Love Telling Trang Ngô nhắn với ThanhCaVN: SỐNG ĐỨC KHÔN NGOAN, ĐỂ ĐƯỢC THIÊN CHÚA YÊU THƯƠNG JB.Lưu Hùng Vương nhắn với TCVN: Happy Birthday lần thứ 12: Website https://thanhcavietnam.net 18.05.2007 -- 18.05.2019 cat nhắn với Bác gioanha: Hôm nay 27/12 Lễ kính Thánh Gioan - bổn mạng bác Gioanha. Xin Chúa chúc lành cho bác nhiều sức khỏe, nhiều niềm vui, mãi là tông đồ nhiệt thành phụng sự Chúa. An Phúc nhắn với Peter Nguyễn: Hôm nay 23.7, mừng ngày em thêm tuổi mới. Chúc em luôn vui khỏe và an bình. Nguyện xin Mẹ Maria cùng đồng hành với em trong cuộc sống. An Phúc nhắn với Peter Nguyễn: Em hiện tại bây giờ ở đâu? Hãy liên lạc với mình nhé. bethichconlua nhắn với DD TCVN: bé xin mến mời cả nhà cùng hiệp dâng giờ kinh nguyện. Tháng Hoa Kính Mẹ Maria. Vào lúc 11 giờ 30' trưa Việt Nam. Xin Mẹ thương chúc lành. Amen bethichconlua nhắn với TCVN: bethichconlua xin kính chúc toàn thể gia đình TCVN luôn tràn đầy ơn Chúa và luôn làm sáng danh Chúa. Amen onggiachonggay_99 nhắn với Gửi TCVN: Xin toàn thể gia đình TCVN cầu nguyện cho ông cố Giuse Dương Phách là nhạc Phụ của Già onggiachonggay_99 nhắn với Gửi Gia Đình TCVN: Xin toàn thể gia đình TCVN cầu nguyện cho ông cố Giuse Dương Phách là nhạc gia của Già cat nhắn với daohong2310: Chúc mừng bổn mạng bà quản daohong2310 (Thánh Rosa Lima Lễ nhớ ngày 23/8) phale nhắn với admin: Ngày 13/6 Lễ nhớ Thánh Antoine de Padoue. Chúc mừng bổn mạng admin. LUCIA_HUONG nhắn với TCVN: Lucia Nguyen xin Thien Chua và Mẹ Maria ban cho tất cả Quý OBACE được BÌNH AN trong tháng HOA của Mẹ . Thank mlien07 nhắn với Gia đình Thánh ca: Xin Chúa Phục Sinh luôn đồng hành cùng ACE trong mọi bước đường của cuộc sống. Xin cho chúng ta luôn sống và làm chứng cho Chúa Phục Sinh. Amen. JB.Lưu Hùng Vương nhắn với TCVN: Chúng con cậy vì danh Chúa nhân từ,  xin cho Linh hồn Đức Ông Phêrô Nguyễn Quang Sách được sớm hưởng phúc quê Trời. JB.Lưu Hùng Vương nhắn với TCVN: Chúng con cậy vì danh Chúa nhân từ, xin cho tôi tớ Chúa là Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Hòa được sớm hưởng phúc quê Trời. ThanhCaVN nhắn với Gia đình TCVN: Valentine's Day, kính chúc ACE luôn vững bền trong Tình Yêu ĐÃ - ĐANG và SẼ đoan hứa. ThanhCaVN nhắn với Gia đình TCVN: Kính chúc Quý Cha, Quý Tu sỹ Nam Nữ, Ca - Nhạc sỹ và ACE năm mới ĐINH DẬU: Tràn đầy HỒNG ÂN CHÚA bethichconlua nhắn với TCVN: Chúc cả nhà tràn đấy ơn Chúa mlien07 nhắn với Ace: Chúc anh chị em bình an đón Chúa đến vui vẻ. phale nhắn với F.X Nhatdong: Chúc mừng bổn mạng F.X Nhatdong! Chúc người tông đồ nhỏ mãi là tông đồ nhiệt thành! Ước mong em mãi yêu DĐTCVN và cùng chung tay xây dựng nhà nhỏ.

+ Trả lời chủ đề + Gửi chủ đề mới
kết quả từ 1 tới 10 trên 10

Chủ đề: Cá nhân oan sai đền chục tỷ, chục vạn chết oan ức không được lời xin lỗi ...!

  1. #1
    teenvnlabido's Avatar

    Tham gia ngày: May 2011
    Tên Thánh: Giuse
    Giới tính: Nam
    Đến từ: HCM city
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 927
    Cám ơn
    1,503
    Được cám ơn 2,005 lần trong 603 bài viết

    Default Cá nhân oan sai đền chục tỷ, chục vạn chết oan ức không được lời xin lỗi ...!

    Cá nhân oan sai đền chục tỷ, chục vạn chết oan ức không được lời xin lỗi ...!

    Ông Nguyễn thanh Chấn , ông Huỳnh văn Nén không xa lạ gì với người Việt Nam bởi vì các ông đã bị ngồi tù oan sai hàng chục năm và đã được đền bù danh dự cũng như đền bù thiệt hại vật chất lên tới hàng chục tỷ.

    Số giáo dân Công Giáo qua khoảng vài trăm năm của triều đại phong kiến nước Việt Nam đã bị oan sai tàn sát tù đày và tra tấn thảm khốc dữ dội mà mức độ ghê gớm gấp vài chục lần ông Chấn ông Nén, nhưng cho đến nay một đồng một cắc để đền bù đã chẳng có! Trái lại những xúc phạm thiệt hại về tinh thần mà các quý ông bà tiên sư sinh Văn thân mới tiếp tục gây ra có thể nói chẳng kém gì xưa kia!

    Có thể nhìn ở góc độ bi quan, sự khủng bố về tinh thần còn ghê gớm hơn thời các hôn quân nhà nguyễn, bởi vì trên mạng internet, trên báo chí sách vở không ngừng tuyên truyền nhồi sọ :
    "Đạo Công Giáo, giám mục linh mục thừa sai và cả giáo dân Công Giáo tiếp tay cho thực dân đế quốc đi xâm lăng, đi cai trị các giống dân nhược tiểu...!"

    Các trang web chống Công Giáo, các cá nhân được phong (bì) cho các chức vụ giáo sư , tiến sĩ thạc sĩ...ra sức viết những bài viết bài báo để :"Kể tội ác GHCG, các giáo sĩ giáo dân Công Giáo ...". Họ cố gắng đưa ra những tài liệu này tài liệu kia để chứng minh cho sự công kích, cho sự khủng bố của họ!

    Nhưng có một điều là những tập thể, những cá nhân chống Đạo này hoặc có thể còn một chút nhân tính, hoặc có thể nhân tính cũng chẳng có một tí tị tì ti, nhưng chắc rằng họ sợ công luận khách quan lên án khinh khi là cổ võ cho cái ác nên không dám viết hay rêu rao rõ rệt rằng :
    Sự tàn sát bách hại người Công giáo như thế là đúng, là phải làm!

    Tôi nhớ rất rõ rằng trong một cuốn sách giáo khoa lịch sử của thời điểm năm 1985 , ban biên tập sách giáo khoa đã lên án nặng nề các vua quan thân hào nhân sĩ nhà nguyễn về việc bách hại đạo Công Giáo, và cho là đó là một sự vô đạo đức, một chính sách ngu xuẩn làm tan rã tinh thần đoàn kết quốc gia và để cho thực dân Pháp lợi dụng làm chiêu bài xâm lăng đô hộ nước Nam. Ngay như quý ngài Charlie Nguyễn, một sư huynh sư đệ của triết gia Voltaire__ Sư tổ chống đạo Công Giáo__, mà nay đã về cùng luxiphe, đã tiếc cho vua quan nhà nguyễn không dứt khoát tiêu diệt đạo Công Giáo như gương của chính quyền Nhật bản cùng thời ấy! Mặc dầu Charlie Nguyễn hết sức thán phục chiến tích lẫy lừng của chính quyền Nhật là cứa cổ 40 ngàn giáo dân Công Giáo Nhật bản chỉ trong một đêm khiến đạo Công Giáo ở Nhật bản hầu như bị tuyệt chủng! Tuy vậy , như trên đã nói vì nếu nhân tính không còn thì cũng phải biết ngượng miệng sượng sùng cho nên quý ngài Charlie Hebdo Nguyễn này đã nhấn mạnh rằng :
    "Dù sao thì cũng không nên tàn sát như vậy!"

    Trong đề tài :
    "Đẹp thật đánh bật đẹp dối', tôi đã từng nêu suy nghĩ rằng : Thiên Chúa của chúng ta thượng trí cao siêu tuyệt đỉnh nhưng Người cũng có vẻ trêu ngươi! Bởi vì quỷ dữ muốn mạo nhận Chúa và Mẹ Maria để lừa dối người thế gian, thì Chúa vẫn cho phép. Tuy vậy, Người cấm chỉ dùng các hình tượng đẹp đẽ rực rỡ sáng láng toàn chân toàn mỹ..., mà chỉ cho quỷ dữ mặc lấy những hình tượng thô lậu, hoặc khiếm khuyết như thế nào đó khi mạo nhận Chúa và Mẹ. Thế thì tôi là một môn đệ của các Đấng, tôi rất thích học theo cách trêu ngươi này.

    Phải nói rằng quỷ dữ là vô địch thế gian.Không một cá nhân hay tập thể nào đủ sức chống lại âm mưu và trí lực của nó! Thế mà tôi thường viết
    :" ...đá cho quỷ dữ và đồng bọn một cú đá lộn cổ xuống vực sâu bất tỉnh quỷ sự( không phải nhân sự) và hôn mê sâu!"

    Rõ ràng quỷ dữ đã thù tôi đến tận xương tủy vì kiểu nói vênh vang như thế thì đã đành, nhưng tôi dám chắc rằng không ít người được cho là đạo đức cũng vô cùng chối lỗ tai, bởi vì khác với quan điểm của họ giáo lý của họ. Có điều biết chắc rằng không có lý lẽ gì để cãi thắng nổi tôi nên đành im lặng để tự hào là nhịn nhục theo gương ...nào đó!

    Vì quỷ dữ vô địch thế gian về trí lực, về tài quân sự, hơn nữa luôn dùng phương thức chiến tranh tổng lực, cho nên nếu suy gẫm cho sâu, chúng ta sẽ thấy rằng việc công kích, khủng bố đạo Công Giáo, quỷ dữ đã thu hái được rất nhiều thành công nơi những người chống đạo và ngay cả những tín hữu Công Giáo!

    Với những tay sai của thần dữ, thì trước khi có internet, trong hàng ngàn cuốn sách " Kể tội ác..." thì cứ cho là có một cuốn sách biện hộ cho đạo nhưng với lý lẽ què quặt yếu ớt! Còn cho đến bây giờ khi WWW vượt mọi bức tường cấm cố, thì tuy ít, nhưng vẫn có đâu đó những bài viết chân thật khách quan hộ giáo đáng phục, tuy nhiên luôn luôn bị số đông che khuất mất tăm tích! Hơn thế nữa, có một thứ giáo lý phàm nhân mà nếu nói thẳng ra; đó là bị trúng kế hiểm của thần dữ, vô tình cố tình tay sai không không cho thần dữ thường giơ tay bịt miệng , hoặc nêu chủ trương im lặng lặng im trước những bài bác đạo Công Giáo!

    Cái thành công, cái kết quả mà thần dữ thu được, đó là làm cho đa số người ngoại Đạo đi đến nhận thức :" Đạo Công Giáo xấu xa..." ! Và ngay đến người Công Giáo yếu Đức Tin, nhất là lớp trẻ hoang mang nghi ngờ và... bỏ Đạo!

    Trở lại vấn đề:
    "Phải chăng Giáo hội Công giáo Việt Nam, các giám mục , thừa sai linh mục giáo dân đã tiếp tay cho giặc Pháp xâm lăng đô hộ Việt Nam...", "Phải chăng các quý ông bà tiên sư sinh Văn thân là những người yêu nước?" , tôi đã từng viết những đề tài :"Chiến tích lẫy lừng của Văn Thân..." , " Đừng lạy Chúa xin thêm đức tin..." và đã lột mặt nạ những sự xuyên tạc này! Hôm nay tôi mời mọi người hãy xem kỹ tài liệu nói thêm về Văn Thân trong cái chiến công tàn sát đạo Công giáo tại Việt nam của họ, cũng như những luồng tư tưởng trái ngược nhau trong triều vua Tự Đức ...

    Tài liệu thứ nhất, đã được đăng trên 123 doc.com, và phải chi tiền ra để tải về. Và tôi e rằng rất nhiều người trong chúng ta cho dù sẵn sàng đóng phí để tải về nhưng cũng không biết cách để thực hiện, do đó tôi mạn phép dùng phần mềm khác copy lại của bản pdf để chép nguyên văn ra đây. Mong rằng người có công upload lên trang 123doc.com thông cảm cho việc làm mang tính cách hộ giáo như thế này và xin Chúa trả công cho quý vị.

    Tài liệu thứ hai nói về những luồng tư tưởng trái ngược nhau trong triều Tự Đức, thì vì miễn phí tải về, nên tôi upload lại lên mediafire, và chúng ta có thể tải về dễ dàng nên không chép nguyên văn.



    thay đổi nội dung bởi: teenvnlabido, 10-09-2016 lúc 10:02 PM

  2. Được cám ơn bởi:


  3. #2
    teenvnlabido's Avatar

    Tham gia ngày: May 2011
    Tên Thánh: Giuse
    Giới tính: Nam
    Đến từ: HCM city
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 927
    Cám ơn
    1,503
    Được cám ơn 2,005 lần trong 603 bài viết

    Default Hoạt động bài Giáo của Văn thân và Cần vương

    http://www.mediafire.com/download/o983a3c91vv4053/Thanh+tich+cua+VT.rar

    CHƯƠNG HAI MƯƠI LĂM
    HOẠT ĐỘNG BÀI GIÁO CỦA
    VĂN THÂN VÀ CẦN VƯƠNG
    (1864-1888)
    Văn Thân chỉ chung các nhân sĩ, thân hào, thư lại ở địa phương và các viên chức về hưu.
    Ở thời kỳ Tự Đức, từ Văn Thân vẫn giữ cái nghĩa này. Đối với người dân trong nước, Văn Thân là hạng người trí thức, thông Nho, rất hãnh diện và tự hào về vốn liếng văn chương thi phú của mình.1 Được trang bị bằng Nho học, các ông tự cho mình văn minh hơn người ,2 rồi ỷ thế quyền hành trong tay, khinh miệt, bắt bớ những ai đã sớm mở mắt theo đà tiến bộ kỹ thuật khoa học của phương Tây, tố cáo họ vong bản, và chụp cho họ cái mũ theo Tây bán nước. Sử gia Trần Trọng Kim viết:
    “Nước ta mà không chịu khai hóa như các nước khác là cũng bởi bọn sĩ phu cứ giữ thói cũ không chịu theo thời thế mà thay đổi. Nay sự suy nhược của mình đã sờ sờ ra đấy, thế mà cũng không chịu mở mắt ra mà nhìn, lại vì sự tức giận một lúc mà làm việc nông nổi càn dỡ để
    cho thiệt thêm.”3
    Lúc chưa được nhà vua chấp thuận, Văn Thân chỉ tàn sát Công giáo lẻ tẻ vài nơi. Nhưng sau lúc vua Hàm Nghi khai sinh phong trào Cần Vương4 vào ngày 13-7-1885, Cần Vương lãnh đạo các cuộc cướp bóc, đốt phá, tàn sát các làng “Gia Tô giáo.” Thật ra không phải vua Hàm Nghi nhưng chính Tôn Thất Thuyết ra chiếu Cần Vương diệt tà đạo: “Trước hết bài trừ bọn theo tà đạo vì chính những dân theo tà đạo đã cộng tác với người Pháp phản lại triều đình.”5 Tôn Thất Thuyết là vị quan ghét người ngoại quốc và người Công giáo nhất trong triều đình thời bấy giờ
    .
    I. HOẠT ĐỘNG CỦA VĂN THÂN
    TRƯỚC LÚC HÀM NGHI CHẠY TRỐN
    (1864-1885)
    1. Âm Mưu của Văn thân ở Kinh Thành Huế (1864-1865)
    Lúc Giám mục Sohier ở Huế, ngài cố gắng tổ chức lại công việc trong giáo phận mặc dầu gặp nhiều trở ngại. Cực chẳng đã, chính phủ Huế phải tôn trọng sự tự do tín ngưỡng và cái thái độ cực chẳng đã ấy đã khuyến khích Văn Thân trở nên gan dạ hơn. Họ tố cáo Tự Đức thờ ơ bỏ bê quốc chính và đã hèn nhát nhượng bộ cho người ngoại quốc ba tỉnh miền Nam.6 Xã hội Việt Nam rất chú trọng đến việc thờ phượng tổ tiên, thế mà nhiều lăng tẩm của tổ tiên họ Nguyễn


    1 Xem Chương Hai Mươi Tám, số I, 1 C.
    - Tsuboi, Nước Đại Nam Đối Diện Với Pháp Và Trung Hoa từ 1847 đến 1885 (TPHCM, 1990), trg 225. Văn Thân,
    Classe des lettrés. Xem:
    - Lê Hữu Mục, Trần Lục (Canada, 1996), trg 338-339.
    2 Cộng Sản Việt Nam thời nay cũng tự cho mình là đỉnh cao trí tuệ của loài người, mà trong khi đó theo tài liệu của cơ quan Liên Hiệp Quốc UNESCO, nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam được liệt vào trong số những
    nước chậm tiến nhất thế giới.
    3 Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược (Sài Gòn, 1954), trg 521. Sĩ phu ở đây có nghĩa là trí thức, là Văn Thân.
    4 Cần Vương, Trung thành với vua (Loyalty to the King).
    5 Chiếu đ ngày 11-8 năm Hàm Nghi thứ nhất (1885) làm tại Ấu Sơn-Hương Khê, Hà Tĩnh. Xem:
    - Lãng Nhân, Những Trận Đánh Pháp (Houston, 1987), trg 8.
    6 Xem Chương Hai Mươi Tám, số II, 1.


    tại Sài Gòn đang nằm trong khu vực Pháp kiểm soát. Như thế trước mặt dân, nhà vua không còn là Thiên- Tử, không còn xứng đáng trị vì trên ngai vàng nữa.
    Cuối năm 1864, nhân dịp một kỳ thi ở Huế, 4.000 Văn Thân âm mưu nổi dậy. Hầu hết những quan đại thần trong triều, ngay những người trong hoàng tộc cũng ủng hộ cuộc âm mưu này.7 Theo chương trình tất cả các phần tử của Văn Thân sẽ được võ trang, xong họ sẽ tiêu diệt các thừa sai và các tín hữu Công giáo. Việc sát hại Công giáo sẽ là màn thứ nhất trong tấn tuồng nổi dậy. Màn thứ hai sẽ là việc đánh đuổi người Pháp ra khỏi Gia Định. Muốn đạt được kết quả mong ước, công việc ấy cần phải được nhà vua chấp nhận, nếu vua khước từ, nhà vua sẽ bị truất phế.
    Văn Thân chiêu mộ rất nhiều bọn cướp trong tứ xứ và để gợi cho chúng thêm lòng sốt sắng tham gia, Văn Thân rỉ tai bọn cướp rằng: ”Dinh Giám mục Sohier chứa vàng, cần phải cướp cho sạch.” Lúc ấy Giám mục Sohier đi Pháp, chỉ còn một thừa sai trẻ tuổi ở tại Dinh là
    Theodore Bernard, Mep.8

    Đại diện của Văn Thân gởi lên vua Tự Đức một tờ sớ, trong đó họ kể lại tất cả những nỗi khốn khổ của người dân từ mấy năm nay, nào là giặc giã trong nước và ngoài nước; nào là dịch tả, đói khát mất mùa. Tất cả những tai nạn ấy do bọn Gia Tô gây nên vì chúng đã cấu kết với ngoại quốc, và vì chúng mà trời xuống họa cho đất nước. Văn Thân viện lẽ thời gian cấp bách nên cần phải diệt sạch bọn Gia Tô, bằng không, về sau này chỉ còn nước ngồi nhìn bọn Gia Tô tăng số và trở nên mạnh, không thể tiêu diệt được.
    Văn Thân lên án hòa ước ký kết với ngoại bang là việc điên rồ. Dân cư hiện đang sống ở trong ba tỉnh miền Nam bị chiếm đóng thật là khổ sở và cần phải giải cứu họ. Đại thần Phan Thanh Giản và những ai đã ký hiệp ước năm 1862 là những người ngu xuẩn, những đứa phản bội. Văn Thân hô hào tất cả hãy chống lại hòa ước ấy. Đối với các Tây dương đạo trưởng chỉ có một cách đối phó là tiêu diệt chúng, vì chúng đã khuyên bảo giáo hữu cầm khí giới chống lại chính quyền Việt Nam. Vì rộng lượng của Hoàng đế, bọn đạo trưởng này đã vào lại Việt Nam.

    Từ ngày ấy đến nay chúng đã tổ chức những cuộc âm mưu này đến âm mưu khác. Hơn nữa, trong khắp các tỉnh, bọn Gia tô đã làm từng nghìn chiếc gông để đeo vào cổ những người không chịu theo đạo Gia tô.
    Giám mục Sohier đi Pháp 9 chỉ là một tin vịt do giáo dân Công giáo tung ra để đánh lạc hướng bọn săn đuổi. Trong khi đó, ngài đang ẩn trốn trên vùng núi, giảng dạy cho các thầy giảng và các chủng sinh. Hằng ngày, ngài huấn luyện cho giáo dân cách xử dụng vũ khí tối tân theo lối Âu-Mỹ. Các thừa sai mang tới những chiếc đại bác bằng gỗ vừa mới phát minh ở phương Tây.
    Dân chúng vùng quê nghe được những tiếng đại bác xé tan bầu không khí yên tĩnh trong những buổi tập dượt!
    Vì những lý lẽ trên, Văn Thân yêu cầu nhà vua cho họ khí giới đầy đủ để cứu tổ quốc lâm nguy. Trong trường hợp nhà vua không ban phép, họ sẽ không thi cử gì nữa. Họ lấy cớ bây giờ không còn là lúc ngâm thơ vịnh phú, nhưng là lúc phải hành động.10
    Tờ sớ này khiến vua Tự Đức khiếp sợ, và cất chức các quan ở Huế đã không báo cáo về “âm mưu của bọn Gia Tô.” Vua truyền lệnh cho tất cả các ông trấn thủ các tỉnh phải tự mình đi khám xét nhà các người Gia Tô và thu sạch các khí giới đạn dược tìm thấy. Một tiểu đội gồm

    7 Tsuboi, op. cit., trg 236-237.
    8 Ibid, trg 234. Xem thư của thừa sai Bernard 17-9-1864, của thừa sai Jean Roy 10-1-1865, và của giám mục Sohier để biết rõ âm mưu của Văn Thân.
    9 ĐNTL - ĐIVK: CBTTĐ XXII, 8-10-1869, Tờ 11, CRO 2: CB 337. Tờ bẩm của giám mục Bình v nước cùng với linh mục Bổn (Pháp), linh mục Cư (Việt). Các ngài đi bộ tới Gia Định rồi đáp tàu v Pháp. Xin lãnh tin ở Kho, số tin lên đến một vạn quan.
    10 Louvet, La Cochinchine Religieuse (Paris, 1885), Tập II, trg 410.

    toàn những binh sĩ không Công giáo được tổ chức trong mỗi xóm, binh sĩ phải luôn luôn sẵn sàng thi hành mệnh lệnh của triều đình. Toàn quốc đều ở trong trạng thái thiết quân luật, đêm đến người ta nghe tiếng trống, tù và, rồi từng đội lính hì hục rảo bước từ thôn này đến thôn khác.
    Các ông trấn thủ kiểm soát các nhà thờ, nhà bổn đạo rất ngặt nhưng không tìm đuợc khí giới và đạn dược gì cả. Tuy biết người Công giáo vô tội, nhưng vì phần sợ vua, phần sẵn dịp làm tiền, các ông truyền lệnh cho bắt nhiều người Công giáo đánh đập cho lòi tiền mới tha. Văn Thân thấy thế tưởng lầm các quan ủng hộ phong trào. Họ táo bạo dám đốt nhà thừa sai Bernard và một nhà thờ tại Huế. Thừa sai Bernard viết thư phản kháng lên huyện, nhưng huyện làm ngơ
    không trả lời. Cha bèn viết thư lên bộ Ngoại giao Việt Nam, phản đối việc cướp phá nhà thờ. Các quan lấy làm bối rối và quan thượng thư bộ ngoại giao trả lời việc vừa xảy ra là ngoài ý muốn của triều đình Huế, và bọn cướp quá đông và quá táo bạo nên triều đình chưa dẹp nổi. Đồng thời quan thượng gởi một hạ sĩ quan và nhiều binh sĩ canh giữ dinh giám mục.
    Năm 1864 các nhân sĩ biểu tình ở Huế và Nam Định, nhân dịp các kỳ thi tuyển. Nhưng ở kinh đô, sự việc quan trọng hơn bởi vì một cuộc đảo chính, tổ chức dưới sự chỉ huy của hoàng tử Hồng Tập, anh em họ của Tự Đức, qui tụ một số đông cảm tình viên.
    Sau năm 1862, hòa ước với Pháp là mục tiêu của tất cả các câu chuyện của triều đình Huế. Hoàng tử Hồng Tập, con của Quận công Phú Bình Miên Áo, gởi cho Tự Đức một thỉnh nguyện thư đề nghị động viên một số người tình nguyện đi đánh dẹp giáo dân. Tự Đức không chịu nghe. Cho nên Hồng Tập âm mưu với nhiều hoàng tử và quan chức cao cấp như Nguyễn Văn Viên, Hướng Văn Chất. Âm mưu này nhắm hai mục tiêu: Một là giết các vị đại thần ở kinh đô như PhanThanh Giản, bị kết tội có trách nhiệm trong việc ký kết điều ước; và hai là tàn sát tất cả giáo dân trong toàn quốc.
    Các người âm mưu hành động trong đêm 3-8-1864 được chia làm bốn nhóm. Nhóm thứ nhất phải vào Thành Nội để giết các đại thần kể trên, còn ba nhóm kia tấn công các xóm làng Công giáo. Họ khởi sự tấn công khi nghe một tiếng súng đại bác báo hiệu bắn từ Thành Nội.
    Nhưng nhóm thứ nhất không vào được thành vì sự canh phòng nghiêm ngặt và rút lui không hành động. Vì thế mưu toan thất bại và sau đó cuộc âm mưu bị bại lộ.11
    Bảy người đốt nhà thừa sai Bernard hôm trước bị bắt, bị tra tấn, và chúng khai tất cả sự thật: Văn Thân âm mưu giết hại người Công giáo và truất phế vua Tự Đức trong trường hợp nhà vua không chấp thuận kế hoạch của Văn Thân. Lời khai ở tại tòa án khiến các quan không làm sao che đậy giấu giếm sự thật. Vì vậy các quan phải báo cáo lên vua. Tự Đức tức giận lúc biết được cuộc âm mưu ấy, và ra lệnh bắt tất cả thủ lãnh, tra tấn rồi giết chết.12 Tất cả là những tay tên tuổi đã sát hại Công giáo, một số uống thuốc độc tự tử, còn những Văn Thân khác phải thi khảo như thường lệ. Những Văn Thân nào ra khỏi khu vực mình không có giấy phép sẽ bị giam tù.
    còn tiếp


  4. #3
    teenvnlabido's Avatar

    Tham gia ngày: May 2011
    Tên Thánh: Giuse
    Giới tính: Nam
    Đến từ: HCM city
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 927
    Cám ơn
    1,503
    Được cám ơn 2,005 lần trong 603 bài viết

    Default

    2. Trạng Thái của Tự Đức đối Với Công Giáo
    Chỉ trong mấy ngày mà tình thế khác hẳn. Đâu đâu cũng nhao nhao đồn lên rằng Tự Đức đã đổi lòng, Tự Đức bênh vực Công giáo, Tự Đức muốn theo Công giáo. Có người tung ra giữa dân chúng một tin làm náo động lương cũng như giáo rằng Tự Đức đã đến họ Kim Long trong lúc đêm tối, người ta đổ nước trên đầu ông, ông là một Công giáo thiệt thụ, ông sắp sửa hạ sắc dụ bắt toàn dân theo đạo Công giáo, và diệt tận tuyệt những người không chịu tòng giáo. Dưới đây

    11 Tsuboi, op. cit., trg 236.
    12 Những thủ lãnh đó là ai? Hồng Tập? Nguyễn Văn Viên? Hướng Văn Chất?


    là chỉ dụ công bố tháng 7-1867 của Tự Đức ra sau lúc khám phá được âm mưu của Văn Thân.
    Dụ này diễn tả một phần nào trạng thái của Tự Đức đối với Công giáo.

