sát Đức. Vào những thời buổi khó khăn ấy, thật rõ ràng tất cả đều mang một ý nghĩa với ngài - Vương Cung Thánh Đường, lăng tẩm, bàn thờ Thánh Stanislaus, một Giám mục Tử Đạo. Cho tới khi qua đời, cha Figlewicz vẫn là người canh giữ trung thành linh địa đặc biệt ấy của Giáo hội và Quốc gia; ngài đã truyền đạt nơi tôi lòng mộ mến đặc biệt đối với Vương Cung Thánh Đường tại Wawel, nơi mà một ngày nào đó đã trở thành Vương Cung Thánh Đường Tòa Giám mục của tôi.

    Vào ngày mồng một năm 1946, tôi được thụ phong linh mục. Ngày hôm sau, lễ mở tay, tôi cử hành tại hầm mộ Thánh Leonard trong Vương Cung Thánh Đường. Cha Figlewicz đứng bên cạnh và hướng dẫn tôi. Vị linh mục khả kính này giờ đây đã an giấc ngàn thu cách đây vài năm. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể trả công cho ngài về tất cả những công trạng ngài đã trợ giúp tôi.

    DÒNG LỊCH SỬ THÁNH MẪU

    Thật tự nhiên, khi đề cập đến nguồn gốc ơn gọi linh mục của tôi, tôi không thể bỏ qua dòng lịch sử Thánh Mẫu. Tôi đã học được những truyền thống tôn sùng Mẹ Thiên Chúa nơi gia đình và nơi họ đạo của tôi tại Wadowice. Tôi còn nhớ, trong nhà thờ họ đạo, một bên nguyện đường được dành tôn kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Vào các buổi sáng, học sinh trung học đến viếng Đức Mẹ trước giờ học. Buổi chiều, sau giờ học, nhiều học sinh tới đó cầu nguyện với Mẹ Đồng Trinh.

    Cũng thế, trên một đỉnh đồi ở Wadowice, Dòng Khổ Tu Camêlô đã được thành lập từ thời Thánh Raphael Kalinowski. Người dân từ Wadowice leo lên đây đông đảo và nhờ vậy việc tôn sùng đeo Dây Đức Bà Núi Camêlô trở thành phổ thông. Tôi cũng nhận được Dây Đức Bà và tôi nghĩ lúc đó mới lên mười và tôi còn đeo tới ngày nay. Các tín hữu cũng còn đến đây xưng tội. Và như vậy, cả tại giáo xứ và tại thánh đường của dòng khổ tu Camêlô, lòng sùng kính Mẹ Maria của tôi đã được hình thành ngay từ những năm thơ ấu, rồi niên thiếu và qua những năm trung học.

    Khi lớn lên ở Cracow, tại Debniki, tôi gia nhập nhóm "Chuỗi kinh Mân Côi Sống" trong giáo xứ của các cha dòng Salêsiêng. Nơi đó lòng tôn kính thật đặc biệt với Mẹ Maria, Đấng Phù Trợ các Kitô hữu. Tại Debniki, vào thời điểm ơn gọi linh mục của tôi triển nở dưới ảnh hưởng của Jan Tyranowski, tôi nhớ có một thay đổi trong kiến thức về lòng tôn sùng Mẹ Thiên Chúa. Tôi đã xác tín rằng Mẹ Maria dẫn dắt chúng ta tới Chúa Kitô, nhưng vào thời điểm này, tôi cũng bắt đầu nhận ra Chúa Kitô dẫn dắt chúng ta tới Mẹ Ngài. Ở một điểm nào đó, tôi bắt đầu đặt câu hỏi về lòng tôn sùng Mẹ Maria khi tin rằng, nếu lòng tôn sùng đó mãnh liệt quá, chắc hẳn sẽ phương hại đến việc ưu tiên tôn thờ Chúa Kitô. Lúc đó, tôi đã dựa rất nhiều vào cuốn sách của Thánh Louis Marie Grignion de Montfort mang tựa đề "Luận án về sùng kính Đức Trinh Nữ." Nơi đây tôi đã tìm được các câu trả lời. Phải, Mẹ Maria dẫn đưa chúng ta gần gũi với Chúa Kitô hơn; Mẹ dìu dắt chúng ta tới Chúa, miễn là chúng ta sống huyền nhiệm của ngài trong Chúa Kitô. Luận án này của Thánh Louis Marie Grignion de Montfort có phần gây ra bối rối, qua lối hành văn hoa mỹ và kỳ dị, nhưng người ta không thể chối cãi được những chân lý thần học chính yếu trong đó. Tác giả là một nhà thần học lừng danh. Những tư tưởng Thánh Mẫu học của ngài đã đâm rễ sâu từ mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi và chân lý Nhập Thể của Ngôi Lời Thiên Chúa.

    Rồi tôi mới hiểu lý do tại sao Giáo hội đọc kinh Truyền Tin (Angelus) ba lần một ngày. Tôi nhận ra những lời kinh đó thật quan trọng: "Thánh Thiên Thần truyền tin cho Đức Bà chịu thai bởi phép Đức Chúa Thánh Thần... Này tôi là tôi tá Đức Chúa Trời: tôi xin vâng như lời Thánh Thiên Thần truyền... Chốc ấy Ngôi Thứ Hai xuống thế làm người và ở cùng chúng tôi..." Thật là những lời thần lực! Những lời ấy diễn tả thực tế thâm sâu của một biến cố trọng đại nhất đi vào lịch sử nhân loại.

    Đó là gốc nguồn của khẩu hiệu Totus Tuus. Câu nói này phát xuất từ Thánh Louis Marie Grignion de Monfort. Đó là lời nguyện tắt của câu nghi thức tín thác đầy đủ hơn nơi Mẹ Thiên Chúa được diễn tả như sau: "Totus Tuus ego sum et omnia mea Tua sunt. Accipio Te in mea omnia. Praebe mihi cor Tuum, Maria." (Con đây là Tất cả của Mẹ và mọi sự của con là Của Mẹ. Con nhận lãnh Mẹ trong tất cả mọi sự của con. Xin Mẹ hãy cho con mượn trái tim Mẹ, lạy Mẹ Maria).

    Và như thế, nhờ Thánh Louis, tôi bắt đầu khám phá ra những kho tàng bao la trong việc sùng kính Mẹ Maria theo những nhãn quan mới. Thí dụ, khi còn trẻ thơ, tôi thường nghe hát "Giờ kinh Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội" trong nhà thờ giáo xứ, nhưng chỉ sau này tôi mới nhận ra được nội dung thần học và Thánh Kinh phong phú. Cũng thế, các bài hát dân ca như những bản Thánh ca Giáng Sinh Ba Lan và Kinh Cầu Chịu Nạn trong Mùa Chay làm nổi bật những lời tâm hồn than vãn với Mẹ Sầu Bi.

    Những kinh nghiệm thiêng liêng này đã là nền tảng hình thành cho hành trình cầu nguyện và chiêm niệm dần dần dẫn đưa tôi tới thiên chức linh mục và sau này vẫn tiếp tục dẫn hướng tôi trong mọi biến cố cuộc đời. Suốt từ hồi thơ ấu và cho tới khi làm linh mục và giám mục, hành trình cầu nguyện và chiêm niệm này vẫn dẫn dắt tôi thường xuyên lên đường hành hương Thánh Mẫu về Kalwaria Zebrzydowska. Kalwaria là một linh địa kính Đức Mẹ chính yếu của Tổng Giáo phận Cracow. Tôi thường đến đó, đi dọc theo lối mòn trong thanh vắng và trong lời kinh, tôi trình bầy với Chúa nhiều vấn đề đa dạng trong Giáo hội, nhất là vào những thời kỳ đầy khó khăn trong cuộc chiến đấu chống Cộng sản. Khi nhìn lại, tôi thấy tất cả mọi chuyện được nối kết với nhau: ngày nay cũng như quá khứ, chúng ta nhận ra mình cũng bị lôi vào một huyền nhiệm thật thâm sâu.

    ANH THÁNH ALBERT

    Đôi khi tôi tự hỏi không biết Anh Thánh Albert đã đóng góp gì vào ơn gọi của tôi. Adam Chmielowski, chính là tên anh. Anh không phải là linh mục. Nhưng mọi người dân Balan đều biết anh là ai. Trong thời kỳ say mê theo đuổi diễn kịch và nghệ thuật, khuôn mặt của con người can đảm này đã gợi hứng cho tôi rất nhiều. Anh đã tham dự vào cuộc "Nổi Dậy Tháng Giêng" năm 1864 và cụt mất một chân trong cuộc chiến đấu này. Anh Albert là một họa sĩ đã theo học tại Munich. Những tác phẩm nghệ thuật anh để lại đã chứng tỏ tài nghệ xuất chúng của anh. Tuy nhiên, vào một giai đoạn nào đó trong cuộc đời, anh đã bỏ lại dang dở những đeo đuổi nghệ thuật, chỉ vì anh nhận ra Chúa đã gọi anh cho những trách vụ quan trọng hơn nhiều. Một lần kia, anh ý thức được những hoàn cảnh bi đát của các người nghèo khổ tại Cracow. Họ thường tụ họp nhau lại tại nhà ngủ công cộng được coi như một "tụ điểm xách động" trên đường phố Krakowska, và Adam Chmielowski quyết định trở thành một thành viên trong bọn họ, không phải như một người phát chẩn từ bên ngoài đến phân phát quà, nhưng như một người hoàn toàn hiến thân phục vụ những kẻ xấu số.

    Gương hy sinh đầy nhiệt hứng này đã lôi kéo được nhiều người nhập cuộc. Nhiều người thuộc cả hai phái nam nữ đến tụ tập chung quanh Anh Albert. Hai dòng tu hiến thân phục vụ những người nghèo khổ nhất được khai sinh. Tất cả xẩy ra hồi đầu kỷ nguyên của chúng ta, đúng vào thời điểm trước Đệ Nhất Thế Chiến.

    Anh Thánh Albert không còn sống để được nhìn thấy ngày nay BaLan đã dành lại độc lập. Anh chết vào Lễ Giáng Sinh 1916. Tuy thế, những việc làm của anh còn tiếp tục sau khi anh quá cố và vẫn trở thành một diễn tả của truyền thống Balan đi theo lý tưởng nền tảng của Tin Mừng, theo vết chân Thánh Phanxicô Assisi và Thánh Gioan Thánh Giá.

    Anh Albert có một chỗ đứng đặc biệt trong lịch sử tu đức của BaLan. Với tôi, anh đóng một vai trò quan trọng đặc biệt, vì tôi tìm thấy nơi anh một nâng đỡ và gương mẫu linh thiêng thực sự, khi bỏ lại đàng sau thế giới nghệ thuật, văn chương và kịch nghệ để quyết định một lựa chọn rốt ráo đeo đuổi ơn gọi làm linh mục. Một trong những niềm vui trọng đại của tôi khi làm Giáo hoàng chính là cất nhắc con người nghèo khổ này của Cracow, ăn mặc bộ đồ xám, lên tới danh dự được tôn vinh trên bàn thờ, trước tiên với việc phong chân phước tại Blonie Krakowskie trong lần đầu tôi về thăm viếng Balan vào năm 1983 và tiếp tới là phong thánh tại Roma vào tháng mười một năm 1989 đáng ghi nhớ. Nhiều nhà văn đã bất tử hoá khuôn mặt của Anh Albert trong văn học Ba Lan. Xứng đáng được ghi nhớ giữa những tác phẩm nghệ thuật khác nhau, cũng như trong tiểu thuyết và kịch nghệ, chúng ta phải kể tới linh mục Konstanty Michalski đã viết một cuốn biên khảo dâng tặng anh. Còn tôi, là một linh mục trẻ, khi tôi còn là phó xứ nhà thờ Saint Florian tại Cracow, tôi đã soạn một vở bi kịch vinh danh anh với nhan đề Người Em Của Chúa Chúng Ta (Le Frère de notre Dieu). Đó là cách thức tôi đền đáp công ơn anh.

    KINH NGHIỆM CHIẾN TRANH

    Như tôi vẫn thường nói, ơn gọi linh mục đã chín mùi dứt khoát vào thời điểm Đệ Nhị Thế Chiến, trong thời Đức Quốc chiếm đóng. Phải chăng đây chỉ là chuyện tình cờ hay là một nối kết thâm sâu hơn giữa những gì đang phát triển trong tôi với những biến động lịch sử bên ngoài? Thực khó trả lời cho một câu hỏi như thế. Chắc chắn, trong kế hoạch của Thiên Chúa, chẳng có gì xẩy ra ngẫu nhiên cả. Tất cả những gì tôi muốn nói chính là thảm kịch chiến tranh đã đem tới diễn trình chín mùi cho một chọn lựa ơn gọi một cách độc đáo.. Điều đó đã giúp tôi hiểu theo một cách thức mới về giá trị và tầm quan trọng của ơn gọi. Đối diện với những tội ác hoành hành và những thảm khốc của chiến tranh, tôi cũng hiểu được ý nghĩa và sứ mạng của thiên chức linh mục trong thế giới.

    Chiến tranh bùng nổ đã đẩy tôi xa khỏi đại học và công việc bút nghiên và theo học Đại học. Vào thời điểm này, tôi cũng mất người cha thân yêu là một thành phần thân thuộc trực tiếp cuối cùng trong gia đình tôi. Một cách khách quan, tất cả những chuyện đó đã đem tôi thoát dần khỏi những kế hoạch đầu đời của tôi, giống như đã bị đánh bật rễ khỏi mảnh đất đã vun trồng nhân loại tính của tôi cho đến lúc đó.