    “Lúc Trẫm còn niên thiếu, trẫm đã được hân hạnh kế vị các Tiên đế để làm phụ mẫu chi dân. Vì vậy đối với trẫm, mỗi người dân trong nước đều là con cái của trẫm. Nhiều khi con cái ăn ở tốt lành, nhưng cũng lắm lúc chúng ăn ở ngang tàng xấu xa. Bổn phận của kẻ làm cha mẹ là phải biết dạy dỗ và sửa phạt chúng, nhưng sau khi đã sửa phạt, cha mẹ phải thương mến con cái như trước. Nếu cha mẹ đánh nó là vì muốn cho nó nhận lỗi và hối cải ăn năn.
    Cách đây vài năm, Phalangsa và Iphanho đã đến chiếm cứ đất đai của chúng ta. Để kháng cự lại, chúng ta, tất cả đã phải chịu bao nỗi khó khăn, các quan tâu với trẫm rằng: ‘Chính bọn Gia Tô vì không được tự do giữ đạo đã cầu cứu hai nước ấy.’ Do đó, các ông bảo phải phân tháp, phải giam tù tất cả những người Gia Tô để tránh một tai họa lớùn lao. Vì báo cáo sai lầm và đầy mâu thuẫn, tình thế lại bấp bênh, trẫm không biết đâu là sự thật, không biết phải nghe ai, nên trẫm và các quan đại thần đã dùng những biện pháp nghiêm ngặt, nhưng vừa phải. Trẫm là phụ mẫu chi dân, trẫm nỡ nào sát hại những người dân, người con trong nước. Có những quan yêu cầu giết sạch dân Gia Tô, nhưng trẫm không thể chấp thuận một giải pháp như vậy. Trẫm đã dùng một biện pháp nghiêm ngặt nhưng vừa phải là biện pháp phân tháp dân Gia Tô.13 Như thế dân chúng biết lòng trẫm độ lượng đến mức nào?
    Những người có phận sự phải thi hành sắc dụ của trẫm, có nhiều ông quan đã dùng dịp này để làm khổ dân đến cực độ. Trẫm rất lấy làm đau lòng vì những hành động trên. Lúc hòa bình về lại, trẫm đã cấp tốc truyền cho giáo dân về quê hương xứ sở để giữ đạo của mình.14
    Dầu vậy ở trong nước vẫn có bè đảng.15 Có những đảng thấy mình được che chở, thành thử trở nên kiêu căng tìm cách báo thù làm cho cả toàn dân phải than phiền, đảng khác ghét chúng và tìm mọi cách để phá hoại.
    Phần các người Gia Tô giáo, trẫm nhận rằng: Gia Tô giáo ở vào một tình thế khó khăn, nhưng dù sao sự trung thành của Gia Tô giáo đối với Đạo và luật nước làm trẫm hết sức khâm phục. Trong cách đối xử, trẫm sẽ không phân biệt lương hay giáo, nếu Gia Tô giáo còn giữ một
    mối thù, tức nhiên Gia Tô giáo không theo lệ
    nh vua, Gia tô giáo sẽ là phiến loạn: Đã là phiến loạn thì còn gì là Gia Tô giáo nữa? Hãy lo tập mình đi đến chỗ toàn thiện ngõ hầu Trời có thể nhận lời cầu xin của dân Gia Tô giáo. Theo những nguyên tắc Gia Tô giáo, chúng ta không nên bận tâm đến danh vọng, đau khổ, khinh chê, phỉ báng.
    “Còn Văn Thân, không hiểu các ông đã học ở sách nào để vi phạm luật nước bằng cách tập trung trong các làng để giết hại Gia Tô giáo. Các triết gia đã lên án vũ lực, các ông không có quyền hoạt động như thế. Nếu hoạt động vì thù hằn nhau, không những ngườụi này sẽ nuốt
    người kia, như cá lớn nuốt cá bé ở ngoài biển, mà có khi sẽ nổi lên chống chính quyền, như vậy sẽ gây ra không biết bao là tai hại. Ai sẽ chịu trách nhiệm về những vụ lộn xộn, phải chăng là Văn Thân?
    “Các ông đã báo cáo Gia Tô giáo âm mưu nổi loạn, nhưng vô bằng cớ. Cái có bằng cớ là Văn Thân, người có chữ nghĩa sao lại ăn ở như thế được? Người Công giáo đã bị bạc đãi, nhưng không phải vì họ có lỗi, vì họ đã theo một thứ đạo khác hẳn với đạo chúng ta làm chúng ta
    nghi ngờ họ. Nay hòa bình đã trở về lại. Lòng người Gia tô giáo hân hoan và họ đã quên hẳn tất cả những nỗi đau khổ nhục nhã của họ, vậy sao Văn Thân còn sợ Gia Tô giáo thù oán? Một người Gia Tô giáo trước lúc hoạt động phải suy xét công việc mình được làm hay không được


    13 Biện pháp vừa phải, nhưng cũng đã làm cho 50,000 Công gíáo phải thiệt mạng. Xem Chương Hai Mươi Ba, số VIII.
    14 Thật ra Tự Đức ra lệnh như vậy vì phải thực thi Hiệp ước 1862.
    15 Văn Thân.

    phép làm. Nếu người Gia Tô giáo không tuân theo luật, người ấy đã phạm lỗi với đạo. Vả lại, chính phủ có đủ sức để dẹp yên mọi cuộc âm mưu dấy loạn.”16

    Trong dụ có nhiều điều sai lạc, nhưng một điều không chối cãi được là Tự Đức ca tụng lòng trung thành của người Công giáo và công nhận người Công giáo đã bị vu oan. Khi Giám mục Sohier ở Pháp về, chín tiếng đại bác nổ vang chào mừng lúc ngài đến hải cảng. Tự Đức còn truyền cho một phái đoàn gồm các quan đại thần tới chào mừng giám mục tại dinh người. Thái độ của Tự Đức thay đổi nhiều và nó có giá trị hơn một sắc dụ.
    Thái độ ấy lại rất rõ ràng từ ngày mất Nam Kỳ. Tự Đức muốn tìm hiền tài để giúp vua chống Pháp. Riêng đối với giáo dân, Tự Đức cũng khoan dung chấp nhận, không còn khắt khe như trước. Năm 1857, nhà vua hạ lệnh đánh cả trăm trượng hai Nho sinh Lương Trợ Lý và Hoàng Hữu Phu ở Quảng Bình chỉ vì dám xin vua khoan dung cho giáo dân và dám thẳng thắn nói: “Không thể cưỡng bức nhân dân bỏ đạo,” thì nay Tự Đức đã lắng nghe bản điều trần Giáo Môn Luận17 của Nguyễn Trường Tộ. Vua lấy làm cảm động khi bản điều trần xác minh về tinh thần yêu nước của người dân theo Gia Tô giáo.18 Tự Đức hành động như vậy vì có một sự thay đổi sâu xa trong thái độ của ông đối với Công giáo.19
    Nhận thấy trạng thái của vua đã đổi, Giám mục Sohier cho xây cất một ngôi nhà thờ khá đẹp. Lúc nhà thờ hoàn thành, ngài tổ chức một cuộc rước kiệu Thánh Thể lớn lao vĩ đại. Toàn dân giáo lẫn lương đến dự cuộc rước kiệu. Thế rồi mỗi năm, ngài vẫn tổ chức những cuộc kiệu lớn lao ấy mà không bị phiền hà. Chính phủ Việt Nam hoàn toàn tôn trọng sự tự do tín ngữơng của dân chúng.

    16 Mark McLeod, The Vietnamese Response to French Intervention, 1862-1874, page 90-91, “Were this document a
    veritable imperial edict, it would constitute conclusive proof of Phan Phat Huon’s assertion that the Tu Duc
    Emperor’attitude toward the Vietnamese Catholics underwent a profound transformation during the years following
    the 1862 treaty. Yet the authenticity of the document is ques-tionable. The ideas expressed therein are
    uncharacteristic of the Tu-duc Emperor’s attitudes as they can be seen in pre-war and wartime documents of his
    certain autorship, which obliges Phan Phat Huon to meet a heavy burden of proof. This he does not do; he cites no
    source for the document, and the only date indicated is the imprecise ‘after the discovery of the scholars plot,’ by
    which he perhaps means the examination field rebellions of 1864. Several lin-guistic anomalies and cultural
    incongruities further render the document suspect.
    “A possible answer is that it is the author’s own translation into Vietnam-ese of an alleged imperial edict published
    in Frech translation in the Annals de la Propagation de la Foi, volume XXXVIII, 1865. The document published
    there was reproduced from a letter of Father Bernard to Monsignor Sohier in Septemvber 1864. Father Bernard did
    not supply a precise date or copy of the original for comparison with his translation. In any case, it would be
    dangerous to place much credence in the genuineness of the Viêtnamese-language docu-ment presented by Phan
    Phat Huon as an edict authored by Emperor Tu-duc.
    “Several imperial documents of certain authenticity issued in relation to the Nghe -tinh rising of 1874 supply
    conclusive evidence that even the more nuanced argument of Tran van Giau for a subtle change in Tu-Duc’s attitude
    is untenable. Since the purpose of citing these documents is only to refute the ar-gument that there was a change in
    Tu-duc’s attitude toward the Catholics.”
    V sự thay đổi thái độ của Tự Đức, xem:
    - Louvet, op. cit., Tập II, trg 413 và tiếp.
    - Thư của Lm. Bernard gởi Gm. Sohier 17-9-1864 in ở trong Annales de la Propagation de la Foi, Tập XXXIII, trg
    325-327.
    - Tuck, French Catholic Missionaries and the Politics of Imperialism in Viet Nam 1857-1914, trg 181-188.
    - Bùi Đức Sinh, Giáo Hội Công Giáo ở Việt Nam (Sài Gòn, 1974), Tập III , trg 542, 543 (Ronéo) ghi: “Vua Tự Đức
    thay đổi hẳn thái độ đối với người Công giáo...” Thái độ được giải bày trong một sắc dụ được ban hành vào tháng 7
    năm 1867.
    17 Essay on The Threshold of the Religion.
    18 Cao Thế Dung, Việt Nam Huyết Lệ Sử (New Orleans, 1996), trg 228.
    19 Để trả lời Mark Mc Leod, The Vietnamese Response to French Intervention 1862-1874, trg 90-91.

    Hình 45: Hình phạt đối với các tín hữu không chịu quá khóa.

    Cũng vào thời ký ấy, Tự Đức nhận được một bức thư nặc danh. Trong bức thư ấy, kẻ vô danh cáo Giám mục Sohier khi đi Pháp về đã mang theo nhiều ký thuốc độc để âm mưu giết vua và đình thần. Xong công việc tội ác này, giám mục với sự giúp đỡ của dân Công giáo, sẽ cướp
    ngôi vua. Theo chương trình, quân đội Pháp sẽ giúp vào một tay để chém giết những người lương không chịu tòng giáo. Tự Đức mỉa mai nói với các quan rằng: “Vì các khanh sợ thừa sai bỏ thuốc độc, tôi cấm ngặt các khanh đến nhà các thừa sai.” Thế là các quan mất dịp làm tiền vì không được mon men đến nhà các thừa sai nữa, và đồng thời các thừa sai được an dạ truyền giáo mà không còn ai dám đến quấy rầy.
    Từ lúc Việt Nam ký tờ hòa ước với Pháp, Tự Đức không bao giờ mỉm cười. Năm 1862 tóc ông trở nên trắng bạc mặc dù lúc ấy mới 33 tuổi. Trong sắc dụ ra năm 1867, Tự Đức công nhận vì lỗi của ông nên Trời đã giáng họa xuống cho dân chúng.20
    Tự Đức mở mắt không những về vấn đề tông giáo mà ngay về vấn đề chính trị. Ông thành thật xin chính phủ Pháp giúp đỡ về đường binh bị. Vì thế ông kêu mời nhiều sĩ quan Pháp tới Huế để thiết lập một trường Võ bị. Đồng thời Tự Đức nhân dịp Giám mục Sohier về Pháp
    cũng nhờ ngài chiêu mộ các giáo sư đến Việt Nam mở một Đại Học Đường theo lối Âu Châu tại kinh thành Huế. Nhưng vì các quan triều đình ghen tương và hẹp hòi làm các sĩ quan Pháp không thể chịu đựng được thái độ của các ông và cũng vì các quan phản đối quyết liệt nên hai việc ấy đều không thành.

    20 Louvet, op. cit., Tập II, trg 439.

    Năm 1869, vua Tự Đức ra hai sắc dụ bênh vực người công giáo. Sắc dụ thứ nhất Tự Đức cho phép người Công gíáo được tập họp thành những làng riêng biệt, được có những lý trưởng Công giáo. Trong sắc dụ thứ hai, Tự Đức cấm ngặt người lương không được nhục mạ người
    Công giáo và cũng không được quấy rầy họ về những lễ nghi tông giáo. Chính Gia Long cũng không bao giờ ra sắc dụ có tính cách ủng hộ người Công giáo như Tự Đức. Tiếc một điều là Tự Đức không còn đủ uy tín để bắt các quan và dân chúng theo những huấn lệnh của ông.
    3. Văn Thân Sát Hại Công Giáo Nam Định (1868)
    Từ lúc Pháp chiếm ba tỉnh miền Nam, Văn Thân ở Bắc hình như không còn muốn tuân theo lệnh của triều đình Huế nữa, lấy cớ rằng để chống Pháp trong trường hợp Pháp đổ bộ lên đất Bắc. Các Văn Thân ở những tỉnh Ninh Bình và Nam Định thành lập những đội quân lưu động đặt dưới quyền của mộỉt quan thượng hồi hưu 21 rất có uy thế mà dân gọi là Hoàng Giáp Tam Đăng.22 Ông có uy thế vì tất cả các ông tú tài, cử nhân, cùng một số đông các quan chức là cựu học sinh của ông. Triều đình không bao giờ ưng thuận sự thành lập những đội quân lưu động kia và ra giấy giải tán, nhưng các quan làm lơ không muốn tuân theo lệnh của triều đình.23
    Ngày 14-1-1868, Văn Thân vây đánh làng Kẻ Trình và các họ đạo ở Nam Định. Họ đốt nhà thờ, nhà các bà phước và 30 nhà người Công giáo. Người Công giáo kháng cự lại và bắt giữ hai Văn Thân trong số đó có ông Tú Đường. Tú Đường bị triều đình lên án giảo giam hậu, nhưng vua muốn xử hòa hai bên nên ra lệnh phạt cha xứ Kẻ Trình. Đồng thời quan án Nam Định bị triệu về Kinh. Khi đi qua Nghệ An, ông ta xúi giục dân chúng đốt các làng có đạo.
    Nhận thấy tình hình căng thẳng, các giám mục lo sợ lệnh cấm đạo có thể truyền ra trong nay mai, nên lại cấp tốc truyền chức cho ba giám mục phó. Giám mục Barnabé Garcia Cézon Khang giáo phận Trung Đàng Ngoài truyền chức cho cha Emmanuel Riano Hoà; Giám mục John Gauthier giáo phận Nam Đàng Ngoài truyền chức cho cha Yves Croc; và Giám mục Joseph Theurel giáo phận Tây Bắc Việt truyền chức cho cha Paul Puginier. Giám mục Theurel trước lúc
    qua đời đã có công lập chủng viện tại Phúc Nhạc.
    4. Pháp ở Bắc Kỳ
    A. Jean Dupuis và Francis Garnier
    Đang lúc việc giao thiệp Việt-Pháp lâm vào giai đoạn khó khăn, Jean Dupuis đến làm cho việc giao thiệp càng khó khăn thêm.
    Jean Dupuis là một thương gia Pháp. Được sự khích lệ của bộ trưởng hải quân Pothuan và viên toàn quyền Pháp ở Sài Gòn,24 Dupuis muốn mở đường mậu dịch ở Bắc và Vân Nam bên Trung Hoa. Dupis cương quyết muốn dùng sông Hồng Hà để mở một con đường thủy lên Vân

    21 Morey, Mrg. Theurel, trg 212.
    22 Ravier, Sử Ký Hội Thánh (Hà Nội, 1934), Tập III, trg 569.
    - Annals of the Propaganda of the Faith, Tập XL, trg 441, 1868. Thư của Giám mục Theurel, giáo phận Tây Đàng
    Ngoài ngày 18-2-1868 gửi cho B Trên thừa sai Pháp.
    23 Dương Kinh Quốc, Việt Nam (Hà Nội, 1981), Tập I, trg 115. Tháng 2-1868, giáo dân Nam Định nổi dậy chống
    Văn Thân. Võ Huy Sĩ, Bùi Huy Kỳ và một số người đ nghị với triu đình cho họ được tự trang bị vũ khí để tiêu
    diệt cha cố và giáo dân trong tỉnh. Tự Đức không chấp thuận và quyết định nhờ các giáo sĩ người Pháp dàn xếp với
    giáo dân Nam Định. Xem:
    - ĐNTL - ĐIVK: CBTTĐ XXVI, 4-12-1873, Tờ 53-55, CRO 2: CB 385.
    24 Louvet, Vie de Mgr. Puginier (Hà Nội, 1894), trg196.
    - Tuck, Thừa Sai Công Giáo Pháp (TPHCM, 1989), trg 781-784, 786-790.

    Nam. Tháng 11-1872, ông tới Hải Dương, và nơi đây ông gặp thuyền trưởng Senez chỉ huy chiếc Bourayne. Nhờ Senez giới thiệu, Dupuis được yết kiến ông Lê Tuấn, trấn thủ Hải Dương.
    Ông trấn thủ khước từ không cho phép Dupuis tiếp tục hành trình trên sông Hồng Hà, vì chỉ nhà vua mới có quyền ban phép ấy. Dupuis bèn yêu cầu ông trấn thủ vận động với triều đình Huế để ông được tiếp tục đi đến Vân Nam. Dupuis phải đợi lệnh từ triều đình Huế khoảng 2
    tuần. Hai tuần trôi qua không thấy có giấy tờ gì ở Huế đến, và Dupuis tự tiện cho tàu chạy lên Hà Nội, trái với luật lệ hiện hành ở trong nước.25
    Vừa tới Hà Nội, quan quân Việt Nam rất bỡ ngỡ và lập tức điều động binh sĩ đề phòng.
    Dupuis đến đây cũng xin phép lên Vân Nam, nhưng các quan trả lời phải đợi lệnh triều đình. Lúc này Dupuis nảy ra ý kiến muốn gặp Giám mục Puginier. Các quan cũng viết thư rất lịch sự mời
    Giám mục tới Hà Nội với hy vọng rằng Giám mục Puginier sẽ thuyết phục Dupuis bỏ ý định tiếp tục đi Vân Nam, là một việc mà nhà đương cục Hà Nội không thể cho phép, không phải vì muốn
    làm khó dễ hay xảo trá như các sử gia Pháp diễn tả,26 nhưng vì nhận thấy trong đoàn thuyền của Dupuis có hai chiếc pháo hạm Hôàng Giang và Lao Kay kéo theo sau một chiếc ghe Sơn Tây
    khổng lồ chở 7.000 súng truờng Chassepot, 30 khẩu đại bác và 15 tấn đạn dược.27
    Nhà đương cục Hà Nội trông cậy Giám mục Puginier dùng thế lực của người khuyên dụ Dupuis ở lại để chờ giấy phép triều đình Huế, bằng không, phải kéo tàu lui về. Rõ ràng Dupuis phạm đến luật hiện hành trong nước và luật này là một luật hữu lý vì chẳng có chính phủ nào cho phép người ngoại quốc được tự do chuyên chở khí giới lưu thông trong nước mình cả. Hơn nữa Dupuis là một người Pháp và lúc ấy Pháp vừa dùng võ lực để chiếm Cửa Hàn và ba tỉnh Nam
    Kỳ. Rất tiếc vì Giám mục Puginier chưa hiểu rõ tình thế nên mới yêu cầu nhà chức trách Hà Nội cho tự do lưu thông trên sông Hồng Hà. Ngài tưởng như vậy sẽ có lợi cho Pháp và nhất là cho Việt Nam.
    Lúc tướng Hoàng Kế Viêm28 vâng lệnh triều đình Huế đến Hà Nội. Ông bàn thảo trong hơn một tiếng đồng hồ với giám mục nhưng không đi đến một kết quả nào. Chính phủ Việt Nam muốn giải quyết vấn đề được ổn thỏa nên nhờ chính phủ Pháp giàn xếp. Không ngờ chính phủ Pháp lấy dịp này để chiếm đất Bắc Kỳ.29 Đô đốc Dupré lúc ấy chỉ huy toàn lực lượng Pháp ở Sài Gòn, bề ngoài nghĩa là đối với chánh phủ Việt nam xem ra không thừa nhận công việc của
    Dupuis, nhưng Dupré ngầm giúp Dupuis để mở con sông Hồng Hà cho tàu buôn Pháp.
    Hiệp ước 1862 trở nên vô giá trị vì Pháp đã vi phạm Hiệp ước ấy bằng cách dùng võ lực chiếm luôn ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ năm 1867. Đang lúc hai chính phủ còn đang thương thuyết, Dupuis không kể gì đến pháp luật, và cứ tiếp tục đi Vân Nam rồi trở về Hà Nội với 150 binh sĩ Trung Hoa. Thấy thế nhà đương cục Hà Nội tịch thu thuyền của Dupuis là một việc hữu lý. Theo lời yêu cầu của chính phủ Việt Nam, đô đốc Dupré gởi đến Hà Nội đại úy Francis Garnier.
    Sứ mạng của Francis Garnier là trục xuất Dupuis ra khỏi Bắc Kỳ, vì sự hiện diện của Dupuis ở Hà Nội là bất hợp pháp và chính Dupré cũng công nhận như vậy.30 Nhưng sứ mạng của

    25 ĐNTL - ĐIVK: CBTTĐ XXVI, 7-1-1873, Tờ 19-24, CRO 2: CB 381
    26 Louvet, op. cit., trg197-205.
    27 Masson, Souvenirs de l’Annam et du Tonkin (Aix-en-Provence, 1892), trg 49.
    28 Tuck, op. cit., trg 798. Viêm là con rể của Minh Mạng, và là quan trấn thủ Nghệ An, thống lãnh binh lính ở Tonkin.
    29 Louvet, op. cit., trg 214. Thư của Francis Garnier gởi cho Giám mục Sohier ở Huế viết tại Sài Gòn đ ngày 6-10-
    1873 đã bày rõ âm mưu của Pháp xâm chiếm Bắc Việt, “Il s’agit bien évidemment d’assoir l’influence fracaise aux
    bords du fleuve Rouge et préparer au Ton-King un véritable protectorat.”
    30 Ibid, trg 212.
    - Tuck, op. cit., trg 780-781.


    Garnier đâu phải bấy nhiêu. Dupré còn giao phó cho Garnier sứ mạng dùng võ lực bắt ép chính phủ Việt Nam phải để cho tàu lưu thông tự do trên sông Hồng Hà.31 Mọi dữ kiện xảy ra chứng minh Pháp muốn dùng vũ lực để can thiệp vào nội bộ Việt Nam.
    Hơn nữa Dupré viết nhiều bức thư cho các giám mục xin các ông và dân Công giáo ủng hộ công cuộc của Garnier. Nhận được thư của Dupré, các giám mục rất lấy làm phân vân và lo lắng. Nếu chiến tranh bùng nổ giữa Việt Nam và Pháp, số phận của người Công giáo sẽ vô cùng long đong. Biết thế, nên Giám mục Antonio Colomer Lễ, giáo phận Đông Đàng Ngoài, trả lời dứt khoát cho Dupré biết rằng ông và các bổn đạo hoàn toàn nằm ngoài vòng những biến cố chính trị đang xảy ra và sẽ xảy ra sau này. Giám mục ở giáo phận Trung Đàng Ngoài cũng trả lời cho đô đốc tương tợ như vậy.
    Lúc vừa đến Bắc Việt, Garnier cũng phân phát một tờ công bố trong đó ông xúi giục Công giáo khiếu nại với ông về cách cư xử tàn tệ của các quan đối với họ.
    Theo mật lệnh của Dupré, Garnier phải liên lạc với những người dòng dõi nhà Lê để mưu toan lật đổ Tự Đức,32 tạo nên sự hỗn loạn trong nước. Trong lúc dó Pháp sẽ thừa nước đục thả câu và khống chế Bắc Kỳ cũng như họ đã làm ở Nam Kỳ. Giám mục Puginier khuyên Garnier đừng liều lĩnh hoạt động thiếu khôn ngoan như vậy và ngài ra lệnh cho người Công giáo Việt Nam không được cộng tác với Pháp trong bất cứ trường hợp nào.
    Sứ mạng của Francis Garnier là đuổi Dupuis ra khỏi Bắc kỳ. Chúng ta thấy rõ nếu Garnier đã đi quá sứ mạng ấy không phải vì Giám mục Puginier đã khuyến khích ông, nhưng vì nhà đương cục Pháp mà Dupré là đại diện, ra lệnh cho ông đặt nền móng bảo hộ ở Bắc kỳ.
    Lúc đến Hà Nội Garnier viết thư mời Giám mục Puginier và các quan Việt Nam cũng mời ngài đến Hà nội. Thống tướng Nguyễn Tri Phương cũng như tướng Hoàng Kế Viêm hội kiến với Giám mục Puginier để yêu cầu ngài can thiệp vào trường hợp Dupuis.33 Tất cả những cuộc dàn xếp thất bại vì một bên cố tình gây hấn, và một bên thành thật ôn hòa, mặc dầu phải giữ quyền lợi hợp pháp và chính đáng của mình.
    Thế rồi Francis Garnier gởi tối hậu thư cho Việt Nam và hạ thành Hà Nội hôm 20-11-1873. Xong Garnier đi chiêu mộ ở các tỉnh được 14.000 thân binh trong số đó chỉ có 2.000 Công giáo.34 Không đầy một tháng, quân đội Pháp đánh chiếm Ninh Bình, Phủ Lý và Nam Định.
    B. Philastre
    Được tin Pháp đánh Hà Nội, chính phủ Việt Nam phái Trần Đình Túc, Nguyễn Trọng Hợp, Trương Gia Hội và Giám mục Puginier35 ra Hà Nội điều đình. Đồng thời, sau lúc sứ Việt

    31 Louvet, op. cit., trg 213. Muốn rõ v vụ Dupuis đọc:
    - ĐNTL - ĐIVK: CBTTĐ XXVI, 22-1-1873, Tờ 49-55, CRO 2: CB 381.
    - ĐNTL - ĐIVK: CBTTĐ XXVI, 24-1-1873, Tờ 61, CRO 2: CB 381.
    - ĐNTL - ĐIVK: CBTTĐ XXVI, 13-5-1873, Tờ 140-141, CRO 2: CB 287.
    - ĐNTL - ĐIVK: CBTTĐ XXVI, 16-8-1873, Tờ 60-61, CRO 2: CB 237.
    32 Louvet, op. cit., trg 220.
    33 Phan Xuân Hòa, Lịch Sử Việt Nam (Sài Gòn, 1956), Tập IV, trg 150.
    - Nguyễn Văn Quế, Histoire des pays de l’Union Indochinoise (Sài Gòn, 1932), trg 178 chép rằng Giám mục Puginier làm thông ngôn. Như thế là không đúng. Giám mục Puginier đến Hà Nội nhiu lần theo lời yêu cầu của các nhà đương cục Hà Nội để dàn xếp việc Dupuis. Sau cuộc hội kiến Thống Tướng Nguyễn Tri Phương đã nhân danh
    Tự Đức ban huy chương vàng cho Giám Mục. Xem Louvet, op. cit., trg 200-210.
    34 Louvet, op. cit., trg 225.
    35 Giám mục Sohier (Bình) cai quản giáo phận Huế được Tự Đức phái ra Hà nội điu đình với Pháp v vụ bạo động của Garnier.
    - Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược (Sài Gòn, 1954), trg 515 và Phan Xuân Hòa, op. cit., Tập IV, trg 151 ghi là Giám mục Bohier. Dự kiện này không đúng, xem:


    Nam báo tin cho Súy phủ Pháp ở Sài Gòn việc bạo động của Garnier, chính phủ Pháp gởi ông Philastre cùng đi với phó sứ Nguyễn Văn Tường ra Bắc.36 Lúc vừa tới Bắc, hai ông được tin Francis Garnier đã bị giết ở tại Cầu Giấy.
    Philastre là một người điềm đạm37 nhận thấy việc Dupuis và Garnier làm là những việc bất hợp pháp. Ông liền ra lệnh quân Pháp phải trả lại cho Việt Nam các thành trì đã chiếm cứ và buộc quân đội Pháp xuống tàu vô Nam.
    5. Văn Thân Sát Hại Công Giáo (1874)
    A. Giáo Phận Tây Đàng Ngoài
    Biết trước nếu quân Pháp triệt thoái khỏi Bắc Việt, Văn Thân sẽ nổi lên sát hại Công giáo vịn cớ là Công giáo đã theo Francis Garnier đánh lại quân chính phủ Việt Nam,38 Giám mục Puginier đề nghị với Philastre tạm nán lại một thời gian để các quan Việt Nam có đủ thì giờ tập trung binh sĩ, giữ trật tự và lúc quân đội Pháp rút lui các quan có phương tiện che chở các người Công giáo khỏi bị Văn Thân sát hại. Nhưng Philastre không đếm xỉa gì đến lời yêu cầu hợp lý
    ấy. Ngày 8-1-1874, quân đội Pháp triệt thoái Ninh Bình. Ba ngày sau, 14 làng Công giáo bị Văn Thân kéo đến quấy nhiễu đốt phá liên tiếp trong 10 ngày liền. Một linh mục bị giết, và những giáo hữu khác phải chạy thoát lên núi.39
    Trong giáo phận Tây Đàng Ngoài, dưới quyền cai quản của Giám mục Puginier, có 3 linh mục, 25 thầy chủng sinh hoặc thầy giảng, từng trăm bổn đạo bị giết, 107 họ đạo bị phá hủy. Giáo phận bị tổn hại đến 200.000 phật lăng và anh em giáo hữu từng triệu phật lăng.40
    B. Giáo Phận Nam Đàng Ngoài (Vinh)
    Giáo phận Tây Đàng Ngoài bị tổn thất nhiều có lẽ vì Giám mục Puginier đã có một phần nào trách nhiệm trong vụ Dupuis hoặc vì có một số ít giáo hữu của giáo phận đi lính cho Garnier.
    Đối với giáo phâỉn Nam Đàng Ngoài chính phủ cũng như Văn Thân không thể cáo người Công giáo theo Pháp. Vậy mà ở Nghệ An, hai ông Tú Trần và Đặng Như Mai hội tập tất cả các Văn Thân trong hạt, làm bài hịch gọi là “Bình Tây Sát Tả,” rồi kéo nhau đi sát hại người Công giáo.
    Giám mục Gauthier nhận thấy các quan triều đình không dùng một phương pháp nào để ngăn cản phong trào dấy loạn giết hại Công giáo, ngài liền ban phép cho Công giáo cầm khí giới để tự vệ, rồi giám mục viết thư cho các quan:
    “Công giáo đã cầm khí giới không phải đề chống lại chính quyền, nhưng để bảo vệ mạng sống mình. Đã có từng nghìn người Công giáo bị sát hại, các quan đã làm gì để chận đứng cuộc sát hại đó?”41

    - Launay, Histoire Genérale des Missions (Paris, 1894), Tập III, trg 502.
    - Louvet, Vie de Mgr. Puginier (Hà Nội, 1894), trg 233.
    - Olichon, Le Père Six (Paris, 1935), trg 73.
    - ĐNTL - ĐIVK: CBTTĐ XXVI, 12-10-1873, Tờ 49, CRO 2: CB 287.
    36 Dương Kinh Quốc, op. cit., Tập I, trg 159.
    - ĐNTL - ĐIVK: CBTTĐ XXVI, 28-10-1873, Tờ 82, CRO 2: CB 287.
    37 Louvet, op. cit., trg 225 chỉ trích Philastre một cách quá đáng. Muốn biết sự thật v hoạt động của Philastre, xem:
    - Trần Trọng Kim, op. cit., trg 516-517.
    38 Trần Trọng Kim, op. cit., trg 520.
    39 ĐNTL - ĐIVK: CBTTĐ, Tập 33, trg 28, 29.
    - Ibid, Tập 31, trg 123.
    40 Louvet, op. cit., trg 520.
    41 Launay, op. cit., Tập III, trg 503.


    Thật vậy, đã có 4.500 bổn đạo bị giết và 300 họ đạo bị phá hủy. Bổn đạo bị tổn thất hơn 6 triệu phật lăng. Vào cuối tháng 3- 1874, Tự Đức ký tờ Hiệp ước với Pháp rồi sai Nguyễn Văn Tường làm khâm sai và Lê Bá Thuận đem quân ra đánh dẹp Văn Thân. Từ bấy giờ, Văn Thân
    chẳng đốt giết nữa, nhưng họ dùng vũ lực chống chính quyền. Ngày 30-5- 1874, Văn Thân chiếm Hà Tĩnh và cách mấy ngày lại lấy 5 phủ thuộc Nghệ An. Khoảng 20.000 Văn Thân vây Nghệ An. Quan quân chính phủ sắp ra đầu hàng thì bỗng có một toán 200 binh sĩ Công giáo
    cướp được một đồn của Văn Thân, giết một tướng giặc tên là Tú Cừu và 30 quân rồi cứ kéo lên tỉnh, toán khác theo sau, giải vây cho quân của chính phủ, và giúp quân chính phủ chiếm lại các phủ huyện.

    Hình 46: Những địa điểm Công giáo bị sát hại (1859-1888).

    C. Phát Diệm - Cụ Sáu, Trần Lục
    Lúc Trần Đình Lục, Nguyễn Văn Hợp và Giám mục Sohier đến Ninh Bình, linh mục Trần Văn Lục mà người ta thường gọi là Cụ Sáu đưa các ông về Hà Nội. Nghe tin Philastre sắp cho quân đội Pháp triệt thoái, cụ Sáu về Phát Diệm vì người đoán thế nào cũng có việc lôi thôi xảy ra. Văn Thân sau khi sát hại Công giáo Hà Nội và Nam Định, sắp sửa hướng về Phát Diệm.
    Để bảo vệ Phát Diệm, Cụ Sáu tung ra tin vịt là quân Pháp chiếm Phát Diệm. Văn Thân lập tức quay lui.
    Cũng trong thời kỳ này, cụ Sáu được triều đình mời về Ninh Bình để thu xếp giảng hòa giữa lương và giáo.42 Dân sự rất lo ngại thấy ngài về Ninh Bình, vì nơi đây đã có hai linh mục bị giết. Nhờ tài khôn khéo, cụ Sáu thu xếp và đem bình an lại cho dân chúng rồi ông trở về Phát Diệm giữa sự hân hoan của giáo dân. Tự Đức và triều đình nghe tin, gởi giấy ban khen.43 Đang lúc tình hình ngoài Bắc hỗn loạn do Văn Thân quấy rối thì ở Trung và Nam tạm yên. Tuy nhiên một vài quan cố ý nhân dịp ấy âm mưu giết hại Công giáo, nhưng họ cũng không thực hành được như ý muốn.44

    II. CẦN VƯƠNG SÁT HẠI GIÁO DÂN
    (1885-1888)
    Kiệt sức vì chính sách tàn sát Gia Tô giáo nên không thể đương đầu với Pháp xâm lăng, Việt Nam bắt buộc phái ký 3 hiệp ước năm 1862, 1874 và 1883, nhìn nhận quyền bảo hộ của Pháp trên Việt Nam. Sau lúc Tự Đức mất, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết tự do tung
    hoành. Năm 1885, các ông ra lệnh đánh úp quân Pháp tại Huế và rước Hàm Nghi trốn ra Quảng Trị. Sau đó Văn Thân khắp nơi nổi lên giết giáo dân một cách công khai và gây nên một phong trào có mục đích Bình Tây Sát Tả và lấy tên là Cần Vương.
    1. Ở Bắc Kỳ
    A. Giáo phận Tây Đàng Ngoài (Hà Nội)
    Từ lúc vua Hàm Nghị bỏ cung điện chạy trốn, Cần Vương khắp nơi nổi lên chém giết giáo dân một cách không thương tiếc. Trong giáo phận Hà Nội, tại xứ Đoài,45 giáo dân tại 5 làng Công giáo phải chạy trốn. Linh mục Cấp ở xứ Đoài bị quân Cờ Đen bắt. Họ chôn sống ngài, đầu lộn xuống, hai chân lòi ra khỏi mặt đất, mang một tấm bảng có viết mấy chữ “bọn theo tả đạo phải bị giết như thế này.” Khi quân Cờ Đen và Cần Vương uy hiếp nhà chung Hà Nội, Công giáo Thạch Bích đứng ra chống giữ nhưng chúng vẫn lọt vào bên trong, bắt cóc một số trẻ em, xẻo tai các em, buộc thành một vòng hoa máu rồi đem choàng vào cổ tượng Đức Mẹ nơi hang đá 46 của nhà chung.
    42 Olichon, op. cit., trg 48.
    43 Ibid, trg 78.
    44 Phan Đình Phùng đang lúc làm tri phủ Yên Khánh cho lệnh đánh cụ Sáu “vì hay ỷ thế tông giáo hà hiếp lương dân.” Xem:
    - Đào Trinh Nhất, Phan Đình Phùng (Sài Gòn, 1950 ), trg 19 và được David G. Marr nhắc lại trong Vietnamese Anticolonialism (California University Press, 1981), trg 61 nhưng không thấy ghi ở trong các sách hạnh của linh mục.
    45 Xứ Đoài gồm các tỉnh Sơn Tây, Hưng Hóa và Tuyên Quang.
    46 Chuẩn Bị Tinh Thần Mừng Lễ Phong Thánh (tài liệu học hỏi, USA, 1988), trg 114.

  5. Được cám ơn bởi:


  6. #4
    teenvnlabido's Avatar

    Tham gia ngày: May 2011
    Tên Thánh: Giuse
    Giới tính: Nam
    Đến từ: HCM city
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 927
    Cám ơn
    1,503
    Được cám ơn 2,005 lần trong 603 bài viết

    Default


    Ngày 20-9-1886, có 1.000 Cần Vương tấn công Thanh Hóa, nhưng vì không chiếm được thành, chúng kéo đến hủy diệt các làng Công giáo ở chung quanh Cửa Bạng. Hơn 100 họ đạo bị tàn phá.

    B. Giáo Phận Vinh, Nam Đàng Ngoài

    - Làng Hướng Phương và Cồn Nâm, Quảng Bình

    Ngày 31-1-1886 Đề đốc Lê Trực đưa quân Cần Vương đến đánh làng Hướng Phương là một trong những họ đạo lớn nhất của giáo phận. Đứng trước tình thế như vậy, người Công giáo dưới sự sáng suốt của linh mục Vạn cầm khí giới để bảo vệ mạng sống. Sau 15 ngày, Cần Vương bại trận và kéo đi đốt phá các họ nhỏ chung quanh Hướng Phương. Cách ba tháng, chúng lại đến vây Hướng Phương đông đảo hơn, nhưng vẫn bị đánh bại.
    Ở xứ Cồn Nâm, Linh mục Gioan Baotixita Kiệm già yếu không chịu bỏ xứ trốn chạy. Ngài nói rằng: “Già cả như tôi thế này chẳng thèm sống, tôi chỉ muốn chết thôi.” Lúc Cần Vương đến, ngài quì cầu nguyện với hai học sinh của người. Chúng lôi ngài ra khỏi nhà, đem đến núi ở làng Kim Sơn và chém cùng với hai học sinh của ngài.47
    Thật ra nhiều anh em bên lương không muốn tàn sát người Công giáo, nhưng vì các thủ lãnh Cần Vương ép họ. Như trong tháng 2-1886, lúc Tôn Thất Thuyết ở Bình Chính, có 10 lý trưởng không muốn đem quân giết người Công giáo, và tất cả đều bị chém. Nguyên tại Bình Chính, Cần Vương đốt phá 59 họ đạo và giết 600 người. Thừa sai Tortuyaux gan dạ, liều mình đi qua đất giặc để đem nhiều người Công giáo trở về Hướng Phương, bằng không còn chết nhiều hơn nữa.48

    - Làng Bảo Nham, Vinh

    Tháng 10-1885, Cần Vương kéo đến hai ba lần bao vây làng Bảo Nham, nhưng không phá được. Ngày 12-11-1885, có 2.000 quân mang súng ống đến bao vây làng Bảo Nham. Trong làng chỉ có độ 250 người tráng kiện và 8 khẩu súng với giáo mác. Qua ngày 13-11, 10 người tử trận và 20 người bị trọng thương và hơn nữa, đạn dược không còn. Nhận thấy tình thế quá nguy ngập, đêm đến dân làng rủ nhau trốn lên núi bò vào hang. Đến sáng Cần Vương đột nhập vào làng đốt phá và lấy tre đóng bờ giậu rào núi.
    Cần Vương không dám trèo lên núi, nên chúng ra lệnh đốt núi. Lửa và khói xông vào cửa hang. Chúng lấy sào dài cắm bó rạ đốt lên rồi áp vào các miệng hang. Chiến dịch này kéo dài như vậy trong vòng 5 ngày. Người Công giáo ở trong hang vừa bị khói vừa bị lửa, nước uống gần hết. Cần Vương biết tình thế quẫn bách của người Công giáo nên bảo họ ra hàng cho xong.
    Công giáo họp bộ tham mưu rồi phái 8 người xuống núi điều đình với Cần Vương, nhưng vừa đến nơi cả 8 người liền bị bắt trói và bị chém tại chỗ.49 Nhiều người khát quá đứng ở cửa hang xin một chút nước, và chúng trả lời rằng: “Xuống đây mà múc.“

    47 Ngày 1-1-1886. Sau này, năm 1888 dân chúng làng này đồng loạt xin tòng giáo và đổi tên là Thanh Sơn và trở thành một họ giáo thuộc Hướng Phương.
    48 Cao Thế Dung, Việt Nam Huyết Lệ Sử (New Orleans, 1996), trg 315.
    - Thừa sai Tortuyaux ở Nghệ An và thừa sai Anger ở Bình Định mộ binh để bảo vệ người Công Giáo chứ khôngphải mộ binh cho thực dân Pháp. Xem:
    - Lãng Nhân, Những Trận Đánh Pháp, trg 16, Houston, 1987.
    - Phạm Văn Sơn, Quân Sử 3 (Taiwan, 1971), trg 242 chép là “ông cố Tortuyaux theo trung tá Metzinger là một tu sĩ gián điệp, vừa đi giảng đạo vừa thám thính tình hình và địa thế ở vùng Quảng Bình, dẫn đường lên đồn Vẽ để truy bắt vua Hàm Nghi.”
    49 Lm Trần Phúc Long, 25 Giáo Phận Việt Nam (California, 1994), Tập I, trg 178.



    Nghe tin Bảo Nham ở trong tình trạng khốn đốn, thừa sai Klinger Thông đem 300 Công giáo đến giải vây cho họ.

    - Làng Trung Nghĩa và Xuân Kiều, Hà Tĩnh

    Ngày 20-10-1886, vua Hàm Nghi truyền giết tất cả các người GiaTô giáo.50 Lập tức Cần Vương đem 6.000 quân đánh làng Công giáo Trung Nghĩa. Làng này chỉ có hơn 200 người có thể cầm khí giới. Cuộc phòng thủ do thừa sai Aguese tổ chức chu đáo, nên Cần Vương phải thua chạy.
    Ở Hà Tĩnh, khoảng 6.000 người bổn đạo chết vì giặc. Thừa sai Satre bị trọng thương, thừa sai Cras tử trận. Các linh mục khác phải canh gác tập dợt, xây đồn đắp lũy phòng thủ hoặc phải đem quân đi đánh tháo cho những làng bị vây. Đàng khác, các cha còn phải đi rước những bổn đạo chạy trốn lên núi, đưa họ về làng, lo gạo, cơm, thuốc thang và chỗ ở.
    Cũng trong giáo phận Nam Đàng Ngoài, trong xứ Xuân Kiều xảy ra những trận ác liệt giữa Công giáo và Cần Vương. Cần Vương có 4.000 quân, còn rước thêm 300 Tàu Ô đến giúp.
    Súng của Cần Vương bắn xả vào làng từ sáng sớm đến 3 giờ chiều, xong chúng tràn tới để đốt phá. Bất thần, quân Công giáo nhảy ra đánh xáp lá cà dữ dội, làm bên địch tan tác và để lại trên chiến trường 65 xác chết, trong đó có 3 xác chú khách. Ngoài ra chúng còn để lại 600 bó rơm.
    Từ đó về sau quân Cần Vương không dám bén mảng đến nữa.
    Cuối năm 1885, Giám mục Yves Croc giáo phận Nam Đàng Ngoài qua đời. Đức Cha Louis Pineau làm giám mục cai quản giáo phận thay thế người.

    2. Ở Trung Kỳ

    Ở Trung kỳ Cần Vương tung ra nhiều hịch để sát hại Công giáo: “Vì Gia Tô giáo bán đứng quốc gia cho xâm lăng Pháp, nên cần phải trừ khử được quân tả đạo nội công đó. Khi dẹp được bọn nội ứng, thì người Pháp sẽ thành ra trơ trọi yếu thế như cua mất càng, không bò, không kẹp được nữa.” Một tờ hịch khác công bố rằng khi quân Pháp đánh Hà Nội, chính người Gia Tô giáo đã bắc thang cho binh Pháp leo vào trong thành.51
    Tờ hịch vừa ra, ở các tỉnh miền Trung, những bậc khoa bảng đều một loạt chỗi dậy, vứt bỏ bút lông, vớ lấy gươm đao hò nhau triệu tập nghĩa sĩ rèn đúc khí giới rồi cờ phất, mõ đánh, trống thúc, ùa nhau đi đánh bọn “Gia Tô,” kẻ thù chung của dân tộc. Đứng trước một thế lực đe dọa, người Công giáo dĩ nhiên phải dùng sức mạnh để tự bảo vệ chống trả.

    A. Quảng Ngãi

    Quảng Ngãi là một trong ba tỉnh thuộc giáo phận Qui Nhơn. Lực lượng Cần Vương tụ tập, hoạt động tại Bình Sơn và kéo đi khắp nơi chém giết người Công giáo. Năm 1885, Cần Vương giết thừa sai Poirier Tân ở Bàu Gốc, thừa sai Guégan Hoàng ở Phú Hòa, thừa sai Garin Châu ở Phường Chuối, thừa sai Barrat Chung ở Thác Đá, thừa sai Nacé Sĩ ở Nước Nhỉ, Phù Mỹ, và thừa sai Dupont Minh và linh mục Nhứt ở Gia Hựu. Trong bản tường trình của Giám mục Van Camelbeck Hân giáo phận Qui Nhơn, trong hai năm 1885-1886, Cần Vương tàn sát 8 vị thừa sai, 7 linh mục bản xứ, 60 thầy giảng, 70 bà phước dòng Mến Thánh Giá, 24.00 bổn đạo, và phá hủy 17 cô nhi viện, 10 tu viện, 4 nông trại, 2 chủng viện, 2 trung tâm phân phát, 1 nhà in,Tòa Giám mục, và 225 nhà thờ.52 Hơn 8.000 giáo dân phải trốn khỏi vùng Bình Định.

    50 Lãng Nhân, op. cit., trg 8.
    51 Đào Trinh Nhất, op. cit., trg 38.
    52 Lm Trần Phúc Long, op. cit., Tập III, trg 272, 273.


    Qui Nhơn bấy giờ chưa phải là một thành phố. Tại nơi đây có khu nhượng địa Pháp với mấy căn nhà doanh trại và “thuế quan An Nam” được dựng tạm bợ. Ở bờ bể phía xa chỉ có một làng chài và một xóm nhỏ trơ trọi trên bãi cát. Bình Định cách Qui Nhơn 20 cây số nằm sâu trong nội địa giữa một cánh đồng lúa mênh mông. Con đường từ Bình Định đến Qui Nhơn do Cần Vương kiểm soát. Vào cuối tháng 7 đã hơn 3.000 giáo dân sống sót chạy về tỵ nạn bên ngoài khu nhượng địa, sống dưới mưa nắng trên cồn cát không một lùm cây. Mùa Xuân 1886, số giáo dân lên đến 11.000 người, sống chen chân nhau trên một cồn cát, Pháp vẫn chỉ ở trong doanh trại. Giáo dân phải tổ chức tự vệ lấy, duy nhất một con đường biển tiếp tế gạo do Giám mục Isidore Colombert 53 thuê. Tình hình rất khốn đốn, bấp bênh, nếu Cần Vương có đại bác pháo tới thì coi như vô phương thoát hiểm. Theo Công sứ Pháp ở khu nhượng địa thì ngày 19-8- 1886 số gạo nuôi tị nạn của Giám mục Isidore chỉ còn đủ cho 24 giờ nữa. May thay hôm sau tầu của Giám mục Isidore thuê chở kịp gạo ăn cho 20 ngày nữa.
    Viên tướng của Pháp tại miền Trung De Courcy 54 khoanh tay không can thiệp, bỏ mặc cho hơn vạn giáo dân chờ chết trên cồn cát. Giáo dân vẫn tiếp tục bị vây hãm trên cồn cát nóng cháy và chỉ còn nhờ vào hạt gạo từ thiện từ bên ngoài của đồng đạo. Trước thảm cảnh ấy, Công sứ Qui nhơn và lính Pháp vẫn khép kín trong khu nhượng địa, Champeaux 55 và De Courcy cũng biết rõ tình hình nhưng Champeaux lại báo cáo: “Tôi không có tin tức gì về Bình Định và những tỉnh lân cận.”
    Bấy giờ Champeaux là viên chức bảo hộ quyền uy số một ở triều đình Huế, đang nắm chức Binh bộ Thượng Thư và Chủ tọa Hội đồng Cơ Mật Viện của Đồng Khánh. Ông và De Courcy đưa ra dư luận, các cuộc chém giết chỉ nhắm duy nhất chống lại những người Công giáo.
    Nhưng sự thực đây là một cuộc chiến chính trị có mục đích diệt Tây, mà đối với Cần Vương, Tây tức là Đạo, Đạo tức là Tây, đánh Tây là đánh Đạo, là đánh Công giáo, do đó Bình Tây Sát Tả là như vậy. Từ quan niệm ngu xuẩn sai lầm ấy, Cần Vương đã giết hại trên toàn quốc cũng như ở Bình Định, Qui Nhơn biết bao người dân vô tội. Giết Tây thì chỉ vài mống mà diệt giáo thì cả chục nghìn.
    Cái dã tâm của De Courcy là sau lúc đã tiến quân vào Qui Nhơn, y bắt 700 người Công giáo tị nạn làm cu li tải đạn cho lính Pháp đi đánh Cần Vương trong tỉnh Bình Định.56
    Nhưng chính lúc này Trà Kiệu và An Ninh (Quảng Tri) tổ chức được những cuộc kháng cự có quy củ. Sự xung đột tại Trà Kiệu và An Ninh phô bày sự tàn bạo khát máu của Cần Vương đối với người dân trong nước, người Công giáo Việt Nam, còn hơn đối với người ngoại bang, quân Pháp xâm lăng.