    Tiến trình này không chỉ tiêu cực như thế, nhưng cùng lúc một điểm sáng bắt đầu chiếu rọi rõ rệt hơn bao giờ hết trong ký ức tôi: Thiên Chúa muốn tôi trở thành linh mục của Ngài. Một ngày kia tôi nhìn thấy điều này thật rõ rệt tựa như một khai ngộ nội giới đem đến cho tôi niềm hân hoan và chắc chắn về một ơn gọi mới. Chính tâm thức này đã làm ngập tràn hồn tôi niềm an bình thâm sâu cao cả.

    Tất cả những chuyện này xẩy ra đối kháng lại đấu trường của những biến cố kinh hoàng đang xẩy ra chung quanh tôi tại Cracow, Ba Lan, Âu Châu và trên thế giới. Tôi chỉ trực tiếp cảm nghiệm được một phần nhỏ những gì mà những người đồng hương của tôi đã phải trải qua từ năm 1939 về sau. Tôi đặc biệt nghĩ đến các bạn học cùng lớp tại Wadowice, những người bạn thân thiết, và một số trong họ là người Do Thái. Một số đã đăng ký vào quân đội từ năm 1938. Tôi tin rằng người đầu tiên bỏ mình trong cuộc chiến chính là người trẻ nhất trong lớp tôi. Sau này tôi biết được một cách đại quan về số phận của những người khác đã ngã gục trên những chiến tuyến khác, hoặc chết trong các trại tập trung, hoặc chiến đấu tại Tobruk và Montecassino, hoặc bị đem đi đầy ải tại các lãnh thổ của Liên Bang Sô Viết: Nga Sô và Kazakhstan. Lúc đầu tôi biết được những chuyện này một phần, nhưng sau đó đầy đủ hơn trong buổi họp mặt các bạn học cũ tổ chức năm 1948 tại Wadiwice, nhân dịp kỷ niệm năm thứ mười ngày tốt nghiệp của chúng tôi.
    Tôi đã được che chở rất nhiều khỏi tấn thảm kịch rộng lớn và hãi hùng của Đệ Nhị Thế Chiến.

    Tôi có thể bị bắt giữ bất cứ ngày nào tại nhà, nơi hầm đá, trong công xưởng và bị đưa đến trại tập trung. Đôi khi tôi tự hỏi: vô số người trẻ cùng trang lứa đã thiệt mạng, tại sao không phải tôi? Ngày nay tôi hiểu rằng đó không chỉ là số may. Giữa những chồng chất của tội ác chiến tranh như thế, những gì xẩy ra trong cuộc sống cá nhân của tôi đều hướng đến lợi ích cho ơn gọi của tôi. Tôi không thể quên những tấm lòng từ nhân biểu lộ nơi những người Chúa đã đặt định trong bước đường đời của tôi vào giai đoạn cực kỳ khó khăn đó, kể cả những phần tử trong gia đình tôi, đồng môn của tôi cũng như những bạn hữu của tôi.

    CÁC LINH MỤC BALAN HY SINH

    Điều này nói lên một khía cạnh khác thật đặc biệt và chất chứa đầy ý nghĩa. Những năm Đức Quốc Xã chiếm đóng Tây Âu và Liên Xô chiếm đóng Đông Âu đã đưa tới hậu quả là một con số khổng lồ các linh mục Ba Lan bị đẩy vào các trại tập trung. Tại nguyên một trại Dachau đã có khoảng ba ngàn linh mục bị giam giữ. Còn có nhiều trại khác như Auschwitz, nơi Cha Thánh Maximilian Maria Kolbe, một linh mục dòng Phanxicô tại Niepokalanow đã hiến thân cho Chúa Kitô. Ngài đã trở thành vị linh mục đầu tiên được phong thánh sau chiến tranh. Trong số các tù nhân tại trại Dachau có Đức Giám Mục Michal Kozal thuộc Giáo phận Wloclawek, năm 1987 tôi đã hân hoan phong chân phước cho ngài tại Warsaw. Sau chiến tranh, một số linh mục bị giam giữ trong các trại tập trung, đã được phong chức Giám mục. Hai Đức Tổng Giám mục Kazimierz Majdanski và Kozlowiecki và Đức Giám Mục Ignacy Jez ngày nay vẫn còn sống. Ba vị Giám mục cuối cùng đã chứng kiến những gì đã xẩy ra tại trại diệt chủng Dachau. Các ngài hiểu biết rất rõ những kinh nghiệm ấy đem lại bao ý nghĩa cho cuộc sống nhiều linh mục. Để hoàn chỉnh bức tranh ấy, tôi cũng phải nhắc tới các linh mục Đức Quốc trong thời điểm đó cũng cùng chia sẻ số phận trong các trại tập trung. Tôi đã được vinh dự tôn phong chân phước cho một số linh mục: trước tiên là cha Rupert Mayer tại Munich và rồi mới đây trong chuyến tông du tới Đức quốc, là Đức Ông Bernhard Lichtenberg, cha sở của Vương Cung Thánh Đường Bá Linh và sau cùng là Cha Karl Leisner trong giáo phận Munster. Cha Leisner được phong chức linh mục trong trại tập trung năm 1944 và chỉ có thể cử hành Thánh Lễ một lần sau khi được phong chức.

    Thực ra tôi phải nhắc nhở đặc biệt đến các linh mục tử đạo trong khi bị giam giữ trong các trại tại Bây Bá Lợi Á và trong các trại khác thuộc lãnh thổ của Liên Bang Sô Viết. Trong số rất đông đảo những người bị giam cầm tại đó, tôi muốn nhắc đến Cha Tadeusz Fedorowicz, một khuôn mặt nổi danh tại Ba Lan, vị linh mục mà tôi đã mang nợ khá nhiều về những hướng dẫn tâm linh.
    Cha Fedorowicz, một linh mục trẻ thuộc Tổng Giáo phận Lwow đã tự nguyện đến xin Đức Tổng Giám mục cho phép ngài đi theo nhóm người Ba Lan bị đầy đi miền Đông. Đức Tổng Giám mục Twardowski đã ưng thuận và cha Fedorowicz đã có thể thực hiện theo sứ vụ linh mục sống giữa các đồng hương bị phân tán trên khắp các lãnh thổ của Liên Bang Sô Viết, và đặc biệt tại Kazakhstan. Ngài đã mô tả những biến cố bi thảm này trong một cuốn sách thật tuyệt diệu.

    Dĩ nhiên, những gì tôi nói về các trại tập trung chỉ phản ảnh một phần, thật bi thảm, của cuốn "sách khải huyền" của thế kỷ chúng ta. Tôi đã khơi lên để muốn nhấn mạnh rằng chức vụ linh mục của tôi, ngay lúc khởi đầu, đã mang dấu vết những hy sinh lớn lao của vô vàn các người cùng thế hệ với tôi. Chúa Quan phòng đã miễn trừ cho tôi những kinh nghiệm khổ ải nhất: và như vậy tôi cảm thấy mình mang ơn nghĩa thật nhiều, cả với những người tôi quen biết cũng như với bao người tôi không quen biết. Tất cả, không phân biệt quốc tịch hay ngôn ngữ, bằng những hy sinh trên bàn thờ diệu kỳ của lịch sử, đã giúp ơn gọi làm linh mục của tôi trở thành hiện thực. Một cách nào đó, tất cả những con người ấy đã dẫn hướng tôi đi theo lối đường này. Bằng những hy sinh của mình, các ngài đã chỉ cho tôi chân lý thâm sâu nhất và chính yếu nhất về thiên chức linh mục của Chúa Kitô.

    CẢM NGHIỆM LÒNG THIỆN HẢO GIỮA NHỮNG KHẮC NGHIỆT CỦA CHIẾN TRANH

    Tôi vẫn thường nói rằng giữa những năm tháng chiến tranh khó khăn, tôi đã cảm nghiệm được bao tấm lòng thiện hảo của nhiều người. Đặc biệt tôi nhớ đến một gia đình, thực ra nhiều gia đình, tôi quen biết trong thời ngoại bang chiếm đóng. Tôi đã làm việc chung với Juliusz Kydrynski, trước tiên trong hầm đá, rồi trong xưởng Solvay. Chúng tôi thuộc nhóm sinh viên-nhân công, gồm có cả Wojciech Zukrowski, người em Antoni của Wojciech và Wieslaw Kaczmarczyk. Juliusz Kydrynski và tôi biết nhau trước chiến tranh, đã học chung với nhau năm thứ nhất văn chương và ngôn ngữ Ba Lan. Trong thời gian chiến tranh, tình bạn giữa chúng tôi khắng khít. Tôi biết má anh goá bụa, rồi chị anh và em trai anh. Gia đình Kydrynsky rất ân cần và thương mến tôi và quan tâm lo lắng cho tôi rất nhiều khi cha tôi qua đời vào ngày 18 tháng hai năm 1941. Tôi nhớ ngày ấy thật rõ: khi đi làm về, tôi thấy cha tôi đã chết rồi. Tình bạn giữa tôi với gia đình Kydrynskis đã là niềm an ủi lớn lao cho tôi vào thời điểm đó. Rồi tình bạn giữa chúng tôi gia tăng để tôi kết thân với các gia đình khác nữa, nhất là gia đình Szkocki sống trên đường phố Ksiecia Jozefa. Tôi bắt đầu học tiếng Pháp nhờ ơn bà Jadwiga Lewaj đang sống trong gia đình ấy. Con gái đầu của gia đình Szkockis, cô Zofia Pozniak có chồng đang bị giam giữ trong trại, đã mời chúng tôi tới tham dự những buổi hòa nhạc tổ chức trong nhà họ. Nhờ vậy, thời kỳ đen tối của chiến tranh và quê hương bị chiếm đóng đã được âm nhạc và thơ văn làm sáng rực lên. Tất cả những chuyện này diễn ra thời gian trước khi tôi bước vào chủng viện.

  6. Có 3 người cám ơn DonRac vì bài này:


  7. #4
    DonRac's Avatar

    Tham gia ngày: May 2007
    Tên Thánh: Peter Anthony
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Việt Nam
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 3,781
    Cám ơn
    3,752
    Được cám ơn 15,421 lần trong 2,949 bài viết

    Thumbs down Phần IV

    IV

    MỘT LINH MỤC!

    Tôi được phong chức linh mục vào một ngày khác thường đối với bao nghi lễ như thế này: đó là ngày mồng một tháng mười một, ngày Lễ Các Thánh. Ngày đó phụng vụ trong Giáo hội hoàn toàn quy hướng về cử hành mầu nhiệm Các Thánh Thông Công và chuẩn bị kính nhớ các tín hữu đã lìa trần. Đức Tổng Giám mục đã chọn ngày này vì tôi đã được sắp xếp đi Roma tiếp tục công việc học hành. Tôi được phong chức một mình trong nhà nguyện riêng của các Đức Tổng Giám mục Cracow. Các đồng môn của tôi được truyền chức vào năm sau trong ngày Chúa Nhật Lễ Lá.
    Tôi đã được truyền chức trợ phó trế và phó tế trong tháng mười. Đó là tháng cầu nguyện cao độ, được xen kẽ bằng nhiều buổi tĩnh tâm nhằm chuẩn bị cho tôi chịu các Chức Thánh: sáu ngày tĩnh tâm trước chức Trợ Phó tế, rồi ba ngày trước chức Phó tế và sáu ngày trước khi thụ phong Linh mục. Trong đợt tĩnh tâm cuối cùng, tôi đã tĩnh tâm một mình trong nhà nguyện chủng viện. Buổi sáng ngày Lễ Các Thánh, tôi đã có mặt tại Tòa Tổng Giám mục Cracow, số 3 đường Franciszkanska để thụ phong linh mục. Chỉ có một nhóm nhỏ thân quyến và bạn hữu hiện diện trong nghi lễ này.

    GHI NHỚ NGƯỜI ANH EM TRONG ƠN GỌI LINH MỤC

    Như tôi vừa nói, tôi đã được truyền chức linh mục trong ngôi nguyện đường riêng của các Đức Tổng Giám mục Cracow. Tôi nhớ trong thời gian quân đội Đức chiếm đóng này, tôi thường đến đây vào mỗi buổi sáng giúp lễ Đức Tổng Giám mục Giáo khu. Tôi cũng nhớ trong một thời gian có một chủng sinh chui khác, tên anh là Jerzy Zachuta, cũng thường đi lễ với tôi. Một ngày kia anh mất dạng. Sau Thánh Lễ tôi ghé qua nhà anh tại Ludwinow (gần Debniki) và tôi hay biết anh đã bị bọn công an Gastapo bắt đi ban đêm. Ngay sau đó, tên anh xuất hiện trong danh sách các người Ba Lan bị xử bắn. Được truyền chức trong chính nguyện đường này, nơi chúng tôi thường gặp nhau nhiều lần, làm sao tôi quên được người anh em của tôi trong ơn gọi linh mục, người mà Chúa Kitô đã nối kết theo một cách thức khác đi vào huyền nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài.

    VENI, CREATOR SPIRITUS!