    B. Trà Kiệu

    Trà kiệu bị vây hôm 1-9-1885. Họ đạo này không thể chống lại lực lượng Cần Vương.
    Thừa sai Jean Bruyère Nhơn, cha sở Trà Kiệu, chỉ có vài cây súng, nhưng từ lúc Cần Vương vây làng, ông ra lệnh làm giáo mác ngày đêm. Trong làng có độ 350 người tráng kiện có thể cầm khí giới và được phân chia thành 7 tiểu đội tự vệ. Ngoài ra 500 đàn bà phân làm binh thủ thành và cấp cứu.57 Nhưng bổn đạo trông cậy vào sức mạnh của Đức Mẹ phù hộ hơn là trông cậy vào khí giới quá thô sơ và lực lượng nhỏ bé của mình.

    53 Colombert là Đại diện tông tòa giáo phận Sài Gòn từ năm 1873 đến năm 1894.
    54 Tuck, Thừa Sai Pháp (TPHCM, 1987).
    55 Ibid, trg 770.
    56 Cao Thế Dung, op. cit., trg 280-284.
    57 Ravier, Sử Ký Hội Thánh (Hà Nội, 1895, Tập III, trg 584.


    Cần Vương bao vây từ bốn phía, rượt đuổi các Công giáo Kim Sơn về Trà Kiệu, la hét vang dội cả một góc trời. Thấy Cần Vương quá mạnh, anh em Công giáo Trà Kiệu thối chí. Thừa sai Bruyère đặt để tất cả sự tin cậy của làng trong tay Đức Mẹ. Ngài trưng bày ảnh tượng Đức Mẹ giữa nhà và đốt nến hai bên, rồi kêu gọi tất cả dân làng đến đọc kinh cầu nguyện trước bàn thờ. Ngài thuyết phục cho dân làng hiểu kháng cự để bảo vệ mạng sống là một việc cần thiết và họ đồng thanh bầu Đức Mẹ làm Nữ tướng. Thế rồi mỗi lần xuất trận, tất cả những ông già bà lão, trẻ con đến quì trước ảnh Mẹ, xin Đức Mẹ phù hộ cho các chiến sĩ Công giáo vì bất đắc dĩ cầm khí giới chống lại bọn cướp. Cần Vương chẳng có ý đánh đêm, vì nếu đánh đêm sẽ có người chạy thoát được. Chúng canh gác suốt đêm, rồi cứ năm phút bọn chúng lại bắt loa rao lớn tiếng rằng: “Các đội, các vệ phải canh cho cẩn thận, đừng để đứa nào thoát được,” rồi mọi nơi tứ bề hô
    rầm lên cả, khiến cho binh sĩ Công giáo bị vây ở trong toát mồ hôi lo sợ.
    Anh em Công giáo đẩy lui quân giặc được 4 trận, nhưng đến trận thứ 5 thấy Cần Vương quá đông không thể nào cầm cự được, các chứùc dịch bàn định ra hàng cho êm. Nhưng lúc cử người ra dàn xếp thì chẳng ai đám đi vì Cần Vương không chấp thuận đầu hàng.
    Cần Vương ở trên đồi Kim Sơn nghe tiếng Công giáo khóc than, chúng mới nhạo rằng:
    “Thôi, chịu khó vài hôm có Tây đem binh đến cứu.” Lúc ấy ông Phổ là một sĩ quan, khuyến khích anh em binh sĩ hãy cố đánh đừng hàng, và một hương chức khác lại tung ra tin thừa sai Maillard ở Phú Thượng đang đem binh đến gỉải vây. Lời nói hùng hồn của các ông nhen nhúm lên tia lửa chiến đấu trong lòng binh sĩ Công giáo. Họ xông ra chiến trường hăng hái như hùm hổ, đánh đuổi Cần Vương chạy tán loạn. Vả lại Cần Vương không có người chỉ huy tài giỏi, chẳng ai muốn nghe ai, toán nào đánh thì đánh, toán khác đứng xem chẳng đánh giúp.
    Cần Vương chỉ muốn bắn chết thừa sai Bruyère. Mặc dù ngài đã cạo râu tàng hình, nhưng lúc chúng vừa thấy ông, liền la ó lên: “Tây dương đạo trưởng, bắn nó đi.” Tức thì thừa sai nghe từng loạt súng kêu vèo vèo bên tai. Lúc nào Cần Vương muốn giao chiến, chúng kéo nhau tới lũy tre. Dân Công giáo dù đang ăn cũng bỏ đũa vớ lấy khí giới ra giáp trận, mỗi trận chỉ kéo dài độ 10 phút. Thường thường dân Công giáo thấy một Cần Vương cầm súng, họ liền đồng thanh la lên: “Bắn thằng cầm súng.” Nghe thế, tên gịặc sợ chết, quăng súng rồi chạy tít mù. Cứ như thế Công giáo thu được súng lớn, súng nhỏ khá nhiều. Đánh trận xong, tất cả các binh sĩ tay cầm vũ khí, áo quần còn hoen máu đỏ đến quì tạ ơn trước ảnh tượng Đức Mẹ. Cũng có khi đang đọc kinh lại phải xuất trận, xong lại trở về tạ ơn.
    Sau lúc đã vây sáu ngày, quân giặc rào dậu về mặt Bắc, để ngăn chận người Công giáo trốn thoát. Rào xong chúng lại dựng lên nhiều điếm canh và đem nhiều rơm rạ chất từ Kim Sơn đến núi trọc. Dân làng hiểu ngay là Cần Vương muốn đốt lũy tre, và cần phải tìm biện pháp để ngăn ngừa chúng đem rơm rạ đến gần lũy tre.
    Lúc vừa mới tờ mờ sáng, binh sĩ Công giáo chực sẵn gần cửa Bắc và lúc Cần Vương đến gần, họ ùa ra một lượt đánh chớp nhoáng, hung hăng và nhanh như sấm sét. Trong trận này, có sự hiện diện của con ông lãnh binh Ích Khiêm, trước kia đã đánh ở Thuận An lúc Courbet đổ bộ.
    Dân chúng thường hát: “Nước Nam có bốn gian hùng: Tườụng gian, Viêm láo, Khiêm khùng, Thuyết ngu.” Khiêm đây tức là lãnh binh Ích Khiêm. Ngày ấy Cần Vương để lại 36 xác tại khu vực Công giáo, cộng thêm một số xác đã được kéo đi.
    Đồng thời quân ở tỉnh kéo đến giúp Cần Vương. Thấy nhiều xác chết và nhiều người bị trọng thương, quân tiếp viện khiếp đảm và quay trở lui. Trận ấy xong, Công giáo đốt cả rơm rạ, cả hàng giậu và điếm canh. Ở xa thấy khói lên đen nghịt trời, nên ai cũng tưởng Trà Kiệu bị đốt.
    Ngày thứ tám, Cần Vương trở lại tấn công nữa. Thừa sai Bruyère lần này kêu gọi tất cả nữ binh Công giáo trong làng xung quân chống lại Cần Vương. Các cô phụ nữ tay cầm mã tấu, tóc bay trước gió, vừa chém giặc vừa hô khẩu hiệu Giêsu-Maria.

    Hình 47: Quyển Hạnh Đức Giám Mục Galibert do giáo sĩ
    Teysseyre biên soạn, xuất bản năm 1887 ở Ba-Lê và Albi. Viết tiểu
    sử của ngài là viết về địa phận Qui Nhơn dưới thời Văn Thân.



    Cần Vương thua trận mà lại thua đàn bà con gái. Chúng lấy làm nhục nhã kéo nhau lên núi Kim Sơn chửi bới người Công giáo cho chán rồi lại tự chửi nhau.58 Sau cùng chúng đồng ý đem đại bác ở tỉnh đến bắn phá họ đạo Trà Kiệu. Chúng cố ý nhắm thừa sai Bruyère là hồn của


    58 Tesseyre, Mgr. Calibert (Paris, 1887), trg 320.
    - Ravier, op. cit., Tập III, trg 581.


    các anh em binh sĩ Công giáo Trà Kiệu, và nhắm nhà thờ, vì nếu nhà thờ đổ, dân Trà kiệu sẽ mất tinh thần.
    Cần Vương đoán thừa sai thường năng ngồi giữa nhà thờ. Chúng bắn vào đó 5 đạn lớn, làm thủng cả nhà rồi chúng reo hò: “Ông Tây chết rồi.” Nghe vậy thừa sai ra đầu hè và trả lời lớn tiếng: “Chưa dễ chết đâu, hãy đến đây mà đánh.” Cần Vương lập tức trả lời bằng một phát đại bác kinh hồn. Cần Vương tuyên bố ai bắt được thừa sai sẽ được thưởng từ 20 đến 30 nén bạc.59
    Có ba lần Cần Vương vào tận đến trung tâm họ Trà Kiệu, gần nhà thừa sai, nhưng may nhờ Đức Mẹ ngài đã thoát chết.
    Trong các súng lấy ở tỉnh, có một súng đại bác cỡ lớn. Chúng để cách xa nhà thờ chừng 200 thước, và một cựu sĩ quan thiện nghệ có trách nhiệm xử dụng súng này. Vậy mà nhà thiện nghệ này bắn trúng nhà thờ chỉ có một lần. Suốt cả ngày hôm ấy và ngày hôm sau, bổn đạo nghe Cần Vương bàn tán với nhau: “Lạ thật, người đàn bà kia đứng trên nhà thờ mãi. Nhắm thế nào cũng không trúng.“ Đôi ba lần Cần Vương cũng thấy một đoàn trẻ mặc áo trắng hay áo đỏ ở trên không, đến đánh giúp bổn đạo.60
    Thừa sai Bruyère sợ Cần Vương bắn nhà thờ sập, nên người họp đại hội đồng và đề nghị việc chiếm đồi Kim Sơn lúc 3 giờ sáng. Vào khoảng nửa đêm, Công giáo nghe tiếng Cần Vương gọi nhỏ ngoài lũy tre: “Này các anh, sang bên rãnh lấy súng này để chúng tôi khỏi canh giữ.
    Đánh nhau mãi như thế này thì chán quá. Các anh không lấy súng, tôi sẽ lăn súng xuống rãnh.”
    Một giờ sau Công giáo nghe một tiếng bõm, dấu chỉ một vật nặng vừa rơi xuống nước, và từ đó không nghe súng ấy bắn nữa.
    Đến lúc 3 giờ sáng binh sĩ Công giáo lặng lẽ tiến đến Kim Sơn. Thừa sai Bruyère ở tại trung tâm Trà Kiệu quan sát tình hình. Người cố ý đứng vào một nơi mà quân giặc có thể trông thấy người dễ dàng. Anh em binh sĩ cắt bờ giậu êm êm rồi tiến về phía đồi. Lúc vừa sáng, thừa sai nhận thấy quân giặc đứng trên đồi, kẻ búi tóc, người khác đang chăm chú quan sát thừa sai.
    Vừa khi ấy, binh sĩ Công giáo đã leo tới đỉnh đồi, thét lên một tiếng dữ dội, đánh đuổi Cần Vương, phá tan các doanh trại và thu được 9 súng lớn và 10 súng hiệp.
    Thất trận Kim Sơn, Cần Vương kéo nhau về núi trọc, một địa điểm hiểm yếu để kiểm soát và ức chế con đường giao thông tiếp tế đến Trà Kiệu.
    Lương thực ngày càng hiếm mà nếu cứ bị vây mãi có ngày dân làng sẽ phải chết đói.
    Thừa sai Bruyère bàn với các chức dịch trong họ nhất định phá vòng vây bằng cách chiếm núi trọc. Cần Vương cũng không chịu thua, và rước một tướng rất thạo về việc tác chiến tên là Tý đến chỉ huy.61 Ngày thứ 14 tức là sau hai tuần Công giáo bị bao vây, tướng Tý kéo quân đến Trà Kiệu đông như kiến cỏ. Được tin, thừa sai đem quân ứng chiến một trận dữ dội. Quân của Tý quay lưng trở lui chạy tán loạn mặc dù tướng Tý hò hét nhảy múa thúc quân và chắn lối rút lui.
    Chỉ độ 10 binh sĩ ở lại hộ vệ tướng Tý. Lúc binh sĩ Công giáo xông đến gần, tướng Tý cũng muốn chạy trốn nhưng đã muộn quá. Tý bị chém và đầu được mang về Trà Kiệu.
    Cần Vương vẫn chưa chịu thua, chúng đem voi đến xáp trận. Binh sĩ Công giáo, nhất là các nữ binh sĩ sợ hú hồn. May có một thanh niên lanh trí cầm bó đuốc xông vào, làm chú voi thấy lửa sợ, đâm đầu chạy bán sống bán chết. Sau trận này, Cần Vương đem bộ tham mưu đóng trong một ngôi chùa.

    59 Tesseyere, op. cit., trg 320. Khoản này trị giá từ 18.000 dến 20.000 phật lăng.
    60 Tesseyere, op. cit., trg 321.
    - Ravier, op. cit., Tập III, trg 588.
    - Compte Rendu des Missions Étrangères (Paris, 1885): “Bruyère fut attaqué par 10.000 rebels.”
    61 Ravier, op. cit., Tập III, trg 589.

    Ngày 21, binh sĩ Công giáo được lệnh tiến đánh núi Trọc. Đình chùa, miếu, nhà các sư bốc cháy ngùn ngụt và dân bên lương lầm tưởng là dân Công giáo báo thù. Họ không biết rằng những nơi đốt phá là đại đồn của Cần Vương.62
    Tả sao xiết nỗi hân hoan vui mừng của anh em Công giáo Trà Kiệu sau cuộc đại thắng này. Đến tối, họ lũ lượt kéo nhau đến quây quần chung quanh ảnh Đức Mẹ, cám ơn Đức Mẹ đã cứu họ qua khỏi những phút mờ tối nguy nan.
    Nhưng đâu phải nơi nào cũng chống Cần Vương như Trà Kiệu. Những nơi không kháng cự, phần đông bị giết. Nguyên giáo phận Qui Nhơn có đến 24.298 giáo hữu bị Cần Vương tàn sát, chỉ còn sót lại 20.000 người.63
    Ngày 6-9-1885, Cần Vương chiếm An Ninh (Quảng Trị) và kéo nhiều quân vây tất cả các họ đạo. Lần lượt giáo hữu tại các họ Trinh Cát, Nhu Lý, Bố Liêu, Đầu Kênh, Đại Lộc, Dương Lộc, Thanh Hương, Kẻ Văn, Cam lộ, Mai Xá Rú, VạnThiện, Bái Sơn, An Hào, Di Loan, An Ninh và An Bằng đều bị Cần Vương sát hại.64

    C. Chủng Viện An Ninh 65

    Ngày 10-9-1885, dân làng Tùng Luật, dưới sự đốc xuất của Cần Vương vây đánh họ Di Loan và chủng viện An Ninh. Vì thất bại, Cần Vương đốt nhà thờ An Ninh ở tận ngoài lũy thành chủng viện. Đang lúc hai bên còn giao chiến, thừa sai Héry ở Đồng Hới gởi đến súng ống và đạn dược để giữ nhà trường.
    Đại đồn của Cần Vương ở Tân Sài lúc nào cũng gồm 3.000 quân và nhờ những làng bên lương lân cận tiếp ứng. Ban đầu số giáo dân cường tráng chống chọi với Cần Vương có độ 800, và con số này càng lâu càng giảm vì giáo dân chết dần mòn.
    Ngày 12-9-1885, Cần Vương đánh Di Loan và An Ninh cùng lúc để hai bên không thể giúp nhau. Di Loan bị đánh ráo riết hơn vì Cần Vương biết rằng ở đó giáo dân không có đạn dược và lũy ải. Thừa sai Dangelzer lúc ấy ở Di Loan ra lệnh cho giáo dân chạy về An Ninh vào lúc 6 giờ chiều, nhưng vì mưa rào làm tắt đuốc, nên Cần Vương xông đánh không được.
    Ngày Chúa Nhật 13-9-1885, Cần Vương phá bình địa Di Loan. Giáo dân tại An Ninh thừa cơ ấy tu bổ lũy ải. Nơi đây có 5 linh mục Việt Nam, 3 thừa sai, 7 chủng sinh, 60 bà phước và 4.000 giáo dân. Mỗi chủng sinh chỉ huy một đại đội. Lương thực chỉ có thể dùng trong 20 ngày, còn đạn dược sắp hết. Trên tháp nhà thờ, mỗi đêm có người canh giữ để phòng ngừa quân giặc đến đánh thình lình và báo cho biết hành động của địch.
    Ngày 15-9 và những hôm sau, Cần Vương chuẩn bị một cuộc tấn công lớn lao. Họ nhận được khí giới và đạn dược của đồn Cam Lộ. Các làng lương cũng đến hỗ trợ và đem rơm, tre để đốt rào. Bên trong giáo dân chờ đợi, sẵn sàng ứng chiến. Bốn giờ chiều, Cần Vương phóng hỏa, reo hò inh ỏi và vượt qua lũy ải xông vào không chút khó khăn. Trong giây phút nghiêm trọng, ba tiếng trống hiệu trổi lên làm dấu hiệu cho tất cả giáo dân tung gươm giáo, nhảy ra và chém giết Cần Vương túi bụi. Cần Vương chạy lui về đồn, để lại nào thuốc đạn, súng ống, lương thực, và 85 xác.

    62 Geoffroy - Julien, Mep, Une Page de la Persecution en Cochinchine - Les Mis-sions Catholiques (1886), trg 420,
    443-444.
    63 Jabouille, Một Trang Huyết Lệ Trong Lịch Sử Tỉnh Quảng Trị 9-1885 (Hà Nội, 1941).
    - Ravier, op. cit., Tập III, trg 539 ghi: “Ở giáo phận Đông Đàng Trong (tức là giáo phận Qui Nhơn) mất hai vạn tư bổn đạo vì Cần Vương giết.”
    64 Nguyễn Văn Hội, Lịch Sử Giáo Phận Huế (Huế, 1993), trg 338-376.
    65 Ravier, op. cit., Tập III, trg 593-598.
    - Launay, La Société des Missions Éùtrangères Pendant la Guerre du Tonkin, trg 72-79, Paris, 1865.
    - Jabouille, op. cit., trg 53-59.


    Ngày 2-10-1885, quân Pháp đánh chiếm đại đồn ở Tân Sài. Cần Vương mất căn cứ, không còn có sức đem quân đánh chủng viện An Ninh và cũng nhờ thế, anh em Công giáo được cứu thoát.

    D. Dương Lộc66

    Đầu tháng 8-1885, dân Công giáo thuộc các làng Triệu Phong, Quảng Trị bị khủng bố nên một số chạy về Dương Lộc ẩn núp làm tăng số giáo dân Dương Lộc lên gần 3.000 người.
    Trong số đó có 4 linh mục: cha Nguyễn Ngọc Tuyên, cha sở Dương Lộc; cha Trần Ngọc Vịnh, cha sở Đại Lộc, ông cùng giáo dân chạy về tỵ nạn tại Dương lộc; cha Đoàn Trinh Khoan, cháu ruột của thánh Đoàn Trinh Hoan, cha sở họ Nhu Lý; và cha Lê Văn Huân, cha phó Nhu Lý đưa giáo hữu và 65 nữ tu Mến Thánh Giá về tỵ nạn tại Dương Lộc.
    Lúc các làng ở xa bị tàn phá rồi, Cần Vương kéo đến Dương Lộc. Tuy nói là danh nghĩa Cần Vương, nhưng đoàn quân đó chẳng khác nào bọn cướp vì chúng đều đi cướp bóc tài sản và tàn sát giáo dân. Giáo hữu ở Dương Lộc cũng như ở Bãi Nham, Trà Kiệu, An Ninh chiến đấu tự vệ trong ba ngày liền. Quân Cần Vương không thể tiến sát vào nhà thờ được. Trận chiến ác liệt bắt đầu từ ngày 6-8 đến ngày 8-8. Vì vô ý, một giáo dân bên trong để quên cái thông nòng đàng trước nòng súng nên khi bắn, cái thông nòng bay ra ngoài. Quân giặc bèn bảo nhau bên trong hết đạn, rồi chúng tập trung lực lượng dùng thuốc, lửa, rơm, dầu, v.v. ném vô đốt cháy nhà thờ và ùa vào tàn sát dân vô tội. Hôm đó là ngày 8- 8-1885. Số người bị giết tập thể tại Dương Lộc là 2.500 giáo hữu, 50 nữ tu và 4 linh mục nói trên.
    Cuộc thiêu sát đã được những người sống sót kể lại là rất dã man rùng rợn trong khu vực nhà thờ và chung quanh lan ra tận các đường kiệt, các hào tre. Toàn làng đều bị đốt, nhà cửa tài sản bị cháy rụi, hoặc bị cướp bóc, vơ vét mang đi hết. Tất cả người bên trong nhà thờ, đàn bà con nít đều bị chết cháy hoặc bị chém, bị đâm. Một số người từ nhà thờ chạy ra cũng bị giết, có người bị thương, sau một hai ngày mới chết. Thịt máu tanh hôi thối tha tràn lan ra cả một vùng.
    Một số người sống sót, mình bị phỏng, lê lết qua các ngã đường trốn vào bụi cây, ruộng lúa. Có người mang thương tích đi ăn xin.
    Tại Dương Lộc Nam số người bị thương còn sống sót được kêu gọi tập trung lại một nơi để được giúp đỡ, được cho ăn uống và được săn sóc thuốc men. Khoảng 250 người tụ tập trước nhà thờ, thì bất thình lình bị dân ngoại giáo đến bao vây, giết chết và thiêu sống tại chỗ. Ngày nay ở đó còn ngôi mộ tập thể của họ.
    Các làng lân cận với Dương Lộc như Nhu Lý, Bố Liêu, An Lộng, An lộc, Phúc Lộc, Đại Lộc, Trí Bưu đều có lăng các tử đạo năm 1885. Riêng làng Công giáo Đại Lộc cách Dương Lộc một cây số, giáo dân tản mát khắp nơi. Người chạy trốn ở vùng cận sơn Lai Phước, kẻ chạy về Dương Lộc, và một số bị bắt dẫn đến nhà một người họ Trần ở làng Dương Lộc Đông, sau đó bị đem ra giết. Xác của những nạn nhân đó được bà con còn sống sót đem về chôn tập thể tại Đại Lộc và lập bia kỷ niệm.67 Sau năm 1885, số người Công giáo ở Đại Lộc còn sống sót đông hơn các nơi khác ở Quảng Trị, nên Đại Lộc trở thành trung tâm Công giáo. Nơi đó có một linh mục,
    phụ trách các xứ Đại Lộc, Dương Lộc, Phú Lộc và Đông Giám.
    Làng Dương Lộc sau năm 1885 chỉ còn vài người sống sót. Cảnh tượng làng đầy vẻ điêu tàn, tang thương kéo dài mãi mấy năm trời. Một ngôi mộ tập thể với một nhà nguyện nhỏ được
    xây cất lên tại nơi máu các thánh tử đạo đã đổ ra. Hằng ngày các người Công giáo đến đây cầu nguyện.68


    66 Tài liệu đánh máy của giáo sư Nguyễn Lý Tưởng.
    67 Ông Lê Thiệu (1866-1970) người làng Đại Lộc đã kể lại chi tiết này.