    Tôi vẫn còn nhớ, lúc tôi hát kinh Veni Creator Spiritus (Lậy Chúa Thánh Thần Tạo Dựng, xin Ngài hãy đến) và Kinh Cầu Các Thánh, tôi nằm sóng soài trên sàn nhà nguyện đường này với hai tay trải ngang theo hình thánh giá chờ đợi giây phút Đức Tổng Giám mục đặt tay. Thật là những kinh nghiệm rung động! Sau này khi làm Giám mục và Giáo hoàng, tôi đã chủ tế các nghi thức này rất nhiều lần. Một điều gây nhiều xúc động chính là khi những người chịu chức nằm rạp xuống, tượng trưng cho một thái độ tùng phục hoàn toàn trước uy quyền Thiên Chúa và hoàn toàn cởi mở trước tác động của Chúa Thánh Linh đang ngự xuống trên họ và thánh hiến họ. Veni, Creator Spritus, mentes Tuorum visita, imple superna gratia quae Tu creasti pectora. (Lạy Chúa Thánh Thần Tạo Dựng, xin Ngài hãy đến, xin Ngài hãy thăm viếng các tâm trí của những người thuộc về Ngài, xin Ngài đổ tràn ơn thánh siêu nhiên nơi các tâm hồn Ngài đã tạo dựng). Cũng như thể thức trong Thánh Le,ã Chúa Thánh Thần biến thể bánh và rượu thành Mình và Máu Chúa Kitô, thì trong Bí Tích truyền chức các Chức Thánh, Ngài cũng tác động việc thánh hiến linh mục và giám mục như thế. Vị Giám mục cử hành Bí Tích Truyền Các Chức Thánh chính là con người phân phát mầu nhiệm Thiên Chúa. Nghi thức đặt tay chính là một tiếp nối cử chỉ Giáo hội tiên khởi thường dùng để chỉ Chúa Thánh Thần đang ngự xuống trao cho một sứ mệnh đặc biệt. (xem CVTĐ 6:6, 8:17, 13:3). Thánh Phaolô đặt tay lên môn đệ Timothê (2Tim 1:6, 1Tim 4:14), và cử chỉ này đã tồn tại trong Giáo hội (1Tim 5:22) như dấu hiệu đầy năng lực của Chúa Thánh Linh đang hiện diện sống động trong Bí Tích Truyền Chức Thánh.

    SÀN NHÀ THỜ

    Ai nhận lãnh các Chức Thánh phải nằm phủ phục hoàn toàn và đặt trán sát với sàn nhà thờ, đó là một biểu hiện mình hoàn toàn mong muốn đảm nhận chức vụ được tín thác này. Nghi thức này đã in sâu vào đời sống linh mục của tôi. Những năm về sau, trong Đền Thánh Phêrô (vào mỗi lúc bắt đầu Công đồng), tôi đã nhớ lại giờ phút được thụ phong linh mục và tôi đã sáng tác một bài thơ. Tôi xin chia sẻ đôi dòng thơ ở đây:

    Thưa Phêrô, Ngài là sàn nhà thờ và bao người khác có thể bước lên trên Ngài...
    và Ngài muốn họ đi tới nơi đâu, những bước chân Ngài đang dẫn hướng...
    Ngài muốn phục vụ những đôi chân họ bước qua
    như tảng đá phục vụ những móng chân đàn chiên.
    Tảng đá là sàn đền thờ khổng lồ
    Và Thập giá là đồng cỏ.

    (Giáo hội: Các Mục tử và những Mùa Xuân, Đền Thờ Thánh Phêrô, Mùa Thu 1962: 11.X - 8.XII)

    Khi viết những dòng chữ này, tôi nghĩ đến Thánh Phêrô và đến tất cả thực tại của chức linh mục và cố công khám phá ra ý nghĩa thâm sâu của nghi thức phủ phục này. Khi nằm phủ phục trên sàn nhà theo hình thập giá trước khi chịu chức, khi chấp nhận thập giá Chúa Kitô cho cuộc đời mình và giống như Phêrô và cùng với Thánh Tông đồ này trở thành "sàn nhà" cho các anh chị em chúng ta, mình sẽ tìm được ý nghĩa thâm sâu của tất cả linh đạo làm linh mục.

    THÁNH LỄ MỞ TAY

    Sau khi được thụ phong linh mục vào Lễ Các Thánh, tôi đã cử hành Thánh Lễ Mở Tay vào ngày Lễ Các Linh Hồn, ngày mồng 2 tháng 11 năm 1946. Vào ngày đó, mỗi linh mục được phép cử hành ba Thánh Lễ vì lợi ích các tín hữu. Như vậy hóa ra tôi đã cử hành ba Thánh Lễ Mở Tay. Thực là một cảm nghiệm rung động sâu xa. Tôi đã cử hành ba Thánh Lễ nơi hầm mộ Thánh Leonard. Hầm mộ này trong nhà thờ Chính Toà Wawel tại Cracow, là phần phía trước của nơi được mệnh danh là nhà thờ Chánh Tòa Herman của Tòa Giám mục. Ngày nay hầm mộ là phần của tòa nhà dưới hầm nơi các ngôi mộ hoàng gia được chôn cất. Tôi đã chọn nơi đây để cử hành các Thánh Lễ Mở Tay để bộc lộ những mối giây liên kết linh thiêng với những vị được chôn cất trong ngôi Nhà Thờ Chính Tòa này. Mang đầy vết tích lịch sử, đây là công trình kiến trúc vô tiền khoáng hậu. Khác xa bất cứ ngôi thánh đường Ba Lan nào, Vương Cung Thánh Đường Wawel mang nhiều ý nghĩa lịch sử và thần học. Các vua chúa Ba Lan được chôn cất nơi đây, bắt đầu với Wladyslaw Lokietek: nơi đó các ngài được phong vương và cũng là nơi an nghỉ giấc ngàn thu. Tất cả những ai đến viếng thánh địa này đều nhận thấy mình chìm đắm trong lịch sử dân tộc.
    Và đó là lý do tại sao tôi muốn cử hành các Thánh Lễ Mở Tay nơi hầm mộ Thánh Leonard: tôi muốn diễn tả mối giây liên kết thiêng liêng với lịch sử Ba Lan, một lịch sử được biểu tượng bằng ngọn đồi Wawel. Nhưng còn nhiều nữa. Việc lựa chọn của tôi còn mang một ý nghĩa thần học đặc biệt. Như tôi đã nói, tôi đã được truyền chức vào ngày trước đó, ngày Lễ kính Trọng Thể Các Thánh, khi Giáo hội diễn tả bằng phụng vụ về thực tại Các Thánh Cùng Thông Công - communio sanctorum. Các Thánh là những người đã chấp nhận Huyền Nhiệm Phục Sinh của Chúa Kitô bằng đức tin, và bây giờ đang chờ cuộc phục sinh tối hậu.

    Tất cả những vị có di hài trong các mồ nơi Vương Cung Thánh Đường Cracow, đều đang nằm đó chờ ngày sống lại. Như vậy toàn bộ Vương Cung Thánh Đường xem ra như đang vang vọng lời kinh Tin Kính của các Tông đồ: "Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau." Chân lý của niềm tin này cũng chiếu dọi vào lịch sử các dân tộc. Tất cả những vị ấy đều là những "bậc thượng trí" dìu dắt quốc gia qua mọi thời đại. Trong hàng ngũ các ngài, không những chúng ta chỉ tìm thấy các bậc vua chúa, các hoàng hậu, hoặc các giám mục và hồng y, nhưng còn cả các thi nhân, các bậc đại văn hào đã ảnh hưởng rất nhiều vào công việc giáo dục tôi thành một Kitô hữu và một nhà ái quốc.

    Có ít người tham dự các Thánh Lễ Mở Tay của tôi được cử hành trên đồi Wawel: trong số đó, tôi còn nhớ mẹ đỡ đầu Maria Wiadrowska, người chị của mẹ tôi. Mieczyslaw Malinski giúp lễ, một cách nào đó, anh chính là một hiện thân tâm trí và thể xác của Jan Tyranowski, lúc đó đang đau nặng. Sau này, khi là linh mục và giám mục, tôi luôn luôn tới thăm viếng hầm mộ Thánh Leonard với đầy xúc động. Và tôi thích thú biết bao nếu được cử hành Thánh Lễ kỷ niệm 50 năm thụ phong linh mục tại đó!

    GIỮA DÂN THIÊN CHÚA

    Những Lễ Mở Tay khác nối tiếp: trong nhà thờ giáo xứ Thánh Stanislaus Kostka ở Debniki và Chúa Nhật sau đó tại Wadowice, trong Thánh đường Mẹ Thiên Chúa Dâng Mình. Tôi cũng đã cử hành Thánh Lễ tại Tòa Thánh Stanislaus trong Vương Cung Thánh Đường Wawel cho các bạn hữu thuộc giới kịch nghệ và cho tổ chức bí mật Unia (Đoàn kết) tôi đã có nhiều liên hệ trong thời Đức Quốc Xã chiếm đóng.

  8. Có 2 người cám ơn DonRac vì bài này:


  9. #5
    DonRac's Avatar

    Tham gia ngày: May 2007
    Tên Thánh: Peter Anthony
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Việt Nam
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 3,781
    Cám ơn
    3,752
    Được cám ơn 15,421 lần trong 2,949 bài viết

    Thumbs down Phần V

    V

    RÔMA

    Tháng mười một qua đi thật mau lẹ: giờ đã đến thời điểm lên đường đi Rôma. Khi ngày dự định đã đến, tôi lên tầu lửa, lòng bồi hồi khôn tả. Đi theo tôi có anh Stanislaw Starowieyski, một đồng môn trẻ trung hơn tôi cũng đã được gửi đi học toàn khoa thần học tại Rôma. Lần đầu tiên tôi dời biên giới quê hương. Từ cửa sổ của con tầu đang chuyển động, tôi nhìn thấy những thành phố trước đây chỉ được biết trong các sách địa lý. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy Prague, Nuremberg, Strasbourg và Paris, nơi đây chúng tôi dừng chân thăm chủng viện Ba Lan tọa lạc trên đường phố Irlandais. Chúng tôi ở đó chỉ trong một thời gian thật ngắn ngủi vì thời gian cấp bách và chúng tôi đạt chân tới Roma trong những ngày cuối cùng của tháng mười một. Nơi đây chúng tôi thật vui khi được các linh mục Pallottine tiếp đón nồng hậu. Tôi còn nhớ ngày Chúa Nhật đầu tiên sau khi tới Rôma, lúc ấy tôi đi với Stanislaw Starowieyski tới Đền Thánh Phêrô và tham dự lễ nghi trọng thể Đức Giáo hoàng tôn kính một vị mới được phong Chân Phước. Từ xa, tôi nhìn thấy Đức Giáo hoàng Piô XII được khiêng trên chiếc kiệu gọi là sedia gestatoria. Sự tham dự của Đức Giáo hoàng trong nghi lễ phong thánh vào thời kỳ ấy được giới hạn vào việc ngài chỉ đọc kinh cầu nguyện dâng lên vị tân Chân Phước, trong lúc nghi lễ đã được một trong các Hồng y cử hành vào buổi sáng. Truyền thống này đã thay đổi, bắt đầu với Linh mục Maximilian Maria Kolbe, khi vào tháng 10 năm 1971 Đức Phaolô VI đã đích thân cử hành lễ phong chân phước cho vị Thánh Tử đạo Ba Lan của trại tập trung Auschwitz trong Thánh Lễ đồng tế trọng thể với Đức Hồng y Wyszynski và các Giám mục Ba Lan. Tôi cũng thật hân hoan cùng đồng tế trong buổi lễ ấy.

    “HỌC HỎI RÔMA”

    Không bao giờ tôi quên được những cảm nghĩ trong những ngày đầu tiên tới Rôma, khi vào năm 1946 tôi bắt đầu biết được Kinh Thành Muôn Thuở này. Tôi đã ghi danh học theo chương trình tiến sĩ hai năm tại Đại học Angelicum. Viện trưởng của Phân khoa Thần học là cha Mario Luigi Ciappi, O.P., sau này là nhà thần học riêng của Giáo hoàng và là Hồng y.

    Cha Karol Kozlowski, giám đốc Chủng việc Cracow đã đôi lần bảo tôi rằng những ai may mắn được theo học tại kinh đô Thiên Chúa Giáo, hơn là chỉ chuyên chủ học hành (thật ra, bằng tiến sĩ thần học có thể lấy được ở các nơi khác!), điều quan trọng là phải ”học hỏi chính Rôma.” Tôi cố công theo ý kiến của ngài. Tôi đã đến Rôma với mong muốn mãnh liệt đi nhìn xem Kinh Thành Muôn Thuở, bắt đầu với các hang toại đạo. Cùng với các bạn hữu theo học Đại học Bỉ nơi tôi ở, tôi có thể thám hiểm kinh thành này một cách có hệ thống dưới sự hướng dẫn của những người thành thạo về các đền đài và lịch sử. Trong mùa nghỉ Giáng Sinh và Phục Sinh chúng tôi có thể đi thăm viếng các thành phố Ý khác. Tôi nhớ mùa nghỉ hè đầu tiên khi tôi sử dụng cuốn sách do tác giả Lorgensen người Đan Mạch đã viết như một hướng dẫn viên, chúng tôi ra đi khám phá những địa danh có liên hệ với đời sống Thánh Phanxicô.

    Nhưng Rôma luôn luôn là trung tâm ban cho chúng tôi rất nhiều kinh nghiệm. Tôi thường lên đường mỗi ngày từ Đại học Bỉ số 26 đường Quirinale để dự các lớp giảng dậy tại Đại học Angelicum. Tôi luôn luôn dừng lại thánh đường Sant'Andrea al Quirinale của Dòng Tên, nơi hài cốt Thánh Stanislaus Kostka được cất giữ. Thánh Stanislaus đã sống trong nhà tập bên cạnh và chết ở đó. Tôi nhớ trong số những du khách tới viếng mộ ngài, có nhiều chủng sinh người Đức được nhận diện dễ dàng nhờ các chiếc áo dòng đặc biệt mầu đỏ. Tại trung tâm Kitô giáo các tín hữu, và trong ánh sáng của các Thánh, dân chúng của các dân tộc thuộc các quốc gia khác nhau cùng đến nơi đây, như báo hiệu, ngoài cuộc chiến bi thảm đã để lại những dấu vết thương tổn trong chúng ta, một thế giới chẳng còn chia lìa nữa.

    NHỮNG VIỄN ẢNH MỤC VỤ

    Công việc đào tạo chức linh mục, thần học và mục vụ của tôi, một phần tôi đã kinh nghiệm được tại Rôma ngay từ lúc khởi đầu. Hai năm theo học được hoàn tất vào năm 1948 với cấp bằng tiến sĩ, đó là thời gian tôi dành hết công sức ”học cho biết Rôma”. Đại học Bỉ đã giúp tôi vun trồng chức linh mục vững mạnh từng ngày ngay giữa cuộc sống của thủ đô Công giáo. Nơi đây còn tạo cơ hội cho tôi đi vào những giao tiếp với một số những phương thức sáng tạo trong công tác tông đồ lúc đó đang phát triển trong Giáo Hội. Ở đây tôi đặc biệt nhớ tới cuộc gặp gỡ Cha Jozef Cardijn, sáng lập viên của Phong Trào Thanh Lao Công và sau này được vinh thăng Hồng y.

    Ngài thỉnh thoảng tới đây gặp gỡ các linh mục học viên và nói với chúng tôi về kinh nghiệm nhân linh của công việc lao động. Ở một mức độ nào đó, tôi đã được chuẩn bị cho kinh nghiệm này nhờ thời gian lao động trong hầm đá và trong nhà máy lọc nước Solvay. Nhưng tại Rôma tôi càng có thể lãnh hội đầy đủ hơn phương thức làm thế nào để chức vụ linh mục phải nối kết nhiều hơn với công tác mục vụ và công việc tông đồ giáo dân. Một sự nối kết chặt chẽ, hay tốt hơn, một sự tương giao hỗn hợp phải được tồn tại giữa công việc phục vụ của linh mục và tông đồ giáo dân. Khi tôi suy nghĩ về những vấn đề mục vụ này, tôi mới thẩm định rõ ràng hơn bao giờ hết ý nghĩa và giá trị của chính chức vụ linh mục.

    CHÂN TRỜI ÂU CHÂU

    Kinh nghiệm của tôi tại Đại học Bỉ sau này được trải rộng không phải chỉ nhờ những tiếp xúc trực tiếp với chính nước Bỉ, nhưng còn với Pháp quốc và Hoà Lan. Được sự đồng ý của Đức Hồng Y Sapieha, cha Stanislaw Starowieyski và tôi có thể đến thăm các quốc gia này vào mùa hè năm 1947. Tại đây tôi có dịp thẩm định Âu Châu rộng lớn. Tại Paris, tôi ở trong Chủng viện Ba Lan và tôi có cơ hội tiếp xúc với phong trào linh mục thợ thuyền và các vấn đề đặt ra do các cha Henri Godin và Yvan Danel ghi lại trong cuốn sách ”Nước Pháp, xứ sở thừa sai?” và công việc mục vụ đang được tiến hành trong các vùng ngoại ô Paris, đặc biệt trong giáo xứ do cha Michonneau đang đem lại sống động. Những kinh nghiệm này đã gây nhiều chú tâm quan trọng nơi tôi trong những năm thứ nhất và thứ nhì của chức vụ linh mục.

    Nhờ sự giúp đỡ của bạn bè, nhất là cha mẹ của cố linh mục Alfred Delmé, Stanislaw Starowieyski và tôi được đi nghỉ mười ngày tại Hòa Lan. Tôi cảm kích trước sức sống hăng hái của Giáo hội và mục vụ tông đồ tại xứ sở này, nơi có những tổ chức hoạt động hăng say và các cộng đồng giáo hội sống động.

    Nhờ những góc cạnh khác biệt và bổ xung cho nhau, tôi càng quý mến miền Tây Âu: Âu châu của thời đại sau chiến tranh, một Âu châu với những vương cung thánh đường nguy nga tráng lệ xây theo kiểu Gothic và dầu vậy một Âu Châu cũng đang bị cao trào tục hóa bành trướng đe dọa. Tôi hiểu được thách thức này đang đặt ra cho Giáo hội và nhu cầu phải đương đầu ngăn chặn hiểm họa sắp xẩy đến nhờ những phương thức mới mẻ trong sinh hoạt mục vụ mở ra cho giáo dân tham dự rộng rãi hơn.

    NƠI NHỮNG NGƯỜI DI DÂN

    Nhưng tôi đã trải qua gần hết mùa hè tại Bỉ quốc. Vào tháng chín, tôi đã đảm nhận công tác coi sóc cộng đồng Công giáo Ba Lan tiếp xúc với các phu mỏ trong vùng chung quanh Charleroi. Đây quả là một kinh nghiệm thành công thật quý giá. Đây là lần đầu tiên tôi đến thăm mỏ than và tôi đã có thể đích thân chứng kiến công việc nặng nhọc của các phu mỏ. Tôi đã đến thăm các gia đình di dân Ba Lan, chuyện trò với họ và gặp gỡ giới trẻ cùng các trẻ em. Tôi luôn luôn đối đãi tử tế và nồng hậu như khi tôi làm việc tại xưởng Solvay.

    CHÂN DUNG CHA THÁNH GIOAN VIANNEY

    Trên đường từ Bỉ về Rôma, tôi có thể dừng chân một thời gian tại giáo xứ Ars. Lúc đó vào cuối tháng mười năm 1947, Lễ Chúa Kitô Vua. Thật cảm động vô vàn khi tôi viếng thăm ngôi nhà thờ nhỏ cổ kính nơi Thánh Gioan Vianney đã giải tội, dậy giáo lý và thuyết giảng. Đó là một kỷ niệm không bao giờ nhạt nhòa trong tôi. Ngay từ những năm trong chủng viện tôi đã cảm kích trước khuôn mặt Cha Sở xứ Ars, nhất là sau khi đọc cuốn tiểu sử về thánh nhân do Đức Ông Trochu biên soạn. Thánh Gioan Maria Vianney làm chúng ta ngạc nhiên vì nơi ngài chúng ta nhìn thấy thần lực ơn thánh hoạt động qua những phương tiện nghèo nàn của con người. Chính việc cha thánh Vianney phục vụ một cách phi thường trong tòa cáo giải đã đặc biệt đánh động tôi. Vị linh mục khiêm tốn ấy đã giải tội hơn mười giờ mỗi ngày, ăn rất ít và ngủ chỉ một vài giờ, đã có thể giữa thời buổi khó khăn của lịch sử, khơi động một loại cách mạng tâm linh tại Pháp quốc và không phải chỉ tại nước Pháp mà thôi. Hàng ngàn người đã đi ngang qua xứ Ars và đã đến quỳ xưng tội. Để chống lại trào lưu tấn kích Giáo hội và hàng giáo sĩ trong thế kỷ thứ mười chín, chứng tá của ngài đã thực sự là một biến cố cách mạng.

    Việc gặp gỡ khuôn mặt thánh thiện này đã xác quyết với tôi trong niềm xác tín rằng linh mục nào hoàn thành một phần chính yếu của nhiệm vụ mình nơi tòa giải tội - chính là tự nguyện ”nhốt mình trong tòa cáo giải.” Nhiều lần, khi tôi giải tội trong giáo xứ đầu tiên của tôi tại Niegowic và rồi tại Cracow, ý nghĩ tôi tự dưng quay trở lại với kinh nghiệm đáng nhớ này. Tôi luôn luôn cố công duy trì mối dây liên kết này với tòa giải tội, cả trong những năm tôi giảng dậy tại Cracow và khi tôi giải tội phần lớm tại Vương Cung Thánh Đường Đức Trinh Nữ Mria Thăng Thiên, và bây giờ tại Rôma, dầu chỉ làm tượng trưng, khi hàng năm vào ngày Thứ sáu Tuần Thánh tôi ngồi giải tội trong Đền Thánh Phêrô.

    LÒNG BIẾT ƠN CHÂN TÌNH

    Tôi không thể kết thúc những suy tư này với không một diễn tả lòng biết ơn nồng thắm đến tất cả mọi thành phần trong Đại học Bỉ tại Rôma, các vị bề trên, và các đồng môn thời đó mà nhiều người đã quá cố. Tôi đặc biệt biết ơn cha Viện trưởng Maximilien de Furstenberg, sau này trở thành Hồng y. Làm sao tôi có thể quên được trong thời gian nghị hội năm 1978 Hồng y Furstenberg đến bên tôi một lúc nào đó và bộc phát những lời đầy ý nghĩa: Dominus adest et vocat te? (Gio 11,28) (Thầy có mặt và gọi em đấy?) Lời đó tựa như ngài đã hoàn thành một nhiệm vụ tinh tế và bí nhiệm của một Viện trưởng Đại học Bỉ, trong tiến trình đào luyện tôi làm linh mục.

    TRỞ VỀ BA LAN

    Vào đầu tháng bẩy năm 1948 tôi đã trình luận án tiến sĩ tại Đại học Angelicum và liền sau đó tôi trở về Ba Lan. Như đã nói trước đây, tôi phải cố công trong hai năm ở tại Kinh Thành Muôn Thuở để ”học hỏi Rôma”: Rôma của các hang toại đạo, Rôma của các Thánh Tử đạo, Rôma của Thánh Phêrô và Phaolô, Rôma của các người tuyên xưng niềm tin. Tôi thường nhớ lại những năm tháng ấy với đầy xúc động. Khi tôi dời Rôma, không những tôi mang theo kho kiến thức thần học rộng mở hơn, nhưng cũng được một thiên chức linh mục kiên cường hơn và một viễn ảnh, một quan niệm thâm sâu hơn về Giáo hội. Thời kỳ học vấn miệt mài này gần bên mộ phần các Thánh Tông đồ đã cống hiến cho tôi nhiều lắm, từ mọi quan điểm.

    Dĩ nhiên tôi có thể thêm nhiều chi tiết khác về những kinh nghiệm quyết đáp này. Nhưng tôi có thể tổng kết như sau, tại Rôma, những năm đầu trong cuộc đời linh mục đã mang kích thước của cả Âu châu lẫn thế giới. Tôi từ Rôma trở về Cracow mang theo ý niệm tính cách phổ quát của sứ mệnh linh mục, được trình bầy chính thức trong Công đồng Vatican II, đặc biệt trong Hiến chế về Giáo hội, Lumen Gentium (Ánh sáng muôn dân). Không phải chỉ có các giám mục, nhưng từng linh mục phải đích thân quan tâm tới toàn thể Giáo hội cũng phải cảm thấy mình có trách nhiệm đối với toàn thể Giáo hội trong một phương cách nào đó.

  10. Có 2 người cám ơn DonRac vì bài này:


  11. #6
    DonRac's Avatar

    Tham gia ngày: May 2007
    Tên Thánh: Peter Anthony
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Việt Nam
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 3,781
    Cám ơn
    3,752
    Được cám ơn 15,421 lần trong 2,949 bài viết

    Thumbs down Phần VI

    VI

    NIEGOWIC: MỘT GIÁO XỨ MIỀN QUÊ

    Khi vừa đặt chân tới Cracow, tôi liền đi tới Văn phòng Tổng Giám mục khu để nhận ”bài sai” đầu tiên được gọi là Aplikata. Lúc đó Đức Tổng Giám mục đã đi Rôma, nhưng ngài đã để lại những chỉ thị viết tay. Tôi đã vui vẻ nhận bài sai. Ngay lập tức tôi hỏi đường đi Niegowic và sắp đặt chương trình đến đó vào ngày chỉ định. Tôi đi từ Cracow tới Gdow bằng xe buýt và từ đó một người dân địa phương cho quá giang tới ngôi làng Marszowice; từ chỗ này ông khuyên tôi hãy đi bộ ngang qua cánh đồng. Từ xa tôi đã có thể nhìn thấy ngôi thánh đường Niegowic. Đang là mùa gặt. Tôi đi ngang qua cánh đồng lúa một phần đã được gặt, và phần kia đang lượn khúc theo chiều gió. Và sau cùng khi tới địa hạt giáo xứ Niegowic, tôi quỳ xuống và hôn đất. Đó là cử chỉ tôi đã học được từ Thánh Gioan Maria Vianney. Vào thánh đường, tôi viếng Thánh Thể và sau đó trình diện với cha sở, đó là Đức Ông Kazimierz Buzala, vừa là linh mục quản hạt Niepolomice vừa là cha sở Niegowic. Ngài tiếp đón tôi thật thân tình và sau câu chuyện ngắn ngủi, ngài chỉ cho tôi chỗ ở của linh mục phó xứ.

    Và như vậy tôi bắt tay vào công việc mục vụ trong giáo xứ đầu tiên của tôi và kéo dài được một năm gồm những công tác thường lệ được giao cho một linh mục phó xứ và phụ trách dậy giáo lý. Tôi được giao đảm trách năm trường tiểu học trong các làng thuộc giáo xứ Niegowic. Người ta thường chở tôi tới đó bằng xe bò hay xe ngựa. Tôi vẫn nhớ tình thân hữu của các giáo viên và những giáo dân trong xứ đối với tôi. Các lớp học hoàn toàn khác nhau: một số học sinh rất đàng hoàng yên tĩnh, một số lớp khác lại thật ồn ào. Cho đến ngày nay đôi khi tôi còn nhớ tới những giờ phút yên lặng hồi tâm bao trùm các lớp học trong Mùa Chay, lúc tôi giảng giải về Cuộc Thương Khó của Chúa Kitô.
    Vào thời kỳ đó giáo xứ Niegowic đang chuẩn bị cử hành lễ kỷ niệm lễ Kim Khánh linh mục của cha sở. Vì ngôi nhà thờ cổ kính này không còn tương xứng với các nhu cầu giáo xứ nữa, các giáo dân đã quyết định dâng món quà quý giá nhất cho ngày lễ Kim Khánh này chính là phải xây dựng một ngôi thánh đường mới. Nhưng chẳng bao lâu sau, bề trên lại đổi tôi khỏi cộng đoàn thân thương này.