    68 Trước năm 1945, Lm. Huỳnh Văn Hào đã xây một đền thờ kính các thánh tử đạo; đây là di tích lớn nhất ở Việt Nam về tổng số người chết tử đạo và có công trình kiến trúc quy mô

  7. Được cám ơn bởi:


  8. #5
    teenvnlabido's Avatar

    Tham gia ngày: May 2011
    Tên Thánh: Giuse
    Giới tính: Nam
    Đến từ: HCM city
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 927
    Cám ơn
    1,503
    Được cám ơn 2,005 lần trong 603 bài viết

    Default

    http://www.mediafire.com/download/rfol6mdy597szev/[123doc]+-+tai-lieu-chuong-hai-muoi-bay-trieu-dinh-hue-truoc-hai-giong-tu-tuong-lac-hau-va-tien-bo-pptx.rar



    CHƯƠNG HAI MƯƠI BẢY
    TRIỀU ĐÌNH HUẾ TRƯỚC HAI GIÒNG TƯ TƯỞNG:
    LẠC HẬU VÀ TIẾN BỘ

    Đang lúc đất nước Việt Nam trải qua những ngày đen tối, do việc Pháp chiếm đóng Gia Định năm 1862 và Thăng Long thất thủ năm 1873, thì Giáo Hội Công Giáo Việt Nam cũng phải trải qua những ngày đau thương do triều đình Huế, Văn Thân và Cần Vương gây nên. Họ tàn sát hàng chục nghìn người Công giáo viện cớ là Công giáo theo Tây.1

    Trong hoàn cảnh bi đát như vậy, một số người can đảm biểu lộ sự thật, nói lên tiếng nói lương tâm cho triều đình và nhân dân Việt Nam rõ lập trường cứu nước thương dân của mình.
    Nhưng triều đình lạc hậu, mù quáng, cố chấp, cứ một mực thi hành đường lối khát máu đối với giáo dân và người ngoại quốc. Đường lối đó đưa đến sự sụp đổ hoàn toàn của đất nước và đưa người dân Việt Nam vào vòng nô lệ của thực dân Pháp.
    Lúc bấy giờ xuất hiện hai tư tưởng chống đối nhau. Một bên là các nho sĩ gồm các vua chúa phong kiến của triều đình cùng những sĩ phu Văn Thân và Cần Vương hiếu chiến. Họ tự đắc tự mãn với những bằng cấp kiến thức nho học của mình. Do đó bàn đến quốc sự, họ chỉ biết đến Nghiêu, Thuấn, Hạ, Thương, Chu của Trung Quốc. Hạng người này lại có quyền bính trong tay, cai trị đất nước bằng cách ngâm thơ, vịnh phú, rung đùi bên tách trà sen thơm nóng, rồi khi
    đứng, khi ngồi, khi tỉnh, khi say mà tưởng mình là nhất thiên hạ, không ai văn minh hơn mình, không ai hùng mạnh hơn mình,2 và cho thiên hạ là man di mọi rợ, chính đang lúc thiên hạ tiến một bước dài trên việc mở mang thương mại, công nghệ, cơ khí và khoa học kỹ thuật.
    Đại diện cho nhóm nhà nho bảo thủ có thế lực là Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức và ông đồ nho Nguyễn Đình Chiểu, là người rêu rao việc tiêu diệt Phật Giáo và Gia Tô giáo để làm vinh quang cho Nho giáo.3
    Đối chọi với nguồn tư tưởng lạc hậu phong kiến trên là nguồn tư tưởng phóng khoáng, tiến bộ, đòi canh tân xứ sở cấp tốc không thì mất nước. Tư tưởng này do người Công giáo chủ trương mà đại diện nổi bật là linh mục Đặng Đức Tuấn, Nguyễn Trường Tộ, Pétrus Trương Vĩnh Ký, và một số người Công giáo khác.
    Người Gia Tô giáo trí thức lúc bấy giờ, trước sự tiến bộ của khoa học phương Tây, mở to đôi mắt để quan sát học hỏi. Họ là nhóm người duy nhất đi du học nước ngoài, hoặc chính họ không đi học thì họ gởi con cái đi, như trường hợp của thánh Hồ Đình Hy,4 của y sĩ Xuân. Ngoại trừ Nguyễn Trường Tộ, thì Linh mục Đặng Đức Tuấn, giáo sư Hán văn tại Pénang trong 10 năm, Trương Vĩnh Ký và biết bao người Công giáo khác vào thế kỷ XVIII, XIX5 như các linh mục
    Vinh Sơn Liêm, Gioan Thi Công, Phêrô Gioan Huy (6) tốt nghiệp tại Đại Học Thánh Thomas ở Manila, Philippines. Du học tại Pénang, Malaysia có Phan Văn Minh, Hồ Đình Thịnh, Lê Văn Lộc, Đoàn Văn Quy, Lê Văn Huấn,7 Trần Ngọc Vịnh,8 Đoàn Trinh Hoan, Đoàn Trinh Khoan;9 và du học Pháp có Nguyễn Ngọc Tuyên.10

    1 Xem Chương Hai Mươi Lăm.
    2 Thời nay Cộng Sản Việt Nam cũng tự gán cho mình đỉnh cao trí tuệ loài người.
    3 Nguyễn Đình Chiểu, Dương Từ Hà Mậu (Long An, 1982), trg 12. Trong thời kỳ này Nho giáo được cho là chính
    đạo. Xem:
    - Chương Mười Sáu.
    - ĐNTL - ĐIIK, Dưới Triều Minh Mạng, Tập 17, trg 244, Hà Nội.
    4 Lm. Hồ Đình Thịnh, con của Hồ Đình Hy, được gởi đi học Pénang. Con của y sĩõ Xuân tử đạo cũng đuợc gởi đi
    học ở Pénang. Trương Bá Cần và Quốc Oai trong Nguyệt San Công Giáo và Dân Tộc, số 657-663, 1988 lên án việc
    Hồ Đình Hy gởi con đi du học là một tội chính trị!
    5 Nhằm canh tân hóa quốc gia trong các lãnh vực xã hội, kinh tế và quốc phòng.
    6 Bùi Đức Sinh, Dòng Đaminh Trên Đất Việt (Sài Gòn, 1993), Tập I, trg 83.


    Vào thời gian này, các quan ở triều Nguyễn không có lấy một người đi du học thì làm sao mà trông xa thấy rộng. Nhãn giới của họ không vượt quá bốn bức tường dầy đặc và đen tối của kinh thành Huế. Hầu hết những người đi du học có tên ở trên đều bị triều đình Huế, Văn thân hoặc Cần Vương giết sạch. Cũng có dư luận rằng Nguyễn Trường Tộ bị đầu độc mà chết.11
    Phong trào đổi mới do Nguyễn Trường Tộ chủ xướng được nhiều đồng bào trí thức trong nước hưởng ứng như Nguyễn Đức Hậu, Nguyễn Điền, Nguyễn Hiệp, Đinh Văn Điền12, Lê Đĩnh,
    Phan Liêm13, Bùi Phùng và Cao Bá Quát14.
    Tất cả đề nghị cải cách của những người trí thức nà cũng như của Nguyễn Trường Tộ đều bị đình thần cản trở.15

    I. LINH MỤC ĐẶNG ĐỨC TUẤN
    1. Tiểu Sử
    Đặng Đức Tuấn16 sinh năm 1806 tại Bồng Sơn, Bình Định, đã tỏ ra là một người thông Nho. Dưới triều Minh Mạng và các vua chúa kế vị sau xảy ra liên tiếp nhiều cuộc cấm đạo, nên Giáo hội không thể tổ chức chủng viện ở trong nước mà đành phải gởi các thanh niên đi du học ở Pénang, Malaysia.
    17 Lm. Lê Văn Huấn sinh năm 1840 tại An Vân, Thừa Thiên, con ông lý trưởng Lê Văn Khuê (ông bị đày ra Lạng Sơn và chết vì đạo tại đây năm 1861). Cha Huấn học tại Pénang từ năm 1864-1870, chịu chức linh mục 1882 và làm phó Nhu Lý năm 1883. Năm 1885, cha Huấn theo cha Khoan từ Nhu Lý về Dương Lộc với giáo hữu và 65 nữ tu.
    Cha bị Cần Vương giết ngoài nhà thờ ngày 8-9-1885 và được an táng trong lăng tử đạo Dương Lộc.
    8 Lm. Trần Ngọc Vịnh sinh tại Mậu Tài, Phú Vang, Thừa Thiên, con quan tham tri Trần Ngọc Giao, học tại Quốc Tử Giám và tại Pénang từ 1864-1870. Được cử làm cha sở Đại Lộc. Lúc Cần Vương nổi lên, cha Lộc từ Đại Lộc chạy về Dương Lộc tỵ nạn, bị thiêu sát với giáo dân trong nhà thờ ngày 8-9-1885.
    9 Lm. Đoàn Trinh Khoan, cháu ruột của thánh Đoàn Trinh Hoan, học tại chủng viện Pénang, chịu chức linh mục tại Huế năm 1863 và được cử làm cha chính xứ Nhu Lý. Năm 1885, cha đưa nữ tu và giáo hữu Nhu Lý về Dương Lộc tỵ nạn. Cha bị thiêu sát cùng với giáo hữu trong nhà thờ Dương Lộc ngày 8-9-1885.
    10 Lm. Nguyễn Ngọc Tuyên sinh tại Phụ Việt, Quảng Bình năm 1829, học Mans, Pháp, thụ phong linh mục tại Pháp 1864. Cha là giáo sư Pháp văn tại Thượng Bạc, Huế và được bổ làm tham biện Hải Phòng. Năm 1880 về làm cha sở Thợ Đúc rồi An Truyền và Dương Lộc, bị Cần Vương giết tại Dương Lộc ngày 8-9- 1885.
    Trừ hai linh mục không bị giết là Đặng Đức Tuấn và Hồ Đình Thịnh.
    14 Cao Bá Quát, năm 1843, táp tùng phái bộ Đào Tri Phú sang Singapore. Ông đã bàng hoàng nhận định về cường
    thịnh của người và hèn yếu của mình, và cũng đã từng than thở,
    Nhai văn nhá chữ buồn ta
    Con giun còn biết đâu là cao sâu
    Tân gia từ vượt con tàu
    Mới hay vũ trụ một màu bao la
    Giật mình khi ở xó nhà
    Văn chương chữ nghĩa khéo bè trò chơi
    Không đi khắp bốn phương trời
    Vui đầu án sách uổng đời làm trai
    11 Đào Trinh Nhất, Phan Đình Phùng (Sài Gòn, 1950), trg 29 (1, 2).
    12 Lê Thành Khôi, Le Việtnam Histoire and Civilisation (Paris, 955), trg 364.
    13 Ibid, trg 365.
    15 Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược (Sài Gòn, 1954), trg 474.
    16 Nguyễõn Tài Thư, Cao Bá Quát, trg 130 viết theo Vũ Ngọc Nhã, Đặng Đức Tuấn, Tinh Hoa Công Giáo Ái Quốc
    Việt Nam (1970).
    - BAVH Le traité de 1862.

    Chủng viện Pénang nhận đào tạo các chủng sinh từ các nước Á đông như Việt Nam, Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bổn, v.v... Ngoài những môn cần thiết phải học để có thể thụ phong linh mục, các sinh viên Việt Nam phải học thêm Hán Văn vì môn này rất quan trọng lúc trở về truyền giáo. Theo lời yêu cầu của nhà trường, Giám mục Cuénot Thể gởi Đặng Đức Tuấn đi Pénang với tư cách là giáo sư Hán văn. Tại đây, vừa dạy Hán văn, ông vừa học thêm các tiếng như La tinh, Pháp và Anh văn. Sau 10 năm xuất dương, ông trở về nước và được thụ phong linh mục tại Gò Thị bởi tay Giám mục Cuénot Thể. Sau đó ngài coi sóc địa sở Châu Me và Trung Tín được 6 năm thì chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ dữ dội ở Cửa Hàn và Gia Định. Trong lúc đó triều đình Huế lại ra lệnh bắt giam tất cả các người theo Gia Tô giáo, và đánh phá cướp bóc các nhà thờ, nhà xứ. Cha Tuấn phải lánh xa Quảng Ngãi trở về Bình Định rồi sau lại trở ra Quảng Ngãi.
    Trên đường bôn tẩu, nhiều lúc cha Tuấn ghé vào nhà người bên lương mà vẫn được tiếp đãi tử tế vì lúc trước cha có dạy Hán văn, được tử sĩ Bình Định và Quảng Ngãi kính trọng.
    Đối với Tự Đức và triều đình, đạo Gia Tô là đạo dị đoan, là tà thuyết mê hoặc nhân dân, đào tạo nên những phần tử phản quốc và a tòng theo giặc. Muốn sửa đổi những quan niệm sai lầm ấy, linh mục Đặng Đức Tuấn làm một tập điều trần bày tỏ căn nguyên và những điều hiểu lầm về Công giáo. Cha thường phải luôn bôn ba chẳng nơi định kỳ vì triều đình đang truy nã các linh mục ráo riết. Cuối cùng cha bị bắt tại Nghĩa Mân và bị giải đến huyện Mộ Đức. Sau khi hỏi cung, quan huyện soát trong người cha Tuấn, gặp một tập điều trần 6 trang. Trước những lời nói hùng hồn can đảm, lý lẽ gắt gao, quan huyện đoán ngay tông tích của ngài. Đến tối quan lại đòi
    cha ra để hỏi chuyện và người nhìn nhận mình là linh mục. Quan huyện làm giấy đem Cha Tuấn lên tỉnh đường.
    Quan Bố và quan án truyền cho cha Tuấn bước qua Thập giá, nhưng cha từ chối. Cũng vào thời kỳ này có hai quan ở Huế đến quan sát tình hình địa phương. Tỉnh đường trình 6 trang điều trần của cha Tuấn cho các quan xem, và các ông phê: ”Điều trần phân minh, phải gởi lên
    triều đình.” Tiếp đó, hai quan thanh tra gặp cha Tuấn và truyền cởi gông xiềng. Tỉnh đường gởi bản điều trần và lời khai của cha Tuấn về Cơ Mật để dâng cho Tự Đức. Nhờ bản điều trần minh bạch của cha Tuấn mà sự ác cảm đối với Công giáo được dịu bớt phần nào. Năm hôm sau có chỉ truyền cha Tuấn ra Kinh và mỗi tỉnh phải bổ quân đón ngừa và một số quân 30 người đưa dọc đàng từ địa phương này đến địa phương khác. Giải đến Huế vừa xế chiều, tiếng đồn khắp gần xa, nên dân kinh thành đổ xô đến xem rất đông. Cha Tuấn được dẫn đến Bộ Binh và hội kiến nhiều quan thượng như Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp. Các quan lớn nhỏ ngồi hai hàng nghiêm trang oai vệ. Cha Tuấn ngồi chính giữa điện, trên một chiếc chiếu bông trải trước mặt các quan văn võ triều đình.
    Phan Thanh Giản chủ tọa buổi hội thảo và bảo rằng: “Nay vua truyền mời đạo trưởng về triều để xét hai điều. Thứ nhất trong đạo Gia Tô có nhiều điều khó hiểu. Thứ hai là do nguyên cớ gì mà tây dương đến đây quấy rối làm ngang. Thầy cứ sự thật tường khai.”
    Cha Tuấn phân giải cặn kẻ hai câu hỏi của Phan Thanh Giản, và kết thúc bằng cách cắt nghĩa thêm về hai vấn đề quan trọng khác đã gây bao tai hại lớn lao trong thời kỳ bấy giờ.
    Phan Thanh Giản truyền cho cha viết vào giấy nạp Bộ, rồi bãi triều. Quân đưa cha về ngục thất chờ lệnh trên. Qua hôm sau Phan Thanh Giản đòi cha Tuấn vào hỏi lâu giờ, rồi mời nước thết đãi lịch thiệp. Phan Thanh Giản cho biết trong triều có nhiều quan có ác cảm và hoài nghi với đạo. Ý triều đình và nhà vua cũng muốn làm lơ nhưng các tỉnh cứ đệ sớ tâu xin khắc khe với đạo. Ông khuyên cha hãy nhẫn nại chờ đợi trong lúc nhà vua cứu xét bản điều trần.
    Ngay sau lúc đọc xong bản điều trần, Tự Đức hạ lệnh mở gông, giải xiềng và ban thưởng cho cha Tuấn. Thừa ân huệ, người lập tức đi thăm các bổn đạo bị cấm cố ở Thừa Phủ, Cung Quán, Trấn phủ và Khám đường. Các lao tù thời ấy chật ních những giáo hữu sau sắc dụ phân tháp năm 1860.
    Ở Gia Hội có một bà góa Công giáo tên là Trần Ngọc Giao, thân mẫu của linh mục Trần Ngọc Vịnh. Cha Vịnh được phúc tử đạo vào đời Văn Thân. Bà nhờ rể hiền là ông Kiến Thoại, một quan lớn trong triều, nên khỏi phải đi phân tháp. Giữa lúc cấm cách nhiều vị linh mục trú ẩn ở nhà bà trá hình làm tôi tớ. Một hôm cha Tuấn đến thăm bà, thấy một khuôn mặt hơi quen nơi một cậu trai với bộ áo nâu bưng trà tiếp khách. Cậu ấy là linh mục Martino Nguyễn Văn Thanh
    (An Vân).17 Hai linh mục nhìn nhau nỗi lòng đau đớn.
    Bản điều trần khiến Tự Đức phân vân. Nhưng nhà vua càng trì hoãn quyết định thì tình thế càng nguy ngập. Miền Nam bị chiếm, miền Bắc bị loạn. Để giúp Tự Đức, cha Tuấn soạn thêm hai tập điều trần. Tháng 3-1862, cha dâng hai tập điều trần ấy và Tự Đức thuận theo những lời yêu cầu. Ông hạ chỉ tha nam phụ lão ấu, cho họ lui về quê quán. Thế là vấn đề phân tháp được bãi bỏ dứt khoát.
    Thượng tuần tháng 3, tàu Pháp ra Huế, yêu cầu ký kết hòa ước với Việỉt Nam. Triều đình hội đàm bàn tính không biết phải cử ai đi làm đại sứ. Lâm Duy Hiệp mời cha Tuấn dò ý kiến, và cha trả lời rằng: ”Trình quan lớn, xin quan lớn dâng sớ tâu Hoàng đế ủy quan lớn vào Đồng Nai, và tôi sẽ tùng hành với ông. Tôi quả quyềt không ai dám làm gì. Hòa được thì tốt, không thì lui ra.” Lâm duy Hiệp vào nội tấu, vua ban sắc hạ y như lời xin.
    Từ ngày ấy cha Đặng Đức Tuấn được phép ra vào Tả Viện và Hoàng Thành để thương thuyết bàn bạc với hai ông Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp. Ngày 22-5-1886, chiếc tàu Hoàng gia Việt Nam rời Thuận An đến Sài Gòn. Lúc hoà ước ký xong, cha Tuấn có đến thăm
    Giám mục Lefèbvre ở Gia Định. Sau đó cha về Bình Định, và mỗi khi cần hỏi ý kiến, Tự Đức lại xuống chỉ triệu cha về Huế. Nhờ cha mà triều đình giảm bớt ác cảm với đạo và biết rõ quan niệm chân chính ái quốc của người Công giáo. Cha Đặng đức Tuấn mất năm 1874 tại địa sở Chánh Khoan, Phù Mỹ, Bình Định.
    2. Sự Nghiệp
    Tác phẩm lớn của cha Tuấn gồm hai thi phẩm trường thi có liên quan đến quốc sử là Việt Nam Giáo Sử Diễn Ca và Lâm Nạn Phụng Quốc Hành.
    A. Việt Nam Giáo Sử Diễn Ca
    Việt Nam Giáo Sử Diễn Ca là quyển sử biên niên, lược thuật sự thăng trầm của Công giáo Việt Nam suốt 3 thế kỷ từ 1528 đến 1874.
    B. Lâm Nạn Phụng Quốc Hành
    Lâm Nạn Phụng Quốc Hành là một hành khúc ghi lại 4 sự kiện bản thân gồm có bản thân lâm nạn vì chỉ dụ cấm đạo, phụng chỉ đến kinh đô để điều trần việc cứu quốc, nam du nghị hòa, và giải nạn cho các giáo hữu.
    Tại kinh đô, cha Tuấn đàm thoại với quan Thượng thư Bộ binh Lâm Duy Hiệp về giáo lý và chứng minh việc Pháp quấy rầy ở Cửa Hàn năm 1856-1857 không liên quan đến Công giáo.
    Cha viết:
    Đạo mà nội ứng với tàu Lang Sa
    Thì khi tàu ấy mới qua
    Kéo nhau bỏ xứ chạy hoà theo Tây.

    17 Nguyễn Văn Hội, Lịch Sử Giáo Phận Huế, trg 274, Huế, 1993. Bốn linh mục đang trốn tại nhà bà Trần Ngọc Giao
    là cha Anrê Nguyễn Văn Lành, cha Anrê Nguyễn Van Thoại, cha Tađêô Phan Văn Thân và cha Martinô Nguyễn
    Văn Thanh.

    Sau đó cha Tuấn quả quyết lòng trung thành đối với quốc gia của người Công giáo. Họ là một công dân của đất nước, tuân giữ các luật lệ và nghĩa vụ cũng như các công dân khác:
    Phụng công thủ pháp mọi đường
    Binh thuế như chúng kiều lương như người18
    Đạo chẳng dám xuất, bỏ đi,
    Là trọng Thiên Chúa, đâu vì Lang sa!19
    Tháng 5-1862, phái đoàn Việt Nam gồm Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp, Đặng Đức Tuấn vào Gia Định dự hội nghị với Pháp và Espanha. Theo như cha Tuấn thuật lại trong Nam Du Nghị Hòa, tàu Loan Phụng ra cửa Thuận An, có tàu Forbin của Pháp đón tiếp, cột giây kéo vào Gia Định. Dân chúng Nam Kỳ nghe tin tàu vua đến, ra đứng bờ sông trông đợi, tỏ tình quyến luyến phái đoàn. Quang cảnh thành Gia Định bấy giờ khác hẳn năm xưa: ngoại kiều đông đảo, phố xá nghinh ngang. Phái đoàn Việt Nam đến đất cũ của mình mà như đặt chân lên một miền xa
    lạ. Hội nghị giảng hoà khai diễn ngày 6-5-1862, một bên là Pháp và đồng minh Espanha, và bên kia là Việt Nam. Pháp đòi bồi thường khoảng 5 triệu đồng và cắt giao trọn 6 tỉnh Nam Kỳ. Phan
    Thanh Giản cùng Lâm Duy Hiệp thấy điều kiện giảng hòa khá nặng, nên hỏi ý kiến cha Tuấn:
    Phan, Lâm đòi Tuấn hỏi han:
    Tây xin nhiều quá, Tuấn bàn làm sao?
    Tuấn rằng: ”Ông lớn lượng cao,
    Đòi bồi thì chịu, đừng giao tỉnh thành.”20
    Giáo luật Công giáo bắt buộc giáo dân phải tuân giữ các lề luật quốc gia như người công dân khác, không thể là một Công giáo tốt nếu không phải là một công dân tốt. Những tư tưởng này Đặng Đức Tuấn có dịp trình bày cho triều đình lần trước trong 2 tập điều trần. Chính hai tập điều trần này vẫn còn tồn tại. Tập thứ I là Hoành Mao Hiến Bình Tây Sách và tập thứ II là Minh Đạo Bình Tây Sách. Cha Tuấn biên soạn 6 bản điều trần nhưng bây giờ chỉ còn 2 bản quan trọng
    này.21 Trong lúc bị bắt giải đi, cha Tuấn để 2 tập điều trần này trong túi hành lý.
    C. Hoành Mao Hiến Bình Tây Sách22
    Đây là Sách Lược Bình Giặc Tây Của Một Kẻ Sĩ ở Nhà Tranh. Trong bản điều trần này cha Tuấn chỉ đề cập đến 2 việc thiết yếu là kế hoạch bình Tây và sách lược chiến thắng Tây.
    - Kế Hoạch Bình Tây
    Về kế hoạch bình Tây thì phải biết Tây là ai? Binh pháp cơ bản là biết người biết ta, trăm trận đánh không mỏi mệt. Bọn Mọi Biển 23 rất là mạnh dữ, tinh nhuệ, rất giỏi nghề bắn súng, và thuốc súng của chúng rất mãnh liệt. Đánh nhau trên sông, trên biển hay trên đất liền, chúng đều giở hết những sở trường của chúng là đánh trên biển, chiến thuyền và hỏa thuyền của chúng lui tới rất lanh, không ai ngăn chặn được. Chính thế mà Mọi Biển vùng vẫy khắp nơi, được tiếng vô
    địch từ lâu. Đến nơi nào cũng thắng như tại các nước A-lập-Bá, Angiêri, Amédia ở bên đất Tây, và các nước Đại Thanh, Xiêm La, Triều Tiên, Nhật bản ở bên đất Đông. Hễ bọn Giặc Biển đến là
    chúng gây ra mối họa chiến tranh, chiếm đất giữ thành theo kiểu chim tu hú đẻ nhờ ổ quạ.
    18 Giáo dân vẫn đi lính, đóng thuế cho triều đình, những việc công ích như làm cầu làm đường, giáo dân đều vâng chịu như lương dân, không bao giờ dám khinh lệnh của triều đình.

    19 Võ Ngọc Nhã, Đặng Đức Tuấn (Sài Gòn, 1970), trg 73.
    20 Ibid, trg 159.
    21 Ibid, trg 125.
    22 Ibid, trg 223.
    23 Lính viễn chinh Pháp.