    GIÁO XỨ THÁNH FLORIAN TẠI CRACOW

    Và như vậy, sau một năm tôi được chuyển về giáo xứ Thánh Florian tại Cracow. Cha sở là Đức Ông Tadeusz Kurowski đã trao phó cho tôi dậy giáo lý các lớp lớn trung học và lo săn sóc mục vụ cho các sinh viên đại học. Vào thời kỳ đó, công tác tuyên uý đại học tại Cracow được tập trung tại Nhà thờ Thánh Anna, nhưng vì có các phân khoa mới, nên cần phải lập thêm một trung tâm mới tại giáo xứ Thánh Florian. Nơi đây tôi bắt đầu tiếp xúc nói chuyện với các bạn trẻ tại đại học; vào mỗi ngày thứ năm tôi nói chuyện với họ về những vấn đề nền tảng liên quan đến Thiên Chúa hiện hữu và bản chất linh thiêng của linh hồn con người. Đó là những vấn đề cực kỳ quan trọng do chủ nghĩa vô thần hiếu chiến đang được chế độ cộng sản cổ võ.

    CÔNG VIỆC ĐÈN SÁCH

    Trong mùa hè 1951, sau hai năm phục vụ tại giáo xứ Thánh Florian, Đức Tổng Giám mục Eugeniusz Baziak, kế vị Đức Hồng y Sapieha cai quản Tổng Giáo phận Cracow, đã chỉ thị tôi trở lại công việc học hành. Tôi phải chuẩn bị lấy thêm chứng chỉ để dậy môn đạo đức và luân lý thần học. Như vậy tôi phải bớt thời giờ làm mục vụ tôi rất yêu thích. Đây là một hy sinh và kể từ thời gian ấy tôi đã luôn luôn tâm niệm rằng: việc hiến thân theo học thần học và triết học sẽ không làm tôi ”quên” rằng tôi đã là linh mục của Chúa, nhưng đúng hơn, còn phải giúp tôi trở thành một linh mục uyên thâm.

  12. Có 2 người cám ơn DonRac vì bài này:


  13. #7
    DonRac's Avatar

    Tham gia ngày: May 2007
    Tên Thánh: Peter Anthony
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Việt Nam
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 3,781
    Cám ơn
    3,752
    Được cám ơn 15,421 lần trong 2,949 bài viết

    Thumbs down Phần VII

    VII

    XIN TẠ ƠN GIÁO HỘI BA LAN!

    Trong chứng từ dịp Lễ Kim Khánh này làm sao tôi không diễn tả niềm tri ân tới toàn thể Giáo Hội Ba Lan, nơi thiên chức linh mục của tôi đã phát sinh và triển nở? Đây là một Giáo hội được đánh dấu để lại một gia tài ngàn năm đức tin, một Giáo hội hàng thế kỷ đã sản sinh bao thánh nhân và chân phước, một Giáo hội đã tín thác nơi hai vị Giám mục và Tử đạo thánh thiện làm quan thầy bảo trợ: Adalbert và Stanislaus. Đây là một Giáo hội nối kết chặt chẽ với dân tộc và văn hóa Ba Lan, một Giáo hội đã luôn luôn chống đỡ và bảo vệ dân tộc này, nhất là trong các giai đoạn đau thương của lịch sử. Đây cũng là một Giáo hội đã trải qua những thử thách nghiêm trọng trong kỷ nguyên này: Giáo hội phải gánh chịu cuộc chiến đấu bi thảm để sống còn chống lại hai hệ thống chuyên chính: chế độ do Đức Quốc Xã nhào nặn trong Đệ Nhị Thế Chiến và trong thời kỳ hậu chiến lâu dài do chế độ cộng sản độc tài và chủ nghĩa vô thần hiếu chiến thống trị.

    Từ hai cuộc thử thách này Giáo hội Ba Lan đã vươn lên vẻ vang, nhờ các hy sinh của các Giám mục, các linh mục và hàng hà sa số giáo dân; nhờ các gia đình Ba Lan luôn ”vững mạnh trong Chúa.” Giữa các Giám mục sống thời kỳ chiến tranh, tôi không thể không nhắc nhở khuôn mặt trung kiên của vị Tổng Giám mục Cracow, Đức Adam Stefan Sapieha, và giữa những khuôn mặt khác của những năm sau chiến tranh, đó là Đức Hồng y Wyszynski. Giáo hội Ba Lan là một Giáo hội bảo vệ con người, nhân phẩm và những quyền căn bản của mình; đó là Giáo hội đã tranh đấu can đảm để bảo vệ quyền lợi các tín hữu tuyên xưng đức tin. Và đó là Giáo hội vẫn năng động phi thường, dầu cho bao khó khăn và trở ngại cản ngăn lối tiến.

    Trong bầu không khí linh thiêng nồng nhiệt này, sứ mệnh của tôi như một linh mục và giám mục đã dần dần triển nở. Hai hệ thống chuyên chính đã đánh dấu bi thảm thế kỷ chúng ta - một đàng Đức Quốc Xã với những kinh hoàng của chiến tranh và những trại tập trung, và đàng khác chủ nghĩa Cộng sản với chế độ áp bức và khủng bố - có thể nói, tôi đã hiểu biết được từ bên trong. Và như vậy thật dễ dàng hiểu được mối quan tâm thâm sâu của tôi đến nhân phẩm của mỗi người và sự thiết cần phải tôn trọng nhân quyền, bắt đầu từ quyền sống. Mối quan tâm này đã được hình thành ngay trong những năm đầu tôi làm linh mục và đã lớn mạnh dần với thời gian. Cũng thật dễ hiểu mối quan tâm của tôi đối với gia đình và giới trẻ. Tất cả những mối quan tâm này đã quyện lẫn vào nhau và phát triển có hệ thống trong tôi, chính nhờ kết quả của những kinh nghiệm thương đau ấy.

    CỘNG ĐỒNG LINH MỤC TẠI CRACOW

    Vào dịp kỷ niệm năm mươi năm được thụ phong linh mục, tôi đặc biệt nghĩ đến”Cộng đồng linh mục” của Giáo hội tại Cracow, nơi tôi đã là một phần tử như linh mục và rồi lãnh đạo cộng đồng đó trong chức vụ Tổng Giám mục. Biết bao linh mục chính xứ và phó xứ xuất sắc đã hiện lên trong tâm trí tôi, mà giờ đây tôi không thể nhắc nhớ từng vị một được. Trước đây và bây giờ, những mối giây thân tình vẫn nối kết tôi với các ngài. Gương sống thánh thiện và nhiệt thành tông đồ của các ngài đã khai sáng cho tôi thực nhiều vô kể. Chắc chắn các ngài đã ảnh hưởng thâm sâu nơi cuộc sống linh mục của tôi. Từ các ngài, tôi đã học được ý nghĩa thế nào là một vị chủ chiên năng động.

    Tôi thâm tín sâu xa về vai trò quyết đáp của Cộng đồng linh mục tại giáo phận tác động nơi cuộc sống của mỗi linh mục. Cộng đồng linh mục, được đâm rễ sâu từ ”bí tích huynh đệ” chân thực, là một cảnh vực quan trọng đầu tiên cho công cuộc đào luyện tâm linh và mục vụ. Như một quy luật, linh mục không thể làm gì nếu thiếu vắng cộng đồng này. Cộng đồng linh mục sẽ giúp linh mục lớn mạnh trong sức sống thánh thiện và là một yểm trợ chắc chắn trong những giờ phút khó khăn. Nhân dịp lễ Kim Khánh của tôi, làm sao tôi không bộc lộ niềm tri ân đến tất cả các linh mục của Tổng Giáo phận Cracow về tất cả những gì các ngài đã góp phần cho thiên chức linh mục của tôi?

    QUÀ TẶNG GIÁO DÂN

    Lúc này đây tôi cũng nghĩ tới tất cả những người giáo dân mà Chúa đã cho tôi gặp trong sứ vụ linh mục và giám mục của tôi. Tất cả đã là quà tặng duy nhất cho tôi, và tôi cám ơn Chúa Quan Phòng cho họ hàng ngày. Những anh chị em giáo dân này thật đông đảo đến nỗi tôi không thể liệt kê từng tên được, nhưng tôi mang tất cả trong tâm khảm tôi, vì mỗi anh chị em giáo dân đã đóng góp cho cuộc sống linh mục của tôi lớn mạnh. Bằng cách thức này hay cách thức khác, những người giáo dân này đã chỉ đường cho tôi khi giúp đỡ tôi hiểu biết công tác mục vụ của tôi hoàn hảo hơn và sống chức linh mục của tôi toàn vẹn hơn. Những giao tiếp thường xuyên của tôi với các giáo dân nam nữ đã luôn luôn chứng tỏ hữu ích và đã giúp tôi học hiểu được nhiều. Trong số đó có những nhân công bình thường, những nghệ sĩ và văn sĩ nam nữ và những nhà khoa học uyên thâm. Những tiếp xúc này làm phát sinh tình thân hữu tốt đẹp và ngày nay tôi vẫn còn vui thích liên lạc. Nhờ những tín hữu giáo dân này, công việc mục vụ của tôi được nhân lên và tôi có thể vượt qua các hàng rào cản để tiến sâu vào các môi trường rất khó khăn đạt tới được nếu không có họ.

    Thực vậy, tôi luôn luôn rất ý thức về nhu cầu khẩn thiết của vai trò tông đồ giáo dân trong Giáo hội. Khi Công đồng Vatican II đề cập tới ơn gọi và sứ mệnh của người giáo dân trong Giáo hội và thế giới, tôi thật vui mừng: Những gì Công đồng đã chỉ dậy thật tương hợp với những xác tín đã hướng dẫn các hoạt động của tôi ngay từ những năm đầu của sứ vụ linh mục.

  14. Có 3 người cám ơn DonRac vì bài này:


  15. #8
    DonRac's Avatar

    Tham gia ngày: May 2007
    Tên Thánh: Peter Anthony
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Việt Nam
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 3,781
    Cám ơn
    3,752
    Được cám ơn 15,421 lần trong 2,949 bài viết

    Thumbs down Phần VIII

    VIII

    AI LÀ LINH MỤC?

    Trong chứng từ cá nhân này, tôi cũng cảm thấy cần phải đi xa hơn việc chỉ gợi nhớ lại những biến cố và những cá nhân để hướng tầm nhìn đi vào thâm sâu hơn và tìm ra, đúng như thực tế, huyền nhiệm trong suốt năm mươi năm qua đã cùng đồng hành và bao bọc tôi.

    Linh mục có ý nghĩa gì? Theo Thánh Phaolô, trên hết linh mục là người quản lý các huyền nhiệm của Thiên Chúa: "Vậy chớ gì thiên hạ coi chúng tôi như những đầy tớ của Đức Kitô, những người quản lý các mầu nhiệm của Thiên Chúa. Mà người ta chỉ đòi hỏi ở người quản lý một điều là phải chứng tỏ lòng trung thành." (1Cor 4:1-2). Danh từ "đầy tớ - giúp việc" không thể có một danh từ nào khác thay thế. Danh từ này bám rễ sâu trong Kinh Thánh: Danh từ ấy nhắc ta nhớ lại dụ ngôn người đầy tớ trung thành và người đầy tớ bất trung (xem Lc 12:41-48). Người đầy tớ không phải là một chủ nhân, nhưng là người được ông chủ tín cẩn giao cho tài sản để phải quản lý thế nào cho chính trực và có trách nhiệm. Cũng đúng như thế, linh mục nhận lãnh nơi Chúa Kitô các kho tàng cứu độ để phải đúng lúc phân phát cho những người linh mục được sai phái tới. Đó là những kho tàng đức tin. Như vậy linh mục là người của Lời Thiên Chúa, một người của bí tích, một người của "huyền nhiệm đức tin." Nhờ đức tin, linh mục tiến gần lại các kho tàng vô hình đang cấu tạo nên gia tài Ơn Cứu Độ cho thế giới do Con Thiên Chúa. Không linh mục nào được coi mình như "chủ nhân" của các kho tàng này; những kho tàng ấy dành cho mọi người chúng ta. Như vậy, do Chúa Kitô đã đạt định, linh mục có trách vụ quản trị các kho tàng ấy.

    TRAO ĐỔI KỲ DIỆU!

    Ơn gọi linh mục là một huyền nhiệm. Đó là mầu nhiệm của một việc "trao đổi kỳ diệu" - admirabile commercium - giữa con người và Thiên Chúa. Con người hiến dâng nhân tính của mình cho Chúa Kitô để Ngài có thể sử dụng họ như lợi khí cứu độ, biến họ thành một Kitô khác. Nếu không nắm vững huyền nhiệm "trao đổi" này, chúng ta sẽ chẳng thể hiểu được làm thế nào một chàng trai trẻ, khi nghe tiếng gọi "Hãy bước theo ta!," lại có thể từ bỏ mọi chuyện để theo Chúa Kitô, với niềm xác tín rằng nếu họ đi theo lối đường này, họ sẽ tìm thấy nhân cách mình được thực hiện viên mãn.

    Trong thế giới chúng ta, còn có gì viên mãn cho nhân loại tính chúng ta hơn là hàng ngày có thể làm hiện diện lại lễ hy tế cứu độ nơi Ngôi thể Chúa Kitô (persona Christi), cũng một lễ hy tế Chúa Kitô đã dâng trên thập giá? Một mặt, trong lễ hy tế này, huyền nhiệm của Ba Ngôi đang hiện diện một cách thâm sâu nhất và mặt khác toàn thể vũ trụ thụ tạo được "nối kết" vào (xem Eph 1:10). Phép Thánh Thể cũng được cử hành để dâng hiến "những lao công và khốn khổ của thế giới trên bàn thờ của toàn trái đất," theo lối diễn tả ý vị của cha Teilhard de Chardin. Đó là lý do tại sao trong phần tạ ơn sau Thánh Lễ, lời thánh ca Cựu Ước của ba người trẻ được đọc lên: Benedicite omnia opera Domini Domino (Hãy chúc tụng mọi công trình của Thiên Chúa lên Thiên Chúa). Vì trong Phép Thánh Thể, mọi vật thụ tạo hữu hình cũng như vô hình và đặc biệt con người, chúc tụng Thiên Chúa như Đấng Tạo Dựng và Người Cha; tất cả đều chúc tụng Ngài với những lời kinh và hành động của Chúa Kitô, Con Thiên Chúa.

    LINH MỤC VÀ PHÉP THÁNH THỂ

    "Lạy Cha là Chúa tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn...Và không ai biết người Con là ai, trừ Chúa Cha, cũng như không ai biết Chúa Cha là ai, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mạc khải cho" (Lc 10:21-22). Những lời vừa rồi của Tin Mừng Thánh Luca dẫn dắt chúng ta đi vào trung tâm của huyền nhiệm Chúa Kitô và giúp chúng ta đến gần huyền nhiệm Thánh Thể. Trong phép Thánh Thể, Chúa Con thuộc về cùng một bản thể với Chúa Cha, là người mà chỉ Chúa Cha biết, hiến dâng chính mình làm lễ hiến tế cho Chúa Cha để cứu vãn nhân loại và mọi vật được tạo dựng. Trong phép Thánh Thể, Chúa Kitô trao lại cho Chúa Cha tất cả những gì Ngài đã ban cho. Như thế dẫn đến một huyền nhiệm thâm sâu của đức công chính về phần loài thụ tạo đối đãi với Đấng Tạo Dựng. Con người cần vinh danh Đấng Tạo Dựng bằng việc dâng hiến lên Ngài tất cả những gì mình đã nhận được, bằng hành vi tạ ơn và chúc tụng. Con người không bao giờ được đánh mất tầm nhìn về món nợ này, mà một mình con người, trong số những thực tại khác trên trái đất, có khả năng ghi nhận và trả món nợ này trong tư thế là một sinh vật được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và giống Ngài. Đồng thời, xét về những hạn chế của một sinh vật được tạo dựng và trong điều kiện tội lỗi, con người không có khả năng thực thi hành động công chính đối với Đấng Tạo Hoá, nếu không phải chính Chúa Kitô, người Con cùng bản thể với Chúa Cha và là con người thực sự, đã sáng kiến ra phép Thánh Thể trước tiên.

    Chức vụ linh mục, trong thực tại thâm sâu nhất, chính là thiên chức linh mục của Chúa Kitô. Chính Chúa Kitô dâng hiến chính mình, xác thịt và dòng máu, làm hiến vật dâng lên Thiên Chúa Cha, và nhờ lễ hy tế này, toàn thể nhân loại và gián tiếp là mọi tạo vật được công chính hóa trước mặt Chúa Cha. Linh mục, trong việc cử hành Thánh Thể hàng ngày, tiến vào trung tâm của huyền nhiệm này. Do đó việc cử hành Thánh Thể phải là cao điểm quan trọng nhất trong một ngày của người linh mục, là trung tâm điểm cuộc sống linh mục.

    IN PERSONA CHRISTI

    Những lời chúng ta nhắc lại vào cuối Kinh Tiền Tụng - "Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến" - đem chúng ta trở lại với những biến cố bi thảm của Ngày Chúa Nhật Lễ Lá. Chúa Giêsu đi tới Giêrusalem để đối diện với lễ hy tế đẫm máu của Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Nhưng một ngày trước đó, trong bữa Tiệc Ly, Ngài thiết lập bí tích hy tế này. Ngài đọc những lời hiến tế trên bánh mì và rượu nho: "Này là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con... Này là chén Máu Thầy, Máu giao ước mới, giao ước vĩnh cửu sẽ đổ ra cho các con và mọi người được tha tội. Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy."

    Việc này thuộc loại "ghi nhớ" nào? Chúng ta biết rằng từ ngữ này phải mang một ý nghĩa trọng đại, một ý nghĩa vượt xa sự ghi nhớ chỉ mang tính cách lịch sử. Ở đây chúng ta nói đến việc "ghi nhớ" theo ý nghĩa Thánh Kinh, việc ghi nhớ làm hiện diện trở lại chính biến cố ấy. Đây là việc ghi nhớ-hiện diện. Bí mật của phép lạ này chính là hoạt động của Chúa Thánh Linh mà linh mục kêu mời khi giơ tay trên các lễ vật bánh miến và rượu nho: "Chúng con xin Cha đổ ơn Thánh Thần xuống mà thánh hóa của lễ này để biến thành Mình và Máu Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con." Như vậy không phải chỉ nguyên linh mục nhắc lại các biến cố Thương Khó, Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa Kitô, nhưng cũng chính của Chúa Thánh Linh giúp cho biến cố này trở thành hiện thân trên bàn thờ qua thừa tác vụ linh mục. Linh mục thực sự hành động nơi thân thể Chúa Kitô. Những gì Chúa Kitô hoàn thành trên bàn thờ Thánh giá và trước đó Ngài đã thiết lập như một bí tích trong Phòng Tiệc Ly, thì giờ đây linh mục diễn lại nhờ thần lực Chúa Thánh Linh, và những lời linh mục đọc lên có cùng một hiệu năng như những lời Chúa Kitô đã đọc tại Bữa Tiệc Ly.

    MYSTERIUM FIDEI (HUYỀN NHIỆM ĐỨC TIN)

    Tại Thánh Lễ, sau khi truyền phép, linh mục nói những lời này, Mysterium fidei, Đây là mầu nhiệm đức tin! Những lời nói ấy dĩ nhiên đề cập tới phép Thánh Thể. Tuy nhiên, một cách thức nào đó, những lời ấy cũng liên hệ tới chức linh mục. Không thể có phép Thánh Thể nếu không có chức linh mục, cũng như không thể có chức linh mục nếu không có phép Thánh Thể. Không phải chỉ có nghiệp vụ linh mục mới liên kết chặt chẽ với phép Thánh Thể, nhưng chức linh mục chung cho mọi tín hữu đã được rửa tội cũng đâm rễ sâu trong huyền nhiệm này. Đáp lại những lời của vị chủ tế, toàn dân thưa: "Khi chúng con ăn bánh này và uống chén này chúng con công bố việc Chúa Giêsu đã chịu chết, cho đến ngày Chúa đến trong vinh quang." Như Công đồng Vatican II nhắc nhở chúng ta, những người tín hữu khi chia sẻ vào Lễ Hy Tế Thánh Thể trở thành chứng tá cho Chúa kitô bị Đóng Đinh và Sống Lại và cam kết sống sứ mệnh ba chiều - tư tế, tiên tri và vương quyền - mà họ đã nhận lãnh ngày Rửa Tội.

    Linh mục, như người đầy tớ các "huyền nhiệm của Thiên Chúa," phải đi vào phục vụ chức linh mục tổng quát của người tín hữu. Nhờ công bố lời Chúa và cử hành các bí tích, nhất là Bí Tích Thánh Thể, linh mục hãy làm cho toàn thể Dân Chúa ý thức nhiều hơn về phần mình chia sẻ vào chức linh mục của Chúa Kitô, và đồng thời khuyến khích mọi người hãy sống vẹn toàn chức vụ linh mục ấy. Sau truyền phép, khi linh mục đọc những lời Mysterium Fidei, tất cả mọi người được mời gọi cân nhắc ý nghĩa hiện tồn phong phú của lời công bố này, có liên quan tới huyền nhiệm Chúa Kitô, Thánh Thể và chức linh mục.

    Đó không phải là lý do thâm sâu nhất nằm đàng sau ơn gọi linh mục sao? Chắc chắn lý do đó hoàn toàn hiện diện vào lúc truyền chức, nhưng cần được nội tâm hóa và đào sâu thêm cho suốt cuộc đời còn lại của linh mục. Chỉ có cách thức này người linh mục mới có thể khám phá thấy tận thâm cung của kho tàng cao cả Thiên Chúa đã tín thác cho ngài. Năm mươi năm sau khi chịu chức, tôi có thể nói rằng trong những lời Mysterium Fidei, chúng ta sẽ mỗi ngày hiểu thêm ý nghĩa của chức vụ linh mục. Đây là tiêu chuẩn để đánh giá hồng ân linh mục và đây cũng là tiêu chuẩn để đánh giá sự đáp trả lại những gì hồng này đòi hỏi. Hồng ân luôn luôn gia tăng! Và đây là một điều tuyệt diệu. Và tuyệt diệu tới nỗi con người không bao giờ có thể nói mình đã đáp trả trọn vẹn được hồng ân ấy. Luôn luôn tồn tại cả hồng ân lẫn trách vụ! Điều chính yếu là ý thức được như thế để có thể sống thiên chức linh mục của chúng ta thật trọn vẹn.

    CHÚA KITÔ, LINH MỤC VÀ VẬT HIẾN TẾ

    Chân lý về chức linh mục của Chúa Kitô luôn luôn đánh động tôi một cách thật phi thường qua lời Kinh Cầu hùng hồn thường được đọc trong chủng viện tại Cracow, nhất là vào buổi chiều tối trước ngày thụ phong linh mục. Tôi muốn nói tới Kinh Cầu Chúa Giêsu Kitô, Linh mục và Hiến vật. Lời kinh này đã nhắc nhớ những suy tư thâm sâu biết bao. Trong lễ Hy tế trên Thánh Giá, được tái diễn lại trong mỗi Thánh lễ, Chúa Kitô dâng hiến chính mình để cứu độ nhân loại.

    Những lời kêu xin của Kinh Cầu gợi nhớ lại nhiều khía cạnh của Huyền nhiệm này. Những lời kêu xin được tôi nhớ lại với tất cả biểu tượng phong phú nơi các hình ảnh Thánh Kinh được nối kết mật thiết lại với nhau. Tôi còn lặp lại những lời kinh ấy bằng tiếng La Tinh, ngôn ngữ mà tôi đã đọc lúc còn trong chủng viện và rất thông thường những năm sau này nữa:

    Jesu, Sacerdos et Victima,
    Jesu, Saerdos in aeternum secundum ordinem Melchisedech,
    Jesu, Pontifex ex hominibus assumpte,
    Jesu, pro hominibus constitute,
    Jesu, Pontifex futurorum bonorum,
    Jesu, Pontifex fidelis et misericors,
    Jesu, Pontifex qui dilexisti nos et lavisti nos a peccatis in sangune tuo,
    Jesu, Pontifex qui tradidisti temetipsum Deo oblationem et hostiam,
    Jesu, Hostia sancta et immaculata,
    Jesu, Hostia in qua habemus fiduciam et accessum ad Deum,
    Jesu, Hostia vivens in saecula saeculorum.
    (Lời Kinh Cầu đầy đủ nằm trong phần phụ chú ở cuối sách và có phần Kinh Cầu bằng tiếng Việt).

    Những lời diễn tả này thật chứa đựng nhiều tư tưởng thần học thâm sâu vô cùng. Đó là những lời kêu xin đâm rễ sâu trong Thánh Kinh, nhất là trong Thư gửi tín hữu Do Thái. Chúng ta chỉ cần đọc lại đoạn này: "Chúa Kitô...như thầy thượng phẩm đem phúc lộc đến... Người đã một lần thay cho tất cả bước vào cung thánh, không phải với máu các con dê, con bò, nhưng với chính máu của mình, như vậy Người lãnh được ơn cứu chuộc vĩnh viễn cho chúng ta. Vì nếu máu các con dê, con bò... đem rẩy lên mình những kẻ nhiễm uế, còn thánh hóa được họ, nghĩa là cho thân xác họ trở nên trong sạch, thì máu của Đức Kitô càng hiệu lực hơn biết mấy. Nhờ Thánh Thần hằng hữu thúc đẩy, Đức Kitô đã tự hiến tế như lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa. Máu của Người thanh tẩy lương tâm chúng ta khỏi việc đưa tới sự chết, để chúng ta xứng đáng phụng thờ Thiên Chúa hằng sống" (Heb 9:11-14). Chúa Kitô là linh mục vì Ngài là Đấng Cứu Thế của thế giới. Chức linh mục của mọi tư tế là một phần của huyền nhiệm Cứu Thế. Chân lý về Ơn Cứu Chuộc và Đấng Cứu Thế đã trở thành chủ yếu đối với tôi; chân lý ấy đã tồn tại trong tôi trong những năm này, đã thấm nhập vào mọi kinh nghiệm mục vụ của tôi, và vẫn tiếp tục ban cho tôi những kho tàng mới.

    Trong năm mươi năm đời sống linh mục này, tôi đã đi tới nhận định rằng việc Cứu Chuộc, cái giá đã phải trả cho tội lỗi, đưa đến một khám phá tân trang, một loại "tạo dựng mới" của toàn thể trật tự tạo dựng: việc khám phá trở lại con người như một nhân vị, con người được Thiên Chúa tạo dựng như người nam người nữ; việc khám phá trở lại chân lý thâm sâu nhất về tất cả những công trình của con người, nền văn hóa và văn minh nhân loại, về tất cả những thành đạt và khả năng sáng tạo của con người. Sau khi được bầu làm Giáo hoàng, thôi thúc tâm linh đầu tiên đến với tôi, chính là quy hướng về Chúa Kitô là Đấng Cứu Chúa. Đây là nguồn gốc của tông huấn Redemptor Hominis. Khi suy tư về tất cả những biến cố này, tôi càng nhìn ra rõ ràng việc nối kết chặt chẽ giữa sứ điệp của Tông huấn này và tất cả những gì được tìm thấy trong tâm khảm con người, nhờ việc chia sẻ vào chức vụ linh mục của Chúa Kitô.