    Binh của chúng ta tuy nhiều, nhưng chưa chắc mạnh mẽ tinh nhuệ bằng binh của chúng, chưa chắc giỏi nghề bắn súng bằng chúng, thuốc đạn của chúng ta chưa chắc mau chóng, dữ dội bằng thuốc đạn của chúng. Vì cớ đó mà chúng lấn được vào bờ cõi ta, dám chiếm đất vua, sang đoạt thành trì, chỉ vì binh ta yếu kém hơn mà thôi. Nay muốn xua chúng ra biển, khôi phục đất đai Gia Định, ắt phải lo liệu việc binh ngoài cách thức thông thường, không thể vịn vào lối cũ.
    Cái đạo dùng binh là theo tình thế của quân địch mà ứng chiến, không thể bo bo theo kiểu như xưa được. Do đó chúng ta cần lưu ý đến 3 điều thiết yếu sau:
    Điều 1 là tuyển lính. Những người cường tráng, từ 20 tuổi trở lên và từ 40 tuổi trở xuống
    cần được chiêu mộ. Thời gian phục vụ là 5 năm. Số lính ở quân ngũ được hưởng lương tiền gấp đôi lần trước. Binh lính đều được miễn mọi siêu dịch như việc chặt cây xúc đất. Như thế là cốt cho quân lính cường tráng tăng thêm nhuệ khí chiến đấu và tập luyện tinh tuyền thuần thục cơ thể để chống nhau với kẻ thù. Bọn Giặc Biển sẽ phải thua!
    Điều 2 là thao diễn chiến pháp. Phép thao diễn không gì quan trọng hơn việc tập bắn súng.24 Lũ lính trên các chiến thuyền giặc Biển bắn súng rất giỏi. Quả thực bọn chúng đối với ta là kẻ thù cách nhau một trời một vực, đâu phải chuyện tầm thường. Nếu chúng ta cứ dùng cái lối võ nghệ gươm dao, côn dài, cung mạnh thì thật là ứng chiến không phải phép vậy. Chỉ cần cho quân ta giỏi nghề bắn súng, biết dùng các thứ súng lớn, súng lửa, súng trái phá, súng thần công, súng máy là đủ vậy.
    Điều 3 là luyện chế thuốc súng. Thuốc súng không cần số lượng nhiều, mà cần ở sức công phá mạnh, và thuốc bắn súng không dùg thứ cũ, chỉ lấy thứ mới. Phàm các thứ thuốc súng lâu quá 3, 4 năm thì vất bỏ đi.
    Trong 3 điều quan trọng nói trên mà thiếu đi một điều thì dẫu Hoàng triều có những vị tướng văn, tướng võ ngang trời dọc đất, vận trù quyết sách, mưu mẹo như thần cũng không làm gì xuể bọn Giặc Biển này được.
    - Sách Lược Chiến Thắng Tây
    Việc thiết yếu thứ hai là sách lược quyết thắng Mọi Biển. Cái đạo dùng binh trước hết phải rõ cái lý khúc trực,25 cái thế mạnh yếu. Binh Mọi Biển lý khúc phi chính nghĩa mà thế mạnh, binh ta lý trực có chính nghĩa mà thế yếu. Luận về lý thì chúng khúc mà ta trực, luận về
    thế mạnh yếu thì chúng mạnh mà ta yếu. Cho nên binh ta đông mà không chắc thắng nổi số lượng ít của binh chúng. Huống chi Giặc Biển có đủ chiến thuyền lưu hành khắp thiên hạ bốn phương, đó là một lý do mà ta chưa dễ thắng nổi chúng vậy. Do đó muốn thắng chúng, trước hết chúng ta phải phòng ngự vững vàng rồi mới đi cầu viện binh.
    Nay xin vua sai kẻ hùng biện đem quốc thư đi đường biển sang Hạ Châu (Singapore) cầu viện quân Anh, kể đủ việc binh Phú lang Sa vô cớ xâm hiếm bờ cõi nước Nam, đoạt ngang thành trì, làm lắm điều trái nhân đạo, tàn hại sinh linh, tội ác của chúng đầy dẫy. Nên biết rằng Phú Lang Sa tiếng là cường thịnh, nhưng từ trước đến giờ vốn sợ binh Anh Cát Lợi.
    Nay nếu về mặt thủy chiến, có binh Anh Cát Lợi, về mặt lục chiến, có quân ta ngăn trên bộ, thuyền Giặc Biển quyết sẽ lâm vào cảnh dứt đường lui tới, ra vào đều khó. Dầu chúng có cánh bay lên trời đi nữa, cũng khó mà trốn thoát vậy. Việc chế ngự bọn Giặc Biển là công việc
    khẩn cấp của triều đình.
    Bản điều trần trên là một bản điều trần quan trọng, biểu lộ được lòng yêu nước thiết tha của một người Việt, mà lại là một người Công Giáo - còn hơn thế nữa, của một linh mục. Điều đó làm cho Tự Đức và triều đình phải suy nghĩ đường lối chém giết người Gia Tô giáo mà nhà vua đang ráo riết thi hành là một đường lối sai trái. Sự truyền cảm của bài văn chứa đầy nhiệt tình yêu nước tất phải có hiệu quả vì:
    Bát canh nấu với máu gan,
    Dâng trời cũng thấu lời van cho mình.
    Mũi tên dồn hết tinh thành
    Bắn vào đá quí tan tành như chơi.26

    24 Đào Trinh Nhất, op. cit., trg 22-23, mục Việc Tập Bắn ở Thuận An.
    25 ĐNTL - ĐIVK, CBTTĐ, Tập 36, trg 244, Hà Nội.

    D. Minh Đạo Bình Tây Sách
    “Hiện giờ bọn Giặc Biển ngang dọc ở chốn biên thùy. Lũ giặc thù đó là quân mạnh bạo tuyệt vời, tài xuất chúng hơn hẳn rợ Nghiêm Doãn thời Chu, rợ Hung nô đời Hán, rợ Hốt Tất Liệt Đột Quyết đời Đường, rợ Khiết Đan Kim Liên đời Tống. Nay ta phải chống nhau với bọn
    giặc dữ đó, mà binh sĩ ta đều là dân quen an hưởng thái bình đã lâu năm, 50, 80 năm không từng trải chiến trận, như vậy mà muốn chiến thắng thành công tưởng thiệt là khó vậy.
    Rủi như thất thủ chốn biên cương thì những kẻ đương nhiệm lại không chịu biết rằng quân ta yếu, quân giặc mạnh, chiến trận diễn biến theo thế tấât nhiên, việc phải đến nó đến. Bèn quay ra đổ oán hờn tội lỗi cho người theo đạo Giatô, ức đoán rằng những người này làm nội ứng cho giặc, giặc nhờ thế mà thỏa chí xâm lăng27... Một người nói ra 10 người phụ họa, khiến cho những người có đạo phải chịu cái hiềm nghi đen tối rồi hết thảy đều sa vào tù ngục oan khiên.
    Những người có trách nhiệm làm như vậy tưởng đâu trừ được mối lo nội phản, thì có thể tránh được nạn xâm lăng từ bên ngoài. Họ có biết đâu rằng bọn dân hèn ở chốn thảo dã, chịu oan ưổng tức là đã làm loạn làm cho tai họa bên ngoài càng thêm rắc rối, nhiễu nhương, rốt cuộc chưa có được phương lược đúng tốt để dẹp trừ quốc nạn.
    Ngày xưa đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế gặp lúc Tây Sơn dấy loạn núp mình rồng trong chốn dân gian, từng gặp người Tây dương là Bá Đa Lộc. Người theo đạo Gia Tô này từng lui tới giúp đỡ nhà vua, đánh binh Tây Sơn thống nhất đất nước.
    Đương hồi quốc triều mới mở nước, ngoài đạo Giatô chưa từng phụ ơn. Đến khi gặp vận hội trung hưng, người đạo ấy lại may được có công phò tá.
    Nay quân Pháp xâm lấn cương thổ, quân ta bèn nghi người có đạo sanh lòng giặc, bắt phải chịu hình phạt thiệt nghiêm, há phải rằng đạo ấy lúc đầu thì yêu nước trung vua, mà nay biến chất thành ra phản nghịch. Làm gì có sự quái lạ ấy trên đời? Vì thế đức Thế Tổ Cao Hoàng ta còn trị vì, ngài chuẩn cho đạo ấy được thịnh hành không bao giờ cấm đoán. Phàm các địa phương có người theo đạo đều được phép cất nhà thờ, rao giảng công khai. Việc ấy kể đã lâu lắm. Chính vì đạo Thiên Chúa là đạo thanh minh, đổi biến loạn thành bình trị. Đức Cao Hoàng sáng lập nghiệp lớn truyền ngôi lại cho con cháu, mở mang nguồn lợi, sắp đặt công việc, thành tích kiến thiết rõ ràng có thể truyền đến muôn đời mà không gây ra mối tệ. Đương thời buổi ấy
    sống trong biển lặng, vua khoanh tay ngồi rỗi ở chốn cửu trùng và muôn vật cường thịnh, dân chúng yên vui, cảnh tượng thái bình, bút nào tả cho xiết được.
    Kể đến năm Minh Mạng thứ 13, nhân có người thù hiềm với giáo dân, lúc đầu chỉ là việc vu cáo hãm hại28 để trả thù riêng mà về sau oan nghiệt liên miên, gây thành họa lớn. Từ đó mới bắt đầu có chỉ cấm đạo. Tiếng ty ngôn đưa xuống, sợi tơ vụt lớn như bánh xe. Người trong nước đều coi giáo dân là phường không vua, không cha rồi những kẻ hiếu sự bất cứ việc gì cũng cứ vịn theo lệ ấy để thỏa bạo, lấy của người làm giàu cho mình, thành ra những người Giatô kế tiếp
    nhau vào nhà tù, bi lụy vô cùng, xiềng xích gông cùm không mở miệng kêu oan vào đâu được, đến nỗi dưới ánh mặt trời sáng sủa trong vòng giáo hóa nhân ái của nhà vua, mà một lũ dân trung tuân giữ phép nước phụng sự hoàng triều lại chịu hàm oan thảm thiết.
    26 Phan Bội Châu do Lâm Giang dẫn trong Đặng Đức Tuấn (Sài Gòn, 1970), trg 244.
    27 ĐNTL - ĐIVK: CBTTĐ XXII, 1859, Tờ 23-26, 77-79, CRO 2: CB 242.
    ĐNTL - ĐIVK: CBTTĐ XXII, 1859, Tờ 275-276, CRO 2: CB 239.
    28 Xem Chương Mười Bảy, số II. Vụ làng Dương Sơn và Mông Phụ.

    Ngày xưa chỉ một phụ nữ nước Tề chịu hình phạt oan uổng mà Trời còn cảm ứng, biếnloạn đến ba năm, huống chi ngày nay số tù ngục oan khiên nhiều hơn nước Tề gấp mấy. Nếu bảo rằng người đạo Thiên Chúa đều có tội đáng xử phạt, trường hợp này không thể so sánh với
    oan ngục nươc Tề, thế thì tại sao lũ dân cày ruộỉng, đào giếng làm ăn lương thiện đời vua Gia Long nay lại biến ra bọn tù phạm đáng chém, thắt cổ, đáng kết án khổ sai, đáng chịu đi đày hết cả?29 Há rằng đạo ấy ngày xưa thì phải mà ngày nay lại trái sao? Và những người theo đạo ấy ngày xưa so với những giáo dân ngày nay có một sự cách biệt khác nhau một trời một vực?
    Huống chi là người theo đạo ấy, về các việc dân việc lính chịu sưu chịu thuế cũng y như hạng bình dân khác, sao lại đối xử riêng với họ theo cách ấy, làm sao cho khỏi tổn thương đến cái lòng nhân ái công bình của nhà vua, xem muôn dân như con đỏ, không phân biệt chút nào. Cái nghĩa trị dân một cách bình đẳng, khiến cho xa gần vui phục có phải vì việc cấm đạo mà sứt mẻ đi chăng? Vì những kẻ mà so sánh với đời Gia Long yên vui vô sựỉ thì ngày nay thậât là rối rắm,
    nhiễu nhương, cái thế ngày trước khỏe, ngày nay mệt đã được chứng nghiệm một cách rõ ràng, nhìn qua là thấy được nét lớn ngay.
    Trộm nghĩ rằng: Sau cơn sấm sét thì có gió mưa, đó là cái lòng vô tư của Tạo Hóa. Việc hình phạt oai nghiêm phải lấy đức khoan hòa, nhân ái làm tiêu chuẩn, đó là việc của vua thánh bắt chước theo
    Trời. Cúi xin Hoàng Thượng thể theo lòng che chở bao bọc của Trời Đất noi gương đại đức của tổ tiên, nuôi dưỡng muôn dân cho được cùng sống, ban hành lịnh mở tù, bỏ ngục, tha hết lũ dân có đạo Giatô ra, phàm hiện giờ tất cả những người bị giam cầm, bị đi đày, bị làm việc khổ sai, đều nhất loạt tha hết, cho phép bọn họ được tùy tiện kiếm đường làm ăn, khỏi chịu các thảm cảnh chết đói, chết rét.”30

    Những tác phẩm của cha Đặng Đức Tuấn Việt Nam Quốc Sử Diễn Ca, Lâm Nạn Phụng Quốc Hành, và nhất là qua hai bản điều trần Hoành Mao Hiến Bình Tây Sách và Minh Đạo Tây
    Sách biểu lộ một luồng tư tưởng hoàn toàn ngược lại tư tưởng lạc hậu của triều đình Huế và sĩ phu thời bấy giờ. Đó là người Gia Tô giáo có công xây dựng và thống nhất đất nước; quốc sách chém giết người Gia Tô là sai lầm, làm rạn nứt tình đoàn kết dân tộc trong việc chống bọn Mọi Biển xâm lăng; và cần phải xử dụng thế lực người Gia Tô trong chính sách Bình Tây.
    Cha Đặng Đức Tuấn không lẻ loi, đơn độc trong việc tuyên truyền luồng tư tưởng mới để cứu nước. Một người Gia Tô giáo Nguyễn Trường Tộ cũng mạnh mẽ trình bày với triều đình những tư tưởng tiến bộ này.31

    II. NGUYỄN TRƯỜNG TỘ (1830-1871)
    1. Tiểu Sử
    Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1830 tại thôn Bùi Chu, huyện Hưng Yên, tỉnh Nghệ An, giữa lúc thịnh thời của nhà Nguyễn, nhưng cũng nhằm lúc xã hội Việt Nam đang bắt đầu chuyển mình qua sự tiếp xúc miễn cưỡng với Tây phương.32
    29 Xem Chương Hai Mươi Ba, số II, 1-4.
    30 Lâm Giang, op. cit., trg 227.
    31 Xem Chương Hai Mươi Tám. Triu đình Huế và Văn Thân và Cần Vương làm mất nước. Đặng Đức Tuấn đ nghị
    triu đình dùng người Gia Tô làm một lực lượng chống Mọi Biển xâm lăng.
    32 Muốn biết đầy đủ thêm v Nguyễn Trường Tộ, xem:
    - Lê Thức, Nguyễn Trường Tộ Tiên Sinh Tiểu Sử (Nam Phong), Tập 18 (phần chữ Nho), trg 4.
    - Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Truờng Tộ trong Lịch Sử Việt Nam (Nam Phong), Tập 32, trg 1.
    - Đào Đăng Vỹ, Page Historique, Nguyễn Trường Tộ et son temps Patrie Anamite, Nov 22 et ssq.
    - Tú Ngọc Nguyễn Lân, Nguyễn Trường Tộ (Huế, nhà in Viễn Đệ, 1941).
    - Vài tác giả ghi năm sinh của ông khác nhau:
    a. Lê Thành Khôi, Le Việtnam Histoire and Civilisation (Paris, 1955), trg 363 ghi năm 1828.
    b. Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn Học Sử Yếu (Sài Gòn, 1958), trg 330 ghi năm 1827.
    c. Thái Văn Kiểm, Phương Đông, Số 16, trg 292 ghi năm 1828.
    d. Trương Bá Cần, Nguyễn Trường Tộ - Con Người và Di Thảo (TPHCM, 1988), trg 19 ghi năm 1830.
    33 Điều Trần hay Di Thảo là những bài luận văn chi tiết về một đề tài nào đó. Tuy nhiên nếu được đệ trình lên cơ
    quan chính phủ, trong trường hợp của Nguyễn Trường Tộ được đệ trình cho Tự Đức, thì được gọi là bản Điều Trần.
    Xem:
    - Trương Bá Cần, Nguyễn Trường Tộ - Con Người và Di Thảo (TPHCM, 1988), trg 103-105.
    34 Trương Bá Cần, op. cit., trg 107-114. Di Thảo số 1, 1863.
    35 Trương Bá Cần, op. cit., trg 120. Điều Trần 1, 13, 27. Tế Cấp Bát Điều Trần: Điều 5, 7 và bản đồ.
    36 Tại đây hiện giờ (1996) hành pháp, tư pháp, lập pháp là
    một. Quốc Hội chỉ làm kiểu, Quốc Hội là bù nhìn. Tòa Án lệ thuộc vào chính phủ!


    Nguyễn Trường Tộ được hun đúc bởi giáo lý Khổng, Mạnh nhưng nhờ Kitô giáo mà hấp thụ những tư tưởng mới mẻ của nền học thuật Âu Tây. Ông theo học từ thời thơ ấu với thân sinh,
    cụ Nguyễn Quốc Thư, một Đông Y có tiếng hay chữ, cho tới 17 tuổi, rồi theo học ông Tú Giai, ông Cống Sinh Hiệu, ông cựu tri huyện Địa Linh cho tới năm 27 tuổi thì được đề cử thi tú tài, trường Nghệ, nhưng bị xóa tên vì theo đạo Gia Tô giáo.
    Ông được mời dạy chữ Hán tại chủng viện Xã Đoài, và đồng thời ông lại học chữ Pháp và các khoa học phổ thông với Giám mục Gauthier Ngô Gia Hậu. Năm 1859, ông theo giám mục qua Italia và Pháp để học hỏi thêm các môn học Tây Phương. Nguyễn Trường Tộ ở lại Âu Châu 3 năm, tận dụng hết thời gian lưu ngoại này để theo học hầu hết các môn thực dụng.
    2. Sự Nghiệp
    A. Các Bản Điều Trần33
    Những năm học hỏi, những điều nhận xét tại nước ngoài, Nguyễn Trường Tộ ghi chép tỉ mỉ, tìm hiểu tường tận và trình bày trong 58 tập điều trần từ 1863 đến 1871. Các bản điều trần liên quan tới mọi vấn đề xã hội, quốc kế dân sinh, lãnh vực quốc gia, chính trị, xã hội, giáo dục, kinh tế, tài chính, canh nông, quân sự, ngoại giao, tông giáo, v.v. Có một số bản điều trần được soạn gởi từ hải ngoại về nước, với những lời lẽ thống thiết.
    - Thiên Hạ Đại Thế Luận34
    Trong Thiên Hạ Đại Thế Luận, ông ghi lời Hán Công đã nói: “Biết mà không nói là bất nhân, nói mà không hết là bất nghĩa.” Do đó ông không nỡ nhìn nước nhà đổ nát, trăm họ lưu ly mà không nói lên lời nói ngay thẳng. Theo ông thì học ở thực sự thì có chỗ thực dụng, còn học viển vông thì chẳng đi đến đâu.
    - Trong Lãnh Vực Chính Trị35
    Nguyễn Trường Tộ chủ trương một chế độ pháp trị, phân biệt hành pháp và tư pháp. Từ thế kỷ XIX ông đã có tư tưởng sáng suốt như thế rồi. Sự phân biệt ấy cho đến ngày nay trên thế giới cũng còn nhiều nước36 chưa thực hiện được điều đó. Ông đề nghị nghiêm trị bất công, tham nhũng, cải tổ cơ sở chính quyền, làm sao cho địa vị vua là quý, quan là trọng, dân là cơ bản quốc gia.


  9. Được cám ơn bởi:


  10. #6
    teenvnlabido's Avatar

    Tham gia ngày: May 2011
    Tên Thánh: Giuse
    Giới tính: Nam
    Đến từ: HCM city
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 927
    Cám ơn
    1,503
    Được cám ơn 2,005 lần trong 603 bài viết

    Default

    - Trong Lãnh Vực Kinh Tế
    Ông chủ trương kiểm tra tài nguyên, khai thác triệt các nguồn lợi quốc gia, kêu gọi đầu tư của tài phiệt quốc nội và hải ngoại, đặt sở thống kê để hàng tháng hàng năm biết mức trồi sụt của các ngành,37 và đặt quan thuế mới đánh vào cách ăn chơi xa xỉ (cờ bạc, rược chè, thuốc lá, thuốc phiện) để khuyến khích sự tiết kiệm và điều độ. Nhà nước tăng thuế các hàng nhập cảng, thứ nhất là xa xỉ phẩm và các hàng trong nước đã có để khuyến khích tiêu thụ hàng nội hóa và công
    nghệ bản quốc. Trong lãnh vực này ông chủ trương không chỉ làm giầu cho công quỹ, mà còn phải lo tính cho dân trong nước làm giàu. Bởi vậy ông thôi thúc:
    - Tổ chức một số địa dư và vẽ họa đồ để biết hình thể và tài sản trong nước rồi mới theo đó mà khởi hành các công tác như đường sá, đê điều, dẫn thủy nhập điền v.v...
    - Chấn hưng nông nghiệp bằng cách đặt nông quan và các cơ sở chuyên môn để cải lương cách làm ruộng, khai khẩn ruộng đất bỏ hoang, kinh lý việc dẫn thủy nhập điền, v.v. (Điều trần số 53 năm 1871)
    - Chấn hưng công nghệ, khuyến khích và ban thưởng cho những người sáng chế những đồ dùng mới mẻ và tiện lợi, hoặc tìm ra cách chế hóa đồ ăn, đồ uống cho hương vị tăng lên hay để lâu mà không hỏng.
    - Chấn hưng thương nghiệp, khuyến khích và ban thưởng cho những người biết hợp cỗ để buôn bán, hoặc đóng và mua được các tàu biển để thông thương với các nước khác.
    - Khai khẩn các mỏ.38
    Ông bàn lúc đầu phải cộng tác với các công ty khai mỏ người Pháp để họ đứng chủ trương việc tìm khoáng sản, trông nom cách khai mỏ và huấn luyện các thợ chuyên môn để sau này người nước ta có thể thay họ mà làm các việc ấy được. Ông lại xét cẩn thận các điều khoản
    về bản hợp đồng phải ký với công ty ấy thế nào để cho lợi và tránh những sự xung đột về sau.
    - Trong Lãnh Vực Giáo Dục39
    Sau lúc chỉ trích những sai lầm và thiếu thốn của lối học cũ, ông đề nghị:
    - Cải cách việc học và thi cử trong nước. Ông quan niệm “Cho người ta một con cá thì chỉ nuôi sống một ngày, nhưng nếu cho người ta một cái lưới đánh cá thì có thể nuôi sống cả đời.”40 Do đó ông chủ trương mở trường bách nghệ dạy các khoa thực dụng như canh nông, thiên
    văn, cơ khí và định lại chương trình thi cử là không chỉ có văn chương mà còn phải có các môn khoa học hợp thời.41
    - Dùng quốc văn (viết bằng chữ Nôm mà ông gọi là Quốc Âm Hán tự) trong việc dạy học, làm sách và các giấy tờ việc quan. Ông chỉ trích sự bất tiện của chữ Nho khiến các nhà Nho thủ cựu ở triều đình phải bực tức, và do đó họ tìm cách ngăn chận cuộc cải cách do ông chủ
    trương.42
    37 Trương Bá Cần, op. cit., Dụ Tài Tế Cấp Bẩm Từ: Điều Trần 5, 1864 chỉ dẫn người dân cách thức trở nên phát đạt
    sung túc hơn.
    - Điều Trần 53 năm 1871 về nông nghiệp; Điều Trần 5 về kinh tế; Điều Trần 27 khoản 3 về thuế má.
    38 ĐNTL - ĐIVK, CBTTĐ, Tập 31, trg 33.
    - Điều Trần 8 - Khai Hoang Từ.
    - Trương Bá Cần, op. cit., trg 159.
    39 Điều Trần 18, 1-9-1866.
    40 Thái Văn Kiểm, Phương Đông Giai Phẩm Hướng Về Dân Tộc, trg 29.
    41 Dương Quảng Hàm, op. cit.. Nguyên Chương 4 đề cập về đề nghị cải tổ của Nguyễn Trường Tộ trong mỗi lãnh
    vực.
    42 Ông Tộ chắc đã biết đến các sách in bằng tiếng Quốc ngữ như Bài Giảng Tám Ngày (Cathechismus) hay Tự điển
    Việt-Bồ-La của Cha Đắc Lộ xuất bản tại Vatcan năm 1651. Ông cũng có thể biết đến cuốn Nam Việt Dương Hiệp
    Tự Vựỉng của Taberd, có thể in trước 1840. Tuy nhiên ông lại không đề nghị lấy tiếng Quốc ngữ thay thế chữ Nho.


    - Du học (điều trần 17-7-1866): Nên gửi nhiều học sinh đi học ở ngoại quốc, và khuyến khích việc dịch thuật phổ thông ngoại ngữ như Espanha, Anh, Pháp, Nhật, Miên, Lào. Việc giáo dục ông chú trọng nhiều về đào tạo con người có kỷ thuật thực dụng (homo faber) hơn là con người trí thức thuần túy (homo sapi-ens). Do đó ông cũng chủ trương cải tổ hoàn toàn phương thức thi cử tuyển dụng nhân tài để xử dụng ưu tiên vào việc phát triển kinh tế.43
    - Trong Lãnh Vực Học Tập Trữ Tài44
    Theo ông thì học ở thực sự thì có chỗ thực dụng, còn học viển vông thì chẳng đi đến đâu.
    Một trăm năm về trước, Nguyễn Trường Tộ đã đề cập đến nhiều vấn đề quốc kế dân sinh mà tới nay vẫn còn giá trị. Nếu đem ra thi hành đúng mức thì nước nhà sẽ tiến bộ nhanh chóng.
    - Trong Lãnh Vực Xã Hội45
    Ông đề cập đến việc thành lập những cô nhi viện, nhà dục anh, những cơ sở giáo hóa côn đồ và thiếu nhi phạm pháp, làm thế nào trừ khử ba tính xấu gia truyền của người Việt là ích kỷ, lười biếng và dị đoan mê tín.
    - Trong Lãnh Vực Quốc Phòng46
    Bản điều trần ngày 10-4-1871 đề cập đến việc mở trường võ bị. Ông bàn về chiến thuật tốc chiến đem đến thắng lợi mặc dù với tổn thất cao, còn hơn cứ kéo dài cuộc chiến nhưng chẳng đạt được chiến thắng. Ông cũng khuyến cáo nên gởi một phái đoàn xuất ngoại, tìm mua những chiến xa, súng ống tối tân, ngựa tốt, học kỹ thuật chế tạo binh khí, đúc đạn dược, v.v. để mai sau có thể tự túc tực cường.47
    - Trong Lãnh Vực Ngoại Giao48
    Ông chủ trương giao hòa với Pháp, vì chống nhau với người Pháp thế nào cũng thua và có hại. Còn nếu giao kết với Pháp thì bên ngoài có thể chống lại với cường quyền khác muốn dòm ngó đất nước ta, và bên trong được bình yên mà lo việc cải cách cho nước giàu mạnh lên.
    Trần Tiến Thành đề nghị áp dụng những kế hoạch của Nguyễn Trường Tộ đối với Pháp để chờ dịp thuận lợi làm áp lực buộc Pháp trao trả 6 tỉnh miền Nam mà Pháp chiếm đóng bất hợp pháp.49
    Ông cũng chủ trương giao thiệp với các cường quốc khác, đặt sứ thần lãnh sự ở các nước ấy để giữ tình giao hiếu và để biết rõ tình thế trong thiên hạ. Do đó họ sẽ có cảm tình và giúp không để nước nào xâm chiếm đất nước ta được.50

    43 Thái Văn Kiểm, op. cit., trg 298.
    44 Điều Trần 45.
    45 Tế Cấp Bát Điều Trần, Điều 27, Tháng 8, 1867.
    46 Thiên Hạ Đại Thế Luận, Điều 1; Tế Cấp Bát Điều Trần, Điều 27; Tu Chính Võ Bị, Điều 50.
    47 Vào thời kỳ này - thời kỳ chống Pháp xâm lăng - chỉ có Lm. Đặng Đức Tuấn và Nguyễn Trường Tộ đề nghị với
    chính quyền những biện pháp khoa học thiết thực để chống lại giặc Pháp. Trái lại, triều đình nhà Nguyễn, Văn Thân
    và Cần Vương không có một kế hoạch nào khả dĩ ngăn ngừa xâm lăng, ngay cả Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp và
    Nguyễn Tri Phương. Xem:
    - Chương Hai Mươi Bảy, số 2 C.
    48 Thiên Hạ Đại Thế Sự, Điều 1; Điều 19: Nhượng Bộ Tạm Thời cho Pháp. Hòa Từ 1861. Điều 36: Thành lập bang
    giao với nước Anh, Esphana và Nga hầu có thể làm áp lực với Pháp để trao trả những tỉnh bị mất.
    49 ĐNTL - ĐIVK: CBTTĐ, 30-11-1870, Tờ 90-94, CRO 2: CB 364.
    50 Dương Quảng Hàm, op. cit., trg 332. Bản điều trần thứ 4 (3-9-1866) và bản điều trần thứ 6 (12-3-1868).
    - ĐNTL - ĐIVK, Dưới Triều Tự Đức, Tập 32, trg 59. Về mặt quân sự, Lm. Đặng Đức Tuấn đề nghị liên lạc với
    nước Anh, hiện có quân đóng tại Singapore, để chận đứng Pháp xâm lăng.