  16. Có 3 người cám ơn DonRac vì bài này:


  17. #9
    DonRac's Avatar

    Tham gia ngày: May 2007
    Tên Thánh: Peter Anthony
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Việt Nam
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 3,781
    Cám ơn
    3,752
    Được cám ơn 15,421 lần trong 2,949 bài viết

    Thumbs down Phần IX

    IX

    LÀM LINH MỤC NGÀY NAY

    Năm mươi năm làm linh mục quả là một thời gian dài dẵng. Biết bao chuyện đã xẩy ra trong nửa thế kỷ của lịch sử! Nhiều vấn đề mới, lối sống mới và thách thức mới đã xuất hiện. Và như vậy khi đặt câu hỏi sau đây cũng là chuyện bình thương thôi: làm linh mục ngày nay có ý nghĩa gì trong một thời kỳ luôn luôn có đổi thay, khi chúng ta bước vào Thiên Niên Đệ Tam?

    Chắc chắn linh mục, cùng với toàn thể Giáo hội, là một thành phần của thời đại người linh mục sống; linh mục cần phải chú tâm và sống biết thông cảm, nhưng đồng thời cũng phải biết phê phán và canh chừng trước những phát triển của lịch sử. Công đồng đã lưu ý đến khả năng và nhu cầu cho một đổi mới chính cống, hoàn toàn trung thành với Lời Thiên Chúa và Truyền Thống. Nhưng tôi xác tín người linh mục, khi sống cam kết cho mục vụ đổi mới cần thiết này, phải đồng thời không lo ngại mình ”đi sau thời đại,” vì con người ”ngày nay” của mỗi linh mục được hàm chứa trong cái ”ngày nay” của Chúa Giêsu, Đấng Cứu Chúa. Đối với mỗi linh mục, trong từng thời đại, nhiệm vụ cao cả nhất chính là mỗi ngày khám phá ra cái ”ngày nay” riêng tư của linh mục trong cái ”ngày nay” của Chúa Kitô mà Thánh Thư gửi tín hữu Do Thái vẫn nhắc nhở. Cái ”ngày nay” của Chúa Kitô hoà trộn trong cái toàn bộ của lịch sử - trong quá khứ và tương lai của thế giới, của từng con người nhân linh và của mỗi linh mục. ”Chúa Giêsu Kitô vẫn là một hôm qua cũng như hôm nay và như vậy mãi đến muôn đời” (Dt 13:8). Nếu chúng ta hội nhập “ngày hôm nay” của bản chất nhân linh và linh mục trong ”ngày hôm nay” của Chúa Giêsu Kitô, như vậy chẳng có gì nguy hiểm khi chúng ta trở thành con người lỗi thời, thuộc về ”ngày hôm qua”. Chúa Kitô chính là tiêu chuẩn của mỗi thời đại. Trong bản chất thiên tính, nhân linh và linh mục của ”ngày hôm nay” của Ngài, cuộc xung đột giữa chủ nghĩa ”truyền thống” và ”cấp tiến” - đã một lần được tranh luận sôi động - đang tìm ra lối giải quyết tối hậu.

    NHỮNG TRÔNG ĐỢI THÂM SÂU CỦA NHÂN LOẠI

    Nếu chúng ta nhìn kỹ những gì các nam nữ tín hữu đương thời xem họ đang trông đợi nơi các linh mục, chúng ta sẽ nhận ra ngay, cuối cùng họ chỉ có một trông đợi to lớn duy nhất: họ khát khao Chúa Kitô. Tất cả những chuyện khác - nhu cầu kinh tế, xã hội và chính trị - họ có thể được thỏa mãn bởi bất cứ một nhóm người nào khác. Nơi linh mục họ đòi hỏi Chúa Kitô! Và họ có quyền nhận lãnh Chúa Kitô từ nơi các linh mục, và trước tiên qua những lời công bố Tin Mừng. Công đồng đã chỉ dậy, các linh mục ”có bổn phận ưu tiên công bố Tin Mừng của Chúa cho mọi người” (Presbyterorum Ordinis, 4). Nhưng lời công bố này tìm cách đưa con người đến gặp gỡ Chúa Kitô, nhất là trong huyền nhiệm Thánh thể, là trung tâm sống động của Giáo hội và của nếp sống linh mục. Linh mục có quyền năng huyền diệu và mạnh mẽ trên Thánh Thể Chúa Kitô. Nhờ năng lực này, linh mục trở thành người quản gia kho tàng Cứu Thế trọng đại nhất, vì linh mục ban phát chính Chúa Cứu Thế cho mỗi người. Cử hành Thánh thể là một chức vụ cao cả nhất và thánh thiện nhất của mỗi linh mục. Về phần tôi, ngay từ những năm đầu tiên trong chức vụ linh mục, việc cử hành Thánh Thể không những là một bổn phận thánh đức nhất, nhưng trên hết đó là nhu cầu thâm sâu nhất của linh hồn tôi.

    MỤC TỬ CỦA TÌNH THƯƠNG

    Là quản gia của Bí Tích Hòa Giải, linh mục hoàn thành mệnh lệnh do Chúa Kitô ban hành cho các môn đệ sau khi Phục sinh, ”Các con hãy nhận lấy Thánh Thần. Các con tha tội cho ai, người đó được tha, các con cầm buộc ai, người đó bị cầm buộc” (Ga 20:22-23). Linh mục là chứng tá và lợi khí của tình xót thương Thiên Chúa! Thừa tác vụ cáo giải quan trọng biết bao trong cuộc đời linh mục! Chính trong tòa cáo giải vai trò người cha thiêng liêng được thực hiện viên mãn nhất. Chính trong tòa cáo giải mỗi linh mục trở thành chứng tá của những phép lạ trọng đại khi lòng nhân hậu của Thiên Chúa thể hiện trong các tâm hồn nhận lãnh ân huệ hoán cải đời sống. Tuy nhiên, thật cần thiết mỗi linh mục khi phục vụ các anh chị em của mình trong tòa cáo giải cũng phải chính mình cảm nghiệm được chính lòng thương xót này của Thiên Chúa, nhờ thường xuyên chính mình đi xưng tội và nhận lãnh những hướng dẫn tâm linh.

    Như một quản gia các bí nhiệm của Thiên Chúa, linh mục là một chứng tá đặc biệt cho Đấng Vô Hình giữa trần giới. Vì vậy linh mục là quản gia những kho tàng vô hình và vô giá thuộc trật tự tâm linh và siêu nhiên.

    MỘT CON NGƯỜI GIAO TIẾP VỚI THIÊN CHÚA

    Như một quản gia của các kho tàng này, linh mục luôn luôn phải giao tiếp đặc biệt với Thiên Chúa Thánh Thiện, ”Thánh, Thánh, Chí Thánh, Thiên Chúa, chúa tể càn khôn là Đấng Thánh. Trời đất rạng ngời vinh quang Chúa.” Vẻ oai nghi của Thiên Chúa là vẻ oai nghiêm thánh thiện. Trong bậc linh mục, con người như được cất nhắc tới lãnh vực thánh thiện này; một cách thức nào đó, linh mục đạt tới tột đỉnh, nơi mà Tiên tri Isaia đã một lần được vinh danh. Và đích thực viễn tượng này của nhà Tiên tri đang vang dội trong Phụng vụ Thánh Thể: Sanctus, Sanctus, Sanctus Dominus Deus Sabaoth. Pleni sunt caeli et terra gloria tua. Hosanna in excelsis. (Thánh, Thánh, Thánh Thiên Chúa các đạo binh. Trời đất đầy vinh quang Chúa. Hoan hô Chúa trên các tầng trời).

    Cùng một lúc ấy, linh mục cảm nghiệm thấy hàng ngày và liên tục nguồn ơn thánh thiện của Thiên Chúa đổ xuống trên con người: Benedictus qui venit in nomine Domimi. (Chúc tụng Đấng đang đến nhân danh Thiên Chúa). Đám đông thành Giêrusalem chúc tụng Chúa Kitô bằng những lời chúc tụng ấy khi Ngài tiến vào kinh thành để hoàn tất lễ hy tế đem Ơn Cứu độ đến cho nhân loại. Vẻ thánh thiện siêu việt, theo nghĩa ”vượt ra khỏi thế giới”, đang trở thành nơi Chúa Kitô vẻ thánh thiện ”đi vào trong thế giới.” Đó là vẻ thánh thiện của Mầu nhiệm Vượt Qua.

    ĐƯỢC KÊU GỌI NÊN THÁNH

    Luôn luôn giao tiếp với Thiên Chúa thánh thiện, linh mục chính mình cũng phải trở nên thánh thiện. Chức vụ thừa tác viên đòi hỏi linh mục phải cam kết sống theo lối sống được khơi hứng từ tính chất cấp tiến của Tin Mừng. Điều này giải thích nhu cầu đặc biệt của linh mục phải sống theo tinh thần Tin Mừng nhắn nhủ: trong sạch, nghèo khó và vâng lời. Nơi đây chúng ta cũng nhìn thấy lối sống độc thân thật đặc biệt thích hợp. Chúng ta cũng nhìn thấy nhu cầu đặc biệt phải cầu nguyện trong cuộc sống: cầu nguyện tìm thấy gốc nguồn nơi Thiên Chúa thánh thiện và đồng thời đó cũng là câu trả lời của chúng ta phải tiến lên mức thánh thiện này. Đã có lần tôi viết: ”Cầu nguyện tạo nên linh mục và linh mục tự đào tạo mình nhờ cầu nguyện.” Trước tất cả mọi chuyện, linh mục phải thực sự trở thành con người của cầu nguyện, xác tín rằng thời giờ cống hiến cho những lần gặp gỡ tư riêng với Chúa luôn luôn phải được tận dụng tối đa, vì không những điều đó đem lại ơn ích cho chính linh mục, nhưng còn đem lại lợi ích cho công việc tông đồ của mình nữa.

    Trong khi Công đồng Vatican II đề cập tới lời mời gọi đại đồng nên thánh, thì trong trường hợp các linh mục, chúng ta phải bàn về lời mời gọi đặc biệt nên thánh. Chúa Kitô cần các linh mục sống thánh thiện! Thế giới ngày nay đòi hỏi các linh mục thánh thiện! Chỉ có linh mục sống thánh thiện, trong một thế giới mỗi ngày mỗi tục hóa, mới làm chứng tá hùng hồn cho Chúa Kitô và Tin Mừng của Ngài. Và chỉ như vậy linh mục mới có thể trở thành người hướng đạo cho các tín hữu nam nữ và là thầy dậy thánh thiện. Mọi người, nhất là người trẻ đang đi kiếm tìm những hướng đạo viên như thế. Một linh mục chỉ có thể làm linh hướng và là thầy dậy tùy theo mức độ linh mục đó trở thành một chứng tá chính cống, đích thực!

    CURA ANIMARUM

    Kinh nghiệm lâu dài của tôi bây giờ, giữa bao hoàn cảnh khác nhau, đã quyết đáp niềm xác tín của tôi rằng chỉ mình linh mục thánh thiện mới là thửa đất mầu mỡ có thể nuôi dưỡng một hoạt động mục vụ hiệu năng, một hình thức ”phục vụ các linh hồn” đích thực. Bí quyết trung thực nhất cho một thành công mục vụ đích thực không tựa nơi các phương tiện vật chất, huống hồ nơi các chương trình phù vinh giả tạo.

    Những kết quả lâu dài của những hăng say mục vụ phát sinh từ nơi linh mục thánh thiện. Đó là nền tảng đấy! Khỏi cần phải nói nữa, tự đào luyện, học hỏi và cập nhật cải tiến là những điều rất cần thiết; nói tóm lại, việc chuẩn bị xứng hợp giúp cho mỗi linh mục đáp ứng được những nhu cầu cần thiết và xác định được những ưu tiên mục vụ. Nhưng điều đó còn nói lên rằng các ưu tiên ấy còn tùy thuộc nơi hoàn cảnh và mỗi linh mục được mời gọi nhận diện và theo đuổi các hoàn cảnh ấy, nếu được phép Giám mục và phù hợp với các đường lối của Giáo hội hoàn vũ. Riêng trong cuộc đời, tôi đã nhận biết các ưu tiên này nơi công tác tông đồ giáo dân và đặc biệt nơi công tác mục vụ gia đình - một lãnh vực mà chính các giáo dân đã giúp đỡ tôi rất nhiều - nơi mục vụ giới trẻ và trong các cuộc đối thoại nghiêm chỉnh với thế giới trí thức và văn hóa. Tất cả những chuyện này đều được phản ảnh trong hoạt động học thức và văn chương của tôi. Đó là nguồn gốc của công trình nghiên cứu của tôi về ”Tình yêu và Trách nhiệm” và trong số những công trình khác, tác phẩm The Jeweler's Shop, (tiệm kim hòan) được đặt cho tiền đề là những bài Suy niệm về Bí tích Hôn phối.

    Và một ưu tiên không tránh được ngày nay chính là mối quan tâm ưu tiên đến những người nghèo khổ, sống bên lề cuộc đời và di dân. Linh mục phải thực sự là một ”người cha” đối với những người xấu số đó. Các phương tiện vật chất cần thiết thật đấy như những gì do kỹ thuật tân tiến cung ứng. Nhưng bí quyết đích thực luôn luôn vẫn là linh mục phải sống thánh thiện được thể hiện bằng cầu nguyện, suy niệm, sống tinh thần hy sinh và nhiệt thành truyền giáo. Khi tôi hồi tưởng lại những năm thi hành mục vụ như một linh mục và giám mục, tôi càng ngày càng xác quyết hơn rằng đó là chân lý và là nền tảng.

    NGƯỜI CỦA LỜI THIÊN CHÚA

    Đã có lần tôi nhắc đến, để trở thành một linh hướng chính danh trong cộng đồng và là người quản gia đích thực của các huyền nhiệm Thiên Chúa, linh mục còn được gọi là người của Lời Thiên Chúa, một người rao giảng Tin Mừng quảng đại và không biết mệt mỏi. Ngày nay sự khẩn thiết của nhiệm vụ này còn được nhìn thấy rõ ràng hơn dưới ánh sáng của công tác rộng lớn ”Tân Phúc Âm Hoá.”

    Sau nhiều năm làm thừa tác viên Lời Chúa, nhất là trong triều đại giáo hoàng, tôi đã trở thành khách hành hương đi tới khắp nơi trên thế giới, tôi không thể không suy nghĩ tới những nhãn quan xa rộng hơn liên quan tới chiều kích của đời sống mục tử. Đây là một chiều kích đang có nhu cầu, vì con người ngày nay trông đợi linh mục ”đã sống Lời Chúa” trước khi nhìn xem linh mục rao giảng Lời Ngài. Linh mục bắt buộc phải sống Lời Thiên Chúa. Nhưng đồng thời linh mục cũng phải cố công chuẩn bị trí tuệ để hiểu biết thâm sâu Lời Thiên Chúa và tìm cách rao giảng hữu hiệu. Ngày nay, tất cả đều đòi hỏi phải có chuyên môn cao độ trong mọi lãnh vực đời sống, như vậy việc đào tạo tri thức trở thành cực kỳ quan trọng. Được đào tạo như thế mới giúp linh mục có khả năng dấn thân vào cuộc đối thoại nghiêm chỉnh và sáng tạo với tư tưởng đương thời. Học hiểu về nhân bản, về triết lý và về những kiến thức thần học là con đường dẫn đến công cuộc đào tạo tri thức này, và cần được tiếp tục cho suốt cuộc sống của mỗi người. Để trở thành một con người được đào luyện chính danh, công việc học hiểu này cần phải đi song hành với cầu nguyện, suy niệm và kêu xin các ân huệ của Chúa Thánh Linh: khôn ngoan, thấu hiểu, bàn hỏi, dũng cảm, uyên bác, đạo đức và kính sợ Thiên Chúa. Thánh Tôma Aquina cắt nghĩa, với các ân huệ của Chúa Thánh Linh, làm cách nào tất cả đời sống tâm linh của mỗi người phải trở thành đáp ứng được ánh sáng của Chúa, không phải chỉ nguyên ánh sáng kiến thức, nhưng còn là lan truyền linh cảm của yêu thương. Tôi vẫn cầu nguyện xin các ân sủng của Chúa Thánh Linh từ thời trai trẻ và vẫn còn tiếp tục cầu xin như vậy mãi.

    ĐÀO SÂU KIẾN THỨC

    Dĩ nhiên Thánh Tôma cũng dậy rằng ”kiến thức thiên phú” (infused knowledge), hoa quả do Thánh Thần tác động đặc biệt, sẽ không giải phóng chúng ta khỏi nhiệm vụ phải ”trau dồi kiến thức” (acquired knowledge).
    Trường hợp của tôi, như đã nói, ngay sau khi được thụ phong linh mục, tôi được gửi tới Roma hoàn tất học trình. Sau này, theo chỉ thị của Tổng Giám mục, tôi đã phải lao mình vào công việc học hành trở thành giáo sư luân lý tại Phân khoa Thần học Cracow và tại Đại học Công giáo Lublin. Công việc học hỏi này đã đem lại thành quả tôi đậu tiến sĩ với luận án về Thánh Gioan Thánh Giá và rồi bài khảo luận của tôi về Max Scheler đã giúp tôi đủ tư cách trở thành giáo sư đại học; nói một cách chính xác hơn, tôi đã viết góp phần vào hệ thống đạo đức theo chiều hướng hiện tượng luận của Scheler để có thể phát triển nền thần học luân lý. Công cuộc khảo cứu này đã đem lại cho tôi nhiều lợi ích. Phương pháp hiện tượng luận đã làm phong phú cho công việc đào tạo theo hệ Aristote-Tôma và chính nhờ đó tôi đã có thể theo được một số những môn học sáng tạo. Trước hết tôi đang suy nghĩ về cuốn sách của tôi, cuốn The Acting Person. Bằng phương thức này, tôi đã tham dự vào trào lưu triết học nhân vị đương thời, và những học hỏi của tôi đã đem lại thành quả cho tôi trong lãnh vực mục vụ. Tôi cũng thường lưu ý rằng nhiều tư tưởng được khai triển trong những công việc học hỏi này đã giúp tôi trong những lần gặp gỡ riêng tư cũng như với đông đảo các tín hữu trong các cuộc tông du của tôi. Công việc đào luyện tôi trong nhãn quan văn hóa của thuyết Nhân vị cũng đã đem lại cho tôi những hiểu biết thâm sâu hơn về từng cá nhân như một con người độc hữu. Tôi nghĩ rằng việc ý thức này thực rất quan trọng đối với mỗi linh mục.

    ĐỐI THOẠI VỚI TƯ TƯỞNG ĐƯƠNG THỜI

    Nhờ những buổi hội họp và thảo luận với các chuyên gia trong các khoa học tự nhiên, với các nhà vật lý và sinh vật học cũng như với các sử gia, tôi đã học hỏi để thẩm định được tầm quan trọng của những ngành kiến thức khác liên hệ đến những môn khoa học. Những môn này có khả năng đạt tới chân lý từ những nhãn quan khác nhau. Hào quang chân lý - Veritatis Splendor - luôn luôn cần thiết phải đi đồng hành để có thể giúp con người gặp gỡ, trao đổi tư tưởng và làm phong phú cho nhau. Tại Roma, tôi vẫn giữ truyền thống tổ chức những buổi gặp mặt định kỳ chung cho các môn học như ở Cracow. Những buổi gặp mặt này thường diễn ra trong mùa hè tại dinh thự Castel Gandolfo. Tôi cố công theo đuổi thói quen tốt đẹp này.

    “Labia sacerdotum scientiam custodiant...” (chính miệng lưỡi linh mục bảo vệ kiến thức...) (xem Mal 2:7). Tôi thích nhắc lại lời này của Tiên tri Malachia, được tìm thấy trong Kinh Cầu Chúa Giêsu, Linh mục và Tế Vật, bởi vì những lời ấy tiêu biểu một loại chương trình cho ai được gọi là thừa tác viên Lời Chúa. Linh mục phải luôn luôn là một con người của kiến thức theo ý nghĩa cao cả nhất và thánh thiện nhất. Linh mục phải thụ lãnh và truyền đạt ”kiến thức về Thiên Chúa”, không phải chỉ là một mớ chân lý giáo điều nhưng còn là một cảm nghiệm cá biệt và sống động về Huyền Nhiệm, theo ý nghĩa được Thánh Sử Gioan diễn tả trong lời kinh nguyện cao cả về linh mục: ”Đây là cuộc sống vĩnh hằng, mong sao họ nhận biết Cha, Thiên Chúa Duy Nhất Chân Thực và Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cha đã sai đến với họ” (Ga 17:3).

  18. Có 2 người cám ơn DonRac vì bài này:


  19. #10
    DonRac's Avatar

    Tham gia ngày: May 2007
    Tên Thánh: Peter Anthony
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Việt Nam
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 3,781
    Cám ơn
    3,752
    Được cám ơn 15,421 lần trong 2,949 bài viết

    Thumbs down Phần X

    X

    TRAO ĐẾN CÁC ANH EM LINH MỤC

    Khi đi vào phần kết thúc những chứng từ về ơn gọi làm linh mục của tôi, tôi ước ao được nói với tất cả các anh em linh mục: từng người một! Tôi xin mượn lời Thánh Phêrô: ”Hỡi anh em, anh em hãy nhiệt thành xác quyết hơn ơn Chúa gọi và tuyển chọn anh em, vì nếu anh em làm như thế, anh em sẽ không sa ngã” (2Pet 1:10). Anh em hãy yêu mến chức linh mục! Hãy trung kiên cho đến cùng! Anh em hãy nhìn ra kho tàng Tin Mừng trong chức vụ linh mục, do đó, từ bỏ mọi sự cũng xứng đáng lắm. (xem Mat 13:44).

    Một cách đặc biệt tôi hướng về những người anh em nào đang phải trải nghiệm những giờ phút khó khăn hoặc đang bị khủng hoảng trong ơn gọi của mình. Tôi mong ước chứng nghiệm của tôi - chứng từ của một linh mục và của Giám mục thành Rôma, đang mừng Lễ Kim Khánh linh mục - có thể giúp anh em phần nào và lời mời gọi anh em hãy sống trung thành. Tôi đã viết những lời này khi nghĩ đến từng người trong anh em, và tôi ôm ấp từng người anh em trong kinh nguyện của tôi.

    PUPILLA OCULI (Con ngươi của mắt)

    Tôi cũng nghĩ đến nhiều chủng sinh trẻ đang chuẩn bị lãnh chức linh mục. Thật thường xuyên Giám mục hướng tâm trí tới chủng sinh! Đó là đối tượng đầu tiên cho những lo toan của ngài. Chúng ta có câu ngạn ngữ nói rằng đối với Giám mục, chủng sinh là ”con ngươi của mắt ngài.” Mọi người bảo vệ con mắt vì con mắt giúp con người nhìn xem. Cũng thế, giám mục nhìn xem Giáo hội qua chủng viện, vì đời sống giáo hội tùy thuộc biết bao vào các ơn gọi linh mục. Ân huệ có đông đảo ơn gọi và ơn gọi thánh thiện lên chức linh mục sẽ giúp giám mục nhìn tới tương lai sứ vụ của mình với lòng đầy tự tin.

    Tôi nói điều này dựa vào nhiều năm kinh nghiệm làm Giám mục. Tôi đã được phong chức Giám mục sau mười hai năm làm linh mục: một phần lớn của năm mươi năm này đã được dành riêng cho việc quan tâm đến các ơn gọi. Niềm vui của giám mục thật trọng đại khi Chúa ban nhiều ơn gọi cho Giáo hội, trong lúc những thiếu vắng ơn gọi sẽ tạo nơi ngài bao lắng lo và quan ngại. Chúa Giêsu đã so sánh việc quan tâm này với thợ gặt: ”Lúa chín đầy đồng, nhưng thợ gặt lại ít; vậy các con hãy xin Chúa mùa gặt sai nhiều thợ ra gặt lúa về.” (Mt 9:37).

    TẠ ƠN CHÚA!

    Tôi không thể kết thúc những suy tư này trong năm mừng Lễ Kim Khánh linh mục với không lời bầy tỏ lòng biết ơn thâm sâu lên Chúa mùa gặt vì Ngài đã ban cho tôi quà tặng ơn gọi, vì hồng ân của thiên chức linh mục, vì những ơn gọi linh mục trên khắp thế giới. Tôi tạ ơn cùng hiệp thông với tất cả các giám mục, những vị cùng chia sẽ một mối quan tâm lo cho ơn gọi và cùng cảm nghiệm niềm vui khi con số ơn gọi gia tăng. Tạ ơn Chúa, một số khủng hoảng nào đó về ơn gọi linh mục trong Giáo hội đang dần dần lướt qua. Mỗi một tân linh mục mang theo mình lời chúc phúc đặc biệt: ”Phúc cho những ai nhân danh Chúa mà đến.” Vì trong mỗi linh mục chính Chúa Kitô đang đến. Như Thánh Cyprianô phát biểu, nếu Kitô hữu là ”một Chúa Kitô khác” - Christianus alter Christus - thì như vậy càng có lý do hơn để có thể nói rằng: Sacerdos alter Christus.

    Nguyện cầu Chúa duy trì nơi tất cả các linh mục ý thức biết ơn về quà tặng đã nhận lãnh từ nơi Thiên Chúa; nguyện cầu Ngài cũng thức tỉnh nhiều người trẻ sẵn sàng đáp lại tiếng gọi của Ngài một cách quảng đại để hiến thân hoàn toàn cho chính nghĩa Tin Mừng. Những người nam và nữ trong thời đại chúng ta đang cần tới ý nghĩa và hy vọng cho cuộc sống, sẽ giúp ích rất nhiều bằng những chứng tá của họ. Và cộng đồng Kitô hữu sẽ hân hoan, vì biết rằng mình có thể hướng nhìn về phía trước trong tin tưởng tạo vận hội mới khi Thiên Niên Đệ Tam đang tiến tới gần.

    Nguyện xin Trinh Nữ Maria nhận lấy chứng tá của tôi để tỏ lòng con thảo tôn kính để vinh danh Chúa Ba Ngôi Chí Thánh. Nguyện xin Mẹ làm sinh hoa kết trái chứng từ này trong các tâm hồn của các anh em linh mục của con và của nhiều thành phần trong Giáo hội. Nguyện xin Mẹ cũng làm dậy men huynh đệ chứng tá này cho nhiều người khác, dù không chia sẻ cùng niềm tin, cũng biết lắng nghe những lời chia sẻ của con và sẵn sàng đối thoại chân tình với con.

  20. Có 3 người cám ơn DonRac vì bài này:


+ Trả lời chủ đề + Gửi chủ đề mới

Tags cho chủ đề này

Quyền hạn của bạn

  • Bạn không được gửi bài mới
  • Bạn không được gửi bài trả lời
  • Bạn không được gửi kèm file
  • Bạn không được sửa bài

Diễn Đàn Thánh Ca Việt Nam - Email: ThanhCaVN@yahoo.com