    - Trong Lãnh Vực Tông Giáo51
    Vấn đề tự do tông giáo được nêu lên trong bản điều trần Giáo Môn Luận viết ngày 11-2 năm Tự Đức 16 (tức 29-3-1863). Ông mạnh dạn chống đối chính sách bắt đạo của Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức là một đường lối man rợ làm từng vạn người vô tội phải thiệt mạng một cách oan uổng do các sắc dụ cấm đạo năm 1833, 1836, 1838, 1848,1851, 1853,1854, 1857,1859,
    1860 và 1861. Ông đề nghị áp dụng hình pháp nghiêm ngặt đối với bất cứ ai, Công giáo hay không Công giáo, phản nghịch loạn thường để duy trì công bình và luật lệ trong nước.52
    Nhưng triều đình và sĩ phu không chấp thuận đường lối sáng suốt của Nguyễn Trường Tộ. Trái lại họ vẫn tiếp tục dùng vũ lực quyền thế để hiếp đáp những kẻ yếu thế không cùng tín ngưỡng, khiến Nguyễn Trường Tộ phải phản kháng một cách mạnh mẽ để cứu những người đồng đạo của mình:53

    “Tôi sau khi từ kinh đô về đến Xã Đoài tỉnh Nghệ An, những điều mắt thấy quả đúng với những gì đã nghe được và còn hơn thế nữa là đàng khác. Cứ theo cái đà này thì sự việc sẽ lan ra mãi chưa biết khi nào mới chấm dứt. Đầu mối của sự việc là do sĩ phu, nhưng cái gốc của nó cũng do những người có quyền lực gây ra nữa. Cho nên tôi cứ nói ra không sợ oán trách, dù sau này vì nói những điều này mà phải chết tôi cũng không quản. Bởi vì đã dùng quyền lực mà sinh sự thì muốn yên việc cũng phải dùng đến quyền lực mới được.
    Trước đây nhân chuyện người Tây đột nhiên đến, triều đình chưa rõ vì lý do gì đã tiến hành việc Phân Tháp 54 để tạm thời giải tỏa sự nghi ngờ. Những việc làm của triều đình là do ý muốn yên dân chứ không như việc làm của bọn ngoại gian, lửa đổ thêm dầu, làm điều ác độc
    ngoài pháp luật, rắp tâm muốn giết cho hết mới thôi. Hiện nay ở tỉnh hai bên lương giáo lòng đang sôi sục, một bên nói không thể nào chung sống, phải giết cho hết mới thôi, một bên nói con thú mà bị khốn quẫn còn cắn càn huống chi là con người.
    Nếu bên kia không để cho cùng sinh sống thì bên này cũng không để bó tay chịu trói.
    Nhà nào ngõ nào cũng xôn xao bàn tán chuyệỉn đó. Đúng như đạo dụ của Thánh Thượng trước đây có nói: Giáo dân tỉnh Nghệ An có hơn 8 vạn trong đó có nhiều tay không vừa, trừ phi có chiếu chỉ rõ ràng của triều đình mới không dám kháng cự, còn giữa dân với nhau thì như nhau cả, nếu bức bách họ thì làm sao họ chịu yên được.
    Ở Phương Tây trước kia đã có lần đại loạn gọi là chiến tranh tông giáo. Đó là cái gương soi cho chúng ta, vả lại hai chữ “lương,”55 “dữu”56 chẳng có quan hệ gì đến sự thế quốc gia cả.
    Thế mà khắp cả tỉnh người ta đều luôn mồm lấy hai chữ đó để nhục mạ nhau. Một lời nói mà không chịu trách nhiệm là xách dao đâm chém nhau. Nhưng trong làng xóm người ta còn cậy thế lực hào lý áp chế nhau, còn dựa vào tục lệ mà tích oán thành họa. Lại còn một tệ đoan nữa là trong bình dân có nhiều người quyền quý và những người có thế lực quan trọng liên kết với nhau dễ bề bày đặt khiến mọi người nghe theo. Ngay như trước đây khi triều đình Phân Tháp họ đã làm những điều ác độc phi pháp, khắp nước chưa có đâu như tỉnh Nghệ. Ý họ muốn giết cho hết không sót một ai, như thế họ ăn nuốt mới trôi. Bởi vậy nghe nói có chiếu của vua, họ liền nói:
    Triều đình hành sự như trẻ con. Thủ đoạn đó thật quá lắm vậy. Nay sợ giáo dân kiện quan, bắt bồi thường những của cải mà trước kia họ đã lấy càn của dân nên họ nói đủ những điều đe dọa.
    Nay thì nói triều đình sắp phá hòa ước sẽ giết chúng bay, mai thì nói chúng tao sắp cùng nhau giết chúng mày.
    Triều đình có chiếu lệnh điều hòa lương giáo thì các phủ huyện giữ kín không chịu thông tư ra, giáo dân chỉ nghe phong thanh mà thôi. Như việc lần trước triều đình miễn thuế cho những giáo dân sau khi bị phân tháp trở về, thế mà dân chúng chẳng biết. Vì vậy nhiều làng bị lý dịch vẫn cứ trưng thu đủ số. Tuy có đại ân mà cùng dân chẳng hưởng đựơc gì, việc lớn còn vậy, thì biết việc nhỏ như thế nào?”

    Bức thư phản kháng của Nguyễn Trường Tộ không những trình bày tình trạng nghi kỵ giữa giáo và lương, mà còn đề cập đến sự bất lực của triều đình để xóa bỏ nghi kỵ này.57
    51 Trương Bá Cần, op. cit., trg 115. Điều 2 về tự do tôn giáo (Giáo Môn Luận).
    52 Dương Kinh Quốc, Việt Nam (Hà Nội, 1981), Tập I, trg 51.
    - Trương Bá Cần, op. cit., trg 115-119.
    53 Công Giáo và Dân Tộc, số 650, ngày 28-2-1988. Thư viết ngày 22 tháng 4 năm Tự Đức XIX tức 4-6-1866 gởi
    Trần Tiến Thành và Phan Thanh Giản.
    54 Supra, Phân Tháp. Xem Chương Hai Mươi Ba, số II, 4.
    55 Lương dân chỉ người lương thiện, tức người ngoài Công giáo.
    56 Dữu có nghĩa là dại. Dữu dân chỉ người ngu dại, xấu, tức người Công giáo.


    B. Những Thực Hiện Cụ Thể58
    Nguyễn Trường Tộ là một con người không những chịu khó học hỏi mà còn thực tế, đem sự học hỏi của mình ra áp dụng vào đời sống để giúp đỡ xã hội.
    Trong lãnh vực kiến trúc, ngay tại Sài Gòn trên đại lộ Cường Để59 có dòng nữ tu Saint Paul, thường gọi là Nhà Trắng, là một công trình kiến trúc vĩ đại do Nguyễn Trường Tộ xây cất năm 1862 sau khi ông đi Rôma và Pháp về. Cũng vào thời kỳ này tại giáo xứ Xã Đoài thuộc địa phận Vinh, ông xây tòa nhà hình chữ Thập với kiến trúc cổ điển Tây phương. Tòa nhà bao gồm trụ sở Giám mục và chủng viện 3 tầng lầu.
    Nhằm lúc về quê nhà tại thôn Xuân Mỹ, ông thấy dân tình nghèo đói, sống trên mảnh đất chật hẹp. Ông bèn tìm một khu đất rộng lớn để di dân Xuân Mỹ tới đó, tạo thành một khu trù mật thời bấy giờ.
    Công trình vĩ đại nhất của ông là việc đào Kinh Sắt nối liền Cửa Lò với Vinh. Theo lời kêu gọi của Tổng Đốc An Tịnh Hoàng Tá Viêm năm 1866, ông điều hành việc khai kênh sau khi quan Tổng đốc chịu thua vì gặp phải nhiều lớp đá cứng rắn xung quanh chân núi. Nguyễn
    Trường Tộ biết không thể phá nổ lớp đá ấy, nên quyết định đào con kinh vòng quanh chân núi.
    Sau mấy tháng đốc thúc, ông hoàn thành công trình mà trước kia Cao Biền cũng như Hồ Quí Ly đã đều bỏ dở.
    Tháng 9-1866 Nguyễn Trường Tộ theo lệnh Tự Đức hướng dẫn một phái đoàn sang Pháp để mua các tài liệu liên hệ tới khoa học, địa chất, hải quan, phương pháp biến chế quân nhu, vũ khí, cùng tuyển mộ chuyên viên, kỹ sư, giáo sư về nước mở trường dạy học. Phái đoàn tới Pháp chưa được bao lâu thì được lệnh gọi về nước vì tình thế nước nhà rối ren.
    Có lần Nguyễn Trường Tộ đảm nhận trách nhiệm thông dịch viên giữa triều đình Huế và phái bộ Charner, nhưng vì công việc quá tế nhị mà cũng chẳng được bên nào tin cậy, ông bèn rút lui về quê quán. Năm 1868 ông được chỉ định công cán sang Pháp lần thứ hai và một lần nữa vào cuối năm 1870, nhưng lần này ông không đi được vì bệnh tình trầm trọng. Năm 1871 Nguyễn Trường Tộ lìa trần sau một năm nằm tê liệt trên giường bệnh.60 Thái Văn Kiểm phê bình Nguyễn
    Trường Tộ như sau:
    “Cái chết của Nguyễn Trường Tộ giữa lúc quốc sự đa đoan đã tạo nên một khoảng trống lớn trong giới sĩ phu đương thời. Nhưng tiếc thay vua quan đời đó chẳng mấy ai để ý tới. Tuy nhiên mạng ấy yểu mà danh ấy thọ.”

    57 So sánh với bản điều trần Minh Đạo Bình Tây Sách của Lm Đặng Đức Tuấn ở phần I, 2, D.
    58 Trương Bá Cần, op. cit., trg 89-95.
    59 Cường Để nay (2000) là đường Tôn Đức Thắng.
    60 Thái Văn Kiểm, Phương Đông, trg 300.
    - Đào Trinh Nhất, Phan Chu Trinh (Sài Gòn, 1950), trg 29 ghi rằng khi đi Âu châu về, Nguyễn Trường Tộ dâng lên một số điều trần những phương lược cải cách, và xin nhà vua làm ngay theo gương nước Nhật; nếu không thì đất nước sẽ mất. Tự Đức họp đình thần để bàn, đình thần cho là nói càn, không chịu theo. Nguyễn Trường Tộ buồn đến nỗi uất ức mà chết.

    Nguyễn Trường Tộ để lại cho hậu thế một bài học đáng được suy gẫm và lưu truyền. Rất tiếc cho người sinh bất phùng thời đã gào thét hết hơi giữa bãi sa mạc mênh mông đúng như lời than của một thi sĩ phương Tây: “Tôi đã đến quá sớm trong một thế giới quá cũ.”61 Trong một chuyến Tây Du, ông đã gặp Ito Hirobumi, một người Nhật trên đường tìm kiếm phương cách đổi mới nước nhà và đã thành công rực rỡ trong cuộc canh tân nước Nhật Bản. Còn Việt Nam thì trái lại sắp sửa chìm ngập trong máu lửa chiến tranh. Rất tiếc ông phải chịu số phận hẩm hiu vì đã lỡ sinh ra giữa đám người mù quáng lạc hậu mà kiêu căng, chẳng khác nào:
    “Phụng Hoàng đậu chốn cheo leo
    Sa chân lỡ bước phải theo đàn gà...”
    Đối với xã hội đương thời, Nguyễn Trường Tộ là một lãnh tụ chủ nghĩa xét lại. Ông không những là một kẻ canh tân mà còn là một chí sĩ chủ trương một cuộc cách mạng toàn diện
    nhằm biến cải hoàn toàn xã hội Việt Nam.
    Trước khi vĩnh biệt cõi trần, Nguyễn Trường Tộ đã để lại một sự nghiệp to lớn. Tinh thần dân tộc của ông được đề cập đến rất nhiều trong vùng quốc gia kiểm soát từ 1946-1975.62 Tạp chí Văn Hóa Á Châu đã cho dịch lại những bản văn bằng chữ Hán của Nguyễn Trường Tộ và đăng trên tạp chí Nam Phong từ 1925 trở đi. Tờ báo Tinh VIệt Văn Đàn có công cổ vũ cho tinh thần quốc gia lúc nói về “Người yêu nước sáng suốt” Nguyễn Trường Tộ. Quả thật ông là sự hy sinh hiến dâng cho Tổ Quốc, tấm gương yêu nước của ông phải được treo cao cho toàn thể soi chung.63
    III. TRƯƠNG VĨNH KÝ
    Cùng với Đặng Đức Tuấn và Nguyễn Trường Tộ, Petrus Trương Vĩnh Ký đã viết nhiều cho cuộc canh tân xứ sở. Nhưng thay vì dùng bút lông như hai vị trước, ông đã dùng ngòi bút sắt, viết tiếng quốc ngữ hoặc tiếng Pháp để biểu lộ tư tưởng canh tân của mình.
    Giám mục Gauthier trong thư đề ngày 1-11-1871 viết là người giáo hữu Việt Nam mà tôi đem theo năm 1867 và người ta gọi là kiến trúc sư đã là nạn nhân của một âm mưu đầu độc.

    - Trương Bá Cần, op. cit., trg 447 viết lúc Nguyễn Trường Tộ chết đã thổ ra một cục máu lớn, hưởng dương 43 tuổi.
    Năm 1925, Khải Định truy phong Nguyễn Trường Tộ là Hàm Trực Học Sĩ.
    61 “Je suis venu trop tôt dans un monde trop vieux.”
    62 Trong Di Thảo số 27 ngày 15-11-1867 Nguyễn Trường Tộ cho biết: hiện có một hoàng tử và 35 người cùng đến
    Paris và đã thiết lập ở đó một đại học xá. Hoàng tử ấy có thể là Ito Hirobumi.
    63 Thái Văn Kiểm, Phương Đông, trg 300 và tiếp.
    - Ngày 22-11-1971 nhằm kỷ niệm 100 năm ngày từ trần của ông, Tinh Việt Văn Đoàn tổ chức Bách Chu Niên
    Nguyễn Trường Tộ để ra mắt Ủy Ban Quốc Gia Nguyễõn Trường Tộ với mục đích dựng tượng đài kỷ niệm Nguyễn
    Trường Tộ; sưu tầm, nghiên cứu, phiên dịch và phổ biến các văn bản của ông; lập giải thưởng Nguyễn Trường Tộ
    để tặng thưởng những ai bằng tác phẩm của mình đã đóng góp vào công cuộc phát triển Quốc Gia Việt Nam.
    Trong lúc đó ở Bắc Việt từ 1954 đến 1975 rất ít nói đến Nguyễn Trường Tộ ngoại trừ một cuốn sách của Chương
    Thâu, Nguyễn Trường Tộ và Những Đề Nghị Cải Cách Của Ông, xuất bản tại Hà Nội năm 1961.
    - Trương Bá Cần, op. cit., trg 11-13 đã xuyên tạc mục đích thuần túy Văn Hóa của tạp chí Văn Hóa Á Châu (Saigon)
    lúc tạp chí này đã dịch và đăng lại những bản văn chương chữ Hán mà Nguyễn Trường Tộ đã đăng trên Nam Phong
    trước dây. Đồng thời Trương Bá Cần cũng nói lên rằng con người Nguyễn Trường Tộ là con người Việt Nam với dòng máu anh hùng được truyền từ Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Hồ Chí Minh. Đồng ý là Nguyễn Trường Tộ có cùng dòng máu với qúy vị anh hùng ấy nhưng chỉ thắc mắc một điều là không lẽ một con người chính trực ngoan đạo và yêu nước như Nguyễn Trường Tộ lại là con người có cùng dòng máu với Hồ Chí Minh sao.



    1. Tiểu Sử
    Trương Vĩnh Ký sinh tại Cái Mơn, Vĩnh Long năm 1837, lúc mới 5 tuổi, cậu học chữ nho và sau đó học chữ quốc ngữ với linh mục Nam, tục là “Cụ Tám.” Sau lúc Cụ Tám mất mẹ trao cho một thừa sai Pháp, Cố Long64, cha sở Cái Mơn. Ngay từ buổi đầu, nhận thấy sự thông minh xuất chúng của Ký, cố Long không những dạy quốc ngữ mà còn dạy thêm chữ La Tinh.
    Trong nước lúc bấy giờ dưới thời Tự Đức, những người Gia Tô giáo bị tàn sát khắp nơi, từ Bắc chí Nam. Do đó cố Long với năm ba học trò tùy tùng, trong đó có Trương Vĩnh Ký, tìm kế thoát thân: có khi phải giả dạng làm con buôn, có lúc mặc y phục đám cưới, rồi nào dù, nào võng, nào nghi lễ, cứ thế mà qua hết rừng nọ tới sông kia. Hễ ở yên được một chỗ trong ít lâu là cố Long lại đem chữ Latinh ra dạy. Thế rồi Trương Vĩnh Ký thông thạo được chữ Latinh và vài ngoại ngữ khác. Năm 11 tuổi cố Long gởi Ký vào trường Pinhalu ở Hà Tiên. Tại đây Ký có dịp tiếp xúc với học sinh các nước, nên đã được bạn bè dạy thêm cho tiếng Trung Quốc, Miến Điện,
    Lào, Cambodia. Vì là học sinh xuất sắc nên Ký được gởi sang chủng viện Penang ở Malaysia.65
    Sau cuộc hành trình vất vả gian nan, Ký tới chủng viện năm 1858.66
    Tại Pénang ông học thêm tiếng Hy Lạp, India và Anh. Năm 21 tuổi ông trở về quê hương để thọ tang mẹ67 và quyết định không trở lại Pénang vì ông không có chí hướng làm linh mục.
    Ông muốn trở thành một giáo dân bình thường nhưng chân thật. Năm 1862 Pháp chiếm Gia Định, ông Jauréguiberry chỉ huy hải quân Pháp, nhờ Giám mục Lefèbvre kiếm cho một người
    thông ngôn thạo hai thứ tiếng Pháp-Việt để tiện việc điều đình giữa hai nước. Từ một viên thông ngôn, ông trở nên một nhà ngoại giao mà sứ mạng là làm sao cho người Pháp hiểu người bản xứ,
    và cho các Nho sĩ có thể nhìn vào sự thực, vào sự yếu hèn của nước nhà trước sự văn minh của người để canh tân xứ sở.
    Mặc dầu trái với ý nguyện, tình huống lúc bấy giờ đẩy đưa ông vào chính trị, một con đường đầy cạm bẫy, đầy trở ngại và làm cho ông chán ngán. Vì là một thông dịch viên tài ba, ông được nhiều người chú ý. Dần dà ông trở nên trung gian giữa Việt Nam và Pháp. Thời buổi lúc bấy giờ, một người vừa am hiểu sâu xa văn hóa Á Đông, vừa tường tận nếp sống của người Âu thì thật không ai hơn ông. Qua sự tiếp xúc với một người trí thức như ông, người Pháp biểu lộ thái độ kính trọng ông cách riêng, và qua ông, họ cũng kính trọng dân tộc Việt Nam nói chung.
    Năm 1863, ông theo phái đoàn của Phan Thanh Giản sang Pháp và Espanha68 và được yết kiến Pháp hoàng Napoléon III. Tại Pháp ngoại giao đoàn rất khâm phục về những hiểu biết rộng rãi, cũng như sự thông thạo ngoại ngữ của ông. Tại Paris, ông được các câu lạc bộ văn hóa đón tiếp như một danh nhân. Những người nổi tiếng trong giới nhà văn như Victor Hugo, Renan, Dury trở nên bạn hữu của ông, và ông được đề cử làm thành viên của hội Dân Tộc học.69
    64 Cố Long là thừa sai Emile Boullevaux, Mep. Cha sinh năm 1823, đến Nam Kỳ năm 1848 và mất năm 1913. Xem:
    - Launay, Memorial de la Société des MEP (Paris, 1916), trg 78.
    65 Đoàn Bích, Famous Men of Việt Nam ghi trường này là Jesuits’ Far East Catholic Mission. Đúng hơn là trường của các Thừa sai Truyền Giáo Paris.
    66 Lm. Đặng Đức Tuấn làm giáo sư Hán văn tại Penang từ 1841 đến 1851; còn Trương Vĩnh Ký học ở đây từ 1852
    đến 1858, nên Pétrus Ký không có học chữ Hán với Lm. Tuấn. Hai người hình như không biết nhau cho đến lúc ký kết hòa ước 1862.
    67 Đoàn Bích, op. cit., trg 15.
    68 Supra. Xem Chương Hai Mươi Bốn, số IV, 2.
    69 Đoàn Bích, op. cit., trg 16.


    Lúc phái bộ Việt Nam về nước thì ông ghé thăm Rôma và được yết kiến Giáo Tông Piô IX. Năm 1866 ông được chỉ định làm Giám đốc trường Sư Phạm, và Giáo sư trường Hậu Bổ.70
    Sau một thời gian ngắn làm việc cho toàn quyền Paul Bert, vua Đồng Khánh bổ nhiệm ông vào Viện Cơ Mật của triều đình Huế. Trong chức vị này, ông luôn gặp trở ngại và sự ghen tuông của các quan đại thần trong triều, nhưng nhờ kinh nghiệm bản thân, ông thành công trong sứ mạng của mình, và càng khiến cho những kẻ thù địch thêm bực tức. Chính ở đây đụng đầu một lần nữa hai luồng tư tưởng lạc hậu và tiến bộ, một bên là triều đình Huế với những quan đại thần
    được hun đúc trong một lối giáo dục Nho Giáo đóng kín cũ rích, một bên là con người trí thức Công giáo với những tư tưởng phóng khoáng cởi mở.
    Không may, sau lúc toàn quyền Pháp Paul Bert mất, Pétrus Ký mất tất cả ảnh hưởng và quyền hành về phía Việt Nam cũng như về phía Pháp. Cả hai bên đều nghi kỵ ông, và từ đấy ông xin nghỉ hưu.
    Cuộc đời chính trị của ông chấm dứt ở đây. Có người gán cho ông là việt gian.71 Thật ra trong thâm tâm, lúc ông bắt tay với Pháp là có dụng ý cải thiện sự liên lạc giữa triều đình Huế và chính phủ Pháp, hầu tránh một cuộc chiến tranh đẫm máu mà ông biết chắc sự thất bại sẽ thuộc về quê hương ông. Bằng ngoại giao ông chủ mưu việc bảo tồn danh dự cho triều đình Huế, cho Việt Nam và đồng thời muốn nhờ sự văn minh của Tây phương, mà cụ thể lúc bấy giờ là văn
    minh của người Pháp, để gây cuộc phục hưng cho tổ quốc, để giải phóng người mình về phương diện tinh thần vẫn còn bị giam hãm trong một bầu khí xã hội, chính trị và văn hoá quá lạc hậu.
    Ông là một trong những người đầu tiên đứng ra bắt tay với người Pháp, để rồi cùng ngang hàng với họ trên con đường tiến bộ chứ không phải để làm nô lệ. Nhiều người có cảm
    tưởng rằng Pétrus Ký là một tín đồ Việt Nam theo đạo Gia Tô với ý nghĩ và hành động gần với ngưới Pháp hơn là người Việt Nam. Nhưng nếu nghiên cứu kỹ lưỡng đời sống gia đình, chính trị,
    văn hóa của ông thì phải chấp nhận rằng ông không những là một tín đồ Công giáo mà còn là một tín đồ Nho Giáo.
    Thật vậy, trong gia đình, ông thường tụ tập con cháu, đem những sách cổ ra giảng để cho biết thế nào là hiếu, nghĩa, lễ, trung, tín. Ông soạn hoặc dịch các tác phẩm như Kiếp Người, Nữ Tặc, Mẹ Dạy Con Gái Làm Dâu, Huấn Nữ, Gia Huấn, Bất Cương Thanh Bì, Thái ca, Minh Tâm Bửu Giám, v.v. để làm phương tiện đúc nắn hậu bối theo khuôn mẫu Nho giáo.
    Ông được người Pháp kính nể, và được lĩnh Bắc Đẩu Bội Tinh của Pháp. Thế nhưng lúc bằng hữu viết thư yêu cầu ông nhập tịch Pháp, ông vẫn khăng khăng từ chối để suốt đời được giữ bộ
    quần áo Việt Nam, và suốt đời là một người Việt Nam thuần túy.72
    Một số người đã phê bình rằng trên phương diện chính trị, nếu ông Trương Vĩnh Ký có những lỗi lầm đi nữa, thì sự nghiệp văn hóa mênh mông vĩ đại của ông đã che lấp tất cả những lỗi lầm đó, như nước thủy triều dâng cao, ngập tràn rồi san bằng những mô cát trên bờ biển và không để lại dấu vết.
    Sau lúc rời bỏ cuộc đời chính trị, ông đem tất cả trí tuệ, sức khỏe và thời giờ vào công việc văn hóa. Cũng như vận mệnh chung của những người tận tụy cho lý tưởng, ông mất trong cảnh nghèo nàn liêm chính ngày 1-9-1898.
    2. Sự Nghiệp Văn Hóa
    70 Ibid. In 1866 he was appointed director of the “Collège des Interprètes” in Saigon and six years later became the
    director of Việtnam’s first normal school.
    71 Ibid, trg 13.
    72 Lê Thanh, Trương Vĩnh Ký, trg 26. On m’écrit depuis trois couriers de suite en m’engageant à me faire
    naturaliser... J’y refuse carrément et je ne change pas d’opinion. (Thư gởi cho Lm. Sietert ngày 15-9-1888.)

    Nếu các thừa sai trước Alexandre de Rhodes đã có công sáng chế ra chữ quốc ngữ, thì Trương Vĩnh Ký, qua sự nghiệp văn chương của ông, đã mở đường cho chữ quốc ngữ được phổ biến sâu rộng trong quần chúng.
    Trước Petrus Ký, chữ quốc ngữ chỉ dùng trong giới Công giáo, chỉ có người Công giáo mới dùng chữ quốc ngữ để giảng dạy, nhất là dạy giáo lý. Truớc ông cũng đã có những tác phẩm bằng chữ quốc ngữ, về những đề tài ngoài tông giáo, nhưng thật hiếm hoi như Truyện
    Nước Annam Đàng Ngoài Chí Đàng Trão của Philipphê Bỉnh. Đây là tác phẩm không tông giáo trong số 26 tác phẩm của linh mục Philliphê Bỉnh S.J.
    Để phổ biến chữ quốc ngữ, Trương Vĩnh Ký dùng hai phương pháp là dịch sách Trung Hoa, chữ Nôm, chữ Pháp ra tiếng quốc ngữ, và sáng tác những tác phẩm bằng tiếng quốc ngữ.73
    Đọc qua những tác phẩm sáng tác hay phiên dịch của ông, độc giả sẽ có những nhận xét sâu xa về Việt Nam. Điển hình là quyển Lịch sử Việt Nam viết bằng tiếng Pháp. Qua tiếng Pháp, người Pháp và một số học thức gia trên thế giới biết được rằng nếu nước Pháp hãnh diện với một cô gái dũng cảm như Jeanne d’Arc, thì Việt Nam đã có Trưng Trắc, Trưng Nhị đứng lên chống quân Hán xâm lược; nếu Châu Âu đã quỳ gối trước lực lượng vũ bão của Mông Cổ do Attila chỉ huy,
    thì ở Việt Nam, Trần Quốc Tuấn đã đánh tan quân Mông Cổ. Ở Pháp có Napoléon thì Việt Nam có Quang Trung, sống cùng một thời gian nhưng ở hai địa bàn khác nhau. Chỉ qua bấy nhiêu sự kiện, người Pháp cũng đủ hiểu khí phách anh hùng dân tộc của người Việt là thà chết chứ không làm nô lệ ngoại bang.
    Ông viết sách văn phạm Việt Nam bằng tiếng Pháp. Với mục đích gì mà ông biên soạn sách dạy thực hành tiếng Việt cùng từ điển Pháp-Việt? Chẳng qua là để qua tiếng Pháp, người Pháp và dân trí thức trên thế giới hiểu được nền văn hóa Việt Nam phong phú đến mức nào. Họ
    sẽ đọc được Kim Vân Kiều, Lục Vân Tiên mà ông đã có công dịch ra tiếng Pháp. Sở dĩ Kim Vân Kiều có thể trở nên Kinh thánh của người Việt Nam như Lê Thành Khôi viết,74 là nhờ công của Trương Vĩnh Ký. Đằng khác người Pháp và người học tiếng Việt75 có thể hiểu và thưởng thức Kiều cũng nhờ Trương Vĩnh Ký đã phiên dịch ra quốc ngữ. Làm cho người đọc hiểu Kiều,
    thưởng thức Kiều, tức là thưởng thức những cái gì tinh hoa nhất trong văn chương thi phú Việt Nam. Công trình ấy thuộc về Trương Vĩnh Ký.
    73 Sách Trung Hoa và chữ Nôm dịch ra tiếng quốc ngữ:
    - Gia Huấn Ca, Trần Hy Tăng
    - Kim Vân Kiều, Nguyễn Du
    - Đại Nam Sử Ký Diễn Ca, Lê Ngô Cát
    - Gia Huấn Ca, Nguyễn Trãi
    - Lục Súc Tranh Công
    - Phan Trần Truyện
    - Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu
    - Đại Học
    - Trung Dung
    - Minh Tâm Bửu Giám
    Sách sáng tác bằng chữ quốc ngữ:
    - Kiếp Phong Trần, Sài Gòn, 1885
    - Chuyến Đi Bắc Kỳ Năm Ất Hợi, 1881
    - Phép Lịch Sự Annam, Sài Gòn, 1883
    - Sách Dạy Chữ Quốc Ngữ
    - Sách Dạy Chữ Nho
    - Huấn Nữ Ca
    - Thơ Mẹ Dạy Con
    - Mẹo Luật Học Tiếng Phú Lang Sa
    - Chuyện Đời Xưa, Sài Gòn, 1886
    - Bất Cượng Chớ Cượng Làm Chi, Sài Gòn, 1882
    Sách viết bằng tiếng Pháp:
    - Tóm Tắt Văn Phạm Chữ Quốc Ngữ, Sài Gòn, 1883
    - Lớp Quốc Ngữ Thực Hành
    - Imprimerie Impériale, 1868, 69 trang
    - Lớp Địa Lý Xứ Nam Kỳ , 1875
    - Từ Điển Pháp Việt, 1884
    - Lịch Sử Việt Nam, 1875
    74 Lê Thành Khôi, op. cit., trg 346: “Le Kim van Kieu est devenu la bible du peuple Vietnamien, Il n’est personne.
    qui n’en connaisse quelques strophes et n’en feuillette les pages avec ferveur pour y retrouver un écho de ses joies et
    de ses peines comme pour essayer d’y deviner l’énigme de sa destinée...”

    Nếu người nước Pháp thích đọc Andromaque của Racine, người nước Anh thích đọc Hamlet của Shakespeare thì người Việt thích đọc truyện Kiều của Nguyễn Du, sách Việt bằng tiếng quốc ngữ.
    Nếu Trương Vĩnh Ký không phiên dịch truyện Kiều ra chữ quốc ngữ, thì thử hỏi sẽ có bao nhiêu người Việt có thể đọc được Kiều bằng chữ Nôm? Ông đã hé mở vườn hoa văn chương Việt Nam cho người Việt và người ngoại quốc thưởng thức.
    Ông còn muốn độc giả thấm nhuần những tư tưởng Nho giáo bằng cách dịch ra quốc văn toàn bộ Tứ Thư, Đại Học, Trung Dung, và Minh Tâm Bửu Giám. Bộ Tứ Thư có một căn bản về triết học và luân lý của Đông phương. Dịch được bộ sách này, Trương Vĩnh Ký có một ảnh hưởng lớn trong nền giáo dục gia đình cũng như trong xã hội Việt Nam thời bấy giờ.76
    Dương Quảng Hàm trong Việt Nam Văn Học Sử Yếu đã không đánh giá đúng mức vị trí của Pétrus Ký trong nền văn học nước nhà.77 Nếu Đặng Đức Tuấn và Nguyễn Trường Tộ nổi tiếng về những tư tưởng chính trị xã hội, giáo dục, quân sự qua những bản điều trần, thì Trương Vĩnh Ký là một con người vĩ đại trong lãnh vực văn chương và văn hóa qua những bộ sách mà ông dịch như Kim Vân Kiều, Lục Vân Tiên, Gia Huấn Ca và bộ Tứ Thư.78 Đào Duy Anh viết:
    “Người đầu tiên có công khiến văn học ta thành sinh diện mới ấy là Trương Vĩnh Ký, một nhà học giả trứ danh ở Việt Nam. Ngay từ khi Việt Nam mới thành thuộc địa ông đã dùng chữ quốc ngữ để chuyển những văn Nôm,79 rồi lại dùng Việt Ngữ để phiên dịch sách Tàu,80 sách Tây,81 và sáng tác các loại sách bằng một loại văn rất giản dị.”
    Năm 1867, ông Kerguda đang làm thống đốc Nam Kỳ mời Trương Vĩnh Ký ra làm quan.
    Ông từ chối, nhưng xin thành lập một tờ tuần báo quốc ngữ Gia Định Báo.82 Trương Vĩnh Ký là ông tổ báo chí quốc ngữ ở nước ta. Ông điều khiển tờ báo năm 1869 với sự cộng tác của Paulus Huỳnh Tịnh Của,83 Trương Minh Ký và Tôn Thọ Tường. Tờ Tuần báo Gia Định trở nên phong phú với những bài khảo cứu, những bài sưu tầm về tục ngữ, ca dao, thi ca và chuyện cổ tích.
    Đặt vào tay Trương Vĩnh Ký một tờ báo như Gia Định Báo, là trao cho ông một phương tiện mà tự trong tâm can, ông coi như là một khí giới sắc bén tối tân, để chiếm lại cho quê hương về mặt văn hóa những gì mà triều thần lạc hậu đã làm mất về chính trị ngoại giao và lãnh thổ.

    75 Hiện giờ (1988) tiếng Việt là tiếng đứng thứ 7 về phương diện được thông dụng. Sau tiếng Anh, Pháp, Espanha,
    Nga, Trung Hoa, Ả rập là Việt Nam. Sở dĩ được như vậy là vì sau 30-4-1975 người Việt di tản đến hầu hết các nước trên thế giới tự do, cần cù sinh sống chịu khó học hành và ra sách báo bằng tiếng Việt. Phần khác, chính phủ Xã hội chủ nghĩa Việt Nam lại “xuất khẩu lao động” đến các nước Xã Hội Chủ Nghĩa để trả nợ. Do đó người Việt Nam có
    mặt khắp nơi và tiếng Việt trở nên phổ biến.
    76 Người ta tiếc rằng Pétrus Ký chưa có thời giờ để dịch bộ Thánh Kinh ra tiếng Việt. Việc ấy phải chờ đến Lm. Schlicklin năm 1913 và Lm. Nguyễn Thế Thuấn năm 1977.77
    Dương Quảng Hàm, op. cit., trg 330 dành nguyên Chương 14 viết về Nguyễn Trường Tộ, cònTrương Vĩnh Ký chỉ được cước chú bằng chữ nhỏ ở trang 395.
    78 Dương Quảng Hàm, op. cit., trg 395 không đề cập đến việc Trương Vĩnh Ký dịch Kim Vân Kiều, Tứ Thư, v.v. là
    những tác phẩm có giá trị.
    79 Kim Vân Kiều, Lục Văn Tiên, Nam Sử Diễn Ca, Phan Trần Truyện.
    80 Tứ Thư.
    81 Manuel des Écoles Primaires, Petit DictionnaireFrancais Annamite.
    82 Nguyễn Việt Chước (Hồng Hà), Lược Sử Báo Chí Việt Nam (Sài Gòn, 1974), trg 30.
    83 Tác giả của Đại Nam Quốc Âm Tự Vị (1895-1896).
    Cùng với Đặng Đức Tuấn, Nguyễn Trườụng Tộ và một số người Công giáo khác, TrươngVĩnh Ký đã cố hướng dẫn triều đình Huế về một chính sách cởi mở để cứu nước. Nhưng sĩ phu Văn Thân và Cần Vương la ó lên án rằng: ”Triều đình mở cửa cho kẻ cướp vào.”
    Một sự đấu tranh quyết liệt giữa hai luồng tư tưởng tiến bộ và lạc hậu đã diễn ra trên sân khấu Việt Nam vào thế kỷ 19. Đại diện cho tư tưởng tiến bộ là linh mục Đặng Đức Tuấn, Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký và một loạt người Công giáo đi du học nước ngoài.
    Đại diện cho tư tưởng lạc hậu là triều đình Huế, sĩ phu Văn Thân và Cần Vương hiếu chiến. Cuộc đấu tranh tạm kết thúc bằng sự thắng thế của hạng người lạc hậu, dùng sức mạnh của gươm đao để cướp bóc, chém giết người Công giáo và xô đẩy đất nước đến chỗ sụp đổ và làm nô lệ cho ngoại bang Pháp gần 100 năm.

    84 Trương Bá Cần, Nguyễn Trường Tộ(TPHCM, 1988), Dụ Tài Kê Cấp Bẩm Từ, Di thảo số 5, trg 69.
    85 Sau đây là một số sách về Trương Vĩnh Ký:
    - Jean Bouchot, Petrus Trương Vĩnh Ký, Erudit Cochinchinois (Sài Gòn, 1925).
    - Nguyễn Văn Trấn, Trương Vĩnh Ký, Con Người Và Sự Thật (NXB Khoa Học Xã Hội, TPHCM, 1993).
    - Nguyễn Văn Trung, Trương Vĩnh Ký, Nhà Văn Hóa (NXB The Writers Asso-ciation).
    - Bằng Giang, Sương Mù Trên Tác Phẩm Trương Vĩnh Ký (NXB Văn Học).

  11. Được cám ơn bởi:


  12. #7
    Tuan Anh's Avatar

    Tuổi: 20
    Tham gia ngày: Jun 2016
    Giới tính: Nam
    Đến từ: Việt Nam
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 46
    Cám ơn
    64
    Được cám ơn 24 lần trong 17 bài viết

    Default

    Cảm ơn bạn!! Bài viết hay như này mà không ai vào đọc là sao nhỉ? Nếu diễn đàn có chức năng ghim bài viết thì hay quá, để mọi người ai cũng phải đọc, đọc để biết, để hiểu thêm về lịch sử giáo hội nói riêng và Việt Nam nói chung, để không hoang mang trước lời đồn đại.
    Chữ ký của Tuan Anh
    Hỡi kẻ đạo đức giả! Lấy cái xà ra khỏi mắt ngươi trước đã.

  13. Được cám ơn bởi:


  14. #8
    teenvnlabido's Avatar

    Tham gia ngày: May 2011
    Tên Thánh: Giuse
    Giới tính: Nam
    Đến từ: HCM city
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 927
    Cám ơn
    1,503
    Được cám ơn 2,005 lần trong 603 bài viết

    Default

    Bạn Tuan Anh lại tiếp tục một câu hỏi như sau:
    Cho mình hỏi bạn một câu nhé, hôm nay mình vừa cãi nhau với một người chống đạo. Họ đăng một bức ảnh ghi như sau:"Sự Thật Cần Tôn Trọng, nhờ sự giúp đỡ của giáo sĩ Pellerin và giáo dân xứ An Nam dẫn đường, năm 1858 liên quân Pháp - Tây Ban Nha nhanh chóng dễ dàng tấn công vào nước ta". Mình biết câu đó là sai, nhưng mình muốn tìm hiểu thêm thông tin về lúc đó. Mong bạn giúp mình. Cảm ơn bạn.

    Như đã trình bày rằng dạo này tôi rất bận , hơn nữa, câu hỏi của bạn Tuan Anh chỉ quanh đi quẩn lại với những hoang mang khi trên báo chí ,sách vở và internet luôn luôn nhồi sọ và xuyên tạc vu vạ:

    _
    __ Giáo dân , giáo sĩ... Giáo Hội Công Giáo Việt Nam làm tay sai cho thực dân Pháp xâm lăng Việt Nam!

    Tất nhiên là tôi không ngại trả lời vì như từng tuyên bố đó là một việc Dễ ợt! Cũng như từng thách đố bất kỳ ai dám vặn vẹo vu oan và xuyên tạc Thiên Chúa và Giáo Hội!

    Nhưng không thể chỉ là vài câu nói cụt đu đu hay những câu trả lời loanh quanh đầu không tới đít thì không như chúng ta luôn luôn thấy! Hoặc không thể im lặng theo kiểu đáng khinh như tên sát nhân vương Napoleon đã từng lên án!

    Bởi vì sự trả lời, sự bênh vực Chân Lý cần phải chi tiết ghê gớm thì mới có thể thu được hiệu quả giống như phải hàng trăm nhát búa mới có thể đập vỡ một khối đá tảng!

    Bây giờ xin mở đầu phần thứ nhất:

    Tôi thường nhấn mạnh rằng luxiphe là một kẻ vô địch thế gian về tài quân sự và thủ đoạn! Không một cá nhân hay một tập thể nào có thể chống trả lại hắn!

    Bởi vì hắn và đồng bọn không từ một thủ đoạn nào, miễn là chủ đích làm sao cho con người ta không tin vào Thiên Chúa, hoặc xa rời Thiên Chúa! Mà một trong những mưu kế thâm hiểm ấy là lợi dụng vào cái lòng tự ái, cái sự vô tình cố tình thích vinh danh bản thân của nhiều người Công Giáo để rồi gài bẫy cho họ vô tình cố tình hiểu sai lệch Kinh Thánh! Kết cục là làm cho nhiều người hoang mang, lung lay đức Tin!

    Kẻ thù của Thiên Chúa và Giáo Hội chính là tội lỗi và thần dữ mà chúng ta không thể yêu được, mà phải Ghét! Nhưng cái ý tưởng đơn giản và rõ rệt như thế xin hỏi đã được bao nhiêu người Công Giáo chúng ta nhận định cho chính xác và đến nơi đến chốn?

    Cái đề tài :
    "Chớ nên yêu kẻ thù mà phải Ghét" vẫn còn đó, cũng như câu tôi hỏi tất cả mọi người đến nay vẫn chưa có ai dám trả lời! Không phải người ta không biết hay không dám trả lời, nhưng nếu trả lời chính xác thì họ sẽ phải hy sinh cái lòng tự ái và sự vinh danh bản thân của họ...

    Cái câu hỏi đơn giản ấy như sau:

    __ Kẻ thù của Thiên Chúa là tội lỗi và thần dữ, vậy có nên yêu chúng như chính mình hay không?

    Giáo Hội Công Giáo mà đứng đầu là Đức Giáo Hoàng đã ban bố Luật Giáo Hội. Trong Giáo luật Công Giáo cho phép cá nhân hay tập thể có quyền Tự Vệ, nhưng thần dữ đã lợi dụng sự kém hiểu biết và nhất là cái tính thích vinh danh bản thân của nhiều người trong chúng ta để làm cho họ vô tình và cố tình chống lại luật Giáo Hội, không vâng phục Giáo Hội.

    Theo luật tự nhiên mà Chúa đã sắp xếp, thì mạnh được mà yếu sẽ phải thua. Thế thì với sự thiện chiến và hùng mạnh của Hồi giáo, chắc chắn đạo Công Giáo sẽ bị xóa sổ, bị tuyệt diệt ngay từ thế kỷ thứ 10 hoặc 11, nhưng chắc chắn là Thiên Chúa không muốn như thế nên Người đã cho phép đức Giáo hoàng Urban đệ nhị phát động cuộc Thập tự chinh để cứu nguy cho nền văn minh Ki tô giáo. Còn chuyện khi đã chặn đứng được sự tiêu diệt Đạo rồi, người Công Giáo sống không ra gì nên Chúa lại để cho luật tự nhiên mạnh được yếu thua xảy ra , tức là hai trăm năm sau, đất đai chiếm được lại mất hết về tay người Hồi...

    Nhiều người Công Giáo chúng ta đáng chê trách ở chỗ đã không nhận thức chính xác về vấn đề luật Tự Vệ như trên, nhưng chỉ vì cái lòng tự ái bé tí teo, vì sự vô tình cố tình tôn vinh bản thân nên hoặc là im lặng như thóc hoặc là nghiêng về phe chống đạo khi bọn chúng lên án rao rêu rằng Giáo hội Công Giáo là thế lực tội ác khi tàn sát giết hại người Hồi vô tội khi phát động cuộc Thập tự chinh! Và cũng vì coi trọng cái vinh danh bản thân hơn sự tôn vinh Chân lý nên không muốn hiểu sự xin lỗi của thánh Giáo hoàng Gioan Phao lo II là một hành động thánh thiện Theo dấu Chân Thầy xứng đáng nhất...

    Bây giờ trở lại cái vấn đề cũ rích nhưng có lẽ không bao giờ chấm dứt cho tới khi tận thế, đó là ở Việt Nam chúng ta: các quý ông văn thân đời cũ xưa kia chỉ muốn giết cho tuyệt tộc người Công Giáo, rồi cho đến nay các ông văn thân đời mới vì không có đủ quyền đủ lực để tiếp tục sự nghiệp của cha ông họ , thì họ cố gắng khủng bố trên mặt trận tinh thần bằng cách hết sức hết linh hồn hết trí khôn rêu rao rằng Giáo Hội Việt Nam mà điển hình là các thừa sai, các giám mục linh mục rồi các giáo dân làm tay sai cho thực dân Pháp chiếm nước Nam!

    Tôi đã từng phản biện rất chi tiết và khá nhiều đối với sự vu vạ cáo gian và sự khủng bố tinh thần của các quý ông văn thân cũ mới này, nhưng xem ra không thể ngày một ngày hai mà chấm dứt được, nên tôi xin cố gắng hết sức và không bao giờ nản chí để tiếp tục như sau:

    __ Người Công Giáo có quyền Tự Vệ của Chúa ban cho để đối phó trước những kẻ rắp tâm xóa sổ đạo Công Giáo, tuyệt diệt người theo đạo Công Giáo. Chính Đức Giám mục Gauthier nhận thấy các quan triều đình không dùng một phương pháp nào để ngăn cản phong trào dấy loạn giết hại Công giáo, ngài liền ban phép cho Công giáo cầm khí giới để tự vệ, rồi giám mục viết thư cho các quan vào thời kỳ năm 1874 khi nổ ra các cuộc nổi loạn Văn thân:

    “Công giáo đã cầm khí giới không phải đề chống lại chính quyền, nhưng để bảo vệ mạng sống mình. Đã có từng nghìn người Công giáo bị sát hại, các quan đã làm gì để chận đứng cuộc sát hại đó?”( Launay, op. cit., Tập III, trg 503.)

    Nghĩa là giả sử Giáo hội Việt Nam lúc đó cầm khí giới để chống lại nhà cầm quyền như các vua minh mạng thiệu trị tự đức..., thì có thể tuyên bố rằng việc đó chẳng có gì là sai cả mà còn được phép. Giống như khi bọn diệt chủng Pol Pot là tay sai của tung cẩu đã giết hại vài triệu người Cam pu chia bằng súng đạn hay những nhát cuốc bổ vào đầu nạn nhân, thì liệu có ai còn lương tri của con người chứ không phải súc vật, mà lại dám rêu rao rằng người dân vô tội Campu chia nên bó tay mà chịu chết, chứ không được chống lại... hay không? Rồi bọn luxiphe hít le khi tàn sát dã man dân Do Thái, liệu có ai dám hô hào rằng dân Do thái không được chống lại, không được theo phe Đồng minh mà phải để yên cho bọn cầm quyền man rợ muốn bắn muốn thiêu sống tùy ý ...hay không?

    Những kẻ chống Đạo đã lợi dụng sự không hiểu biết về lịch sử thế giới để xuyên tạc rằng bọn thực dân đế quốc cấu kết với Giáo Hội Công Giáo! Chẳng hạn như Chính Thống giáo đã ly khai hoàn toàn với Giáo hội Roma từ thế kỷ thứ 10, nhưng rất nhiều người khi đọc lịch sử nước Nga thời các Sa hoàng, cứ ngỡ rằng Giáo hội Công Giáo Roma cấu kết với chính quyền Sa hoàng để mà kẻ thì đày đọa nông dân về phần xác, người thì áp chế về phần hồn!

    Những kẻ biết rành về lịch sử Châu Âu đều không lạ gì việc đạo Công Giáo trong các nước thực dân đế quốc mà nổi bật là Pháp, Đức, Tây ban nha... không còn là quốc giáo nữa, mà đã nổi lên những tôn giáo khác chống lại Giáo Hội Công Giáo mà sức mạnh còn vượt trội như tin lành chẳng hạn! Các ông hoàng, các vua chúa nếu cần vẫn có thể bắt giam, tra tấn tù đầy giết hại hàng Giáo phẩm Công Giáo nếu họ nghi ngờ tổn hại đến ngai vàng của họ! Sát nhân vương Napoleon dùng quyền lực của mình để uy hiếp bức bách đức Giáo hoàng thời ấy phải làm theo những ý muốn của hắn, muốn biến đạo Công Giáo ở Pháp thành một Pháp Giáo ! Những kẻ biết rành lịch sử châu Âu như thế đó nhưng nếu nói ra thì khác nào lại làm luật sư không công bào chữa tích cực hiệu quả cho kẻ thù mà họ muốn tiêu diệt! Thôi thì lợi dụng sự không hiểu biết của quần chúng, cứ nhập nhèm đồng hóa Giáo Hội Công Giáo với bọn thực dân đế quốc sẽ là một đòn hiểm đánh nốc ao kẻ thù!

    Đại nhân tiên sư sinh Bùi văn chấn tức Charlie nguyễn đã từng thán phục cách mà các tướng quân, các thiên hoàng Nhật bản tiêu diệt tận gốc đạo Công Giáo và tiếc thay cho vua quan nhà nguyễn mạt không chịu áp dụng! Nhưng ông ta dấu biệt không nói đến phương cách mà tướng quân, vua chúa Nhật bản đã thực thi để chống lại ách đô hộ của thực dân đế quốc! Bởi như đã nói ở trên, nếu nói ra thì nó sẽ chứng tỏ rằng vua quan triều nguyễn quá ngu tối trong việc lãnh đạo đất nước! Những cha mẹ của dân này chỉ biết thần phục bọn tung cẩu và những cha mẹ của dân này chính là
    thủ phạm duy nhất trong việc làm Việt Nam rơi vào tay ngoại bang!

    Bộ Nhật bản sử lược của Châm vũ Nguyễn Văn Tần mà tôi đã được đọc từ hồi còn nhỏ, nhưng vẫn nhớ bộ sách ấy thuật lại kế sách dùng người tây để trị người tây của các tướng quân Mạc phủ Nhật bản. Tất nhiên là tôi đã tìm kiếm trên mạng phải đến nghìn lần nhưng không thể kiếm ra! Có lẽ nguyên nhân là do không có một anh hùng nào có được bộ sách ấy và chịu tốn công sức đánh máy rồi upload lên mạng... Và nguyên nhân nữa có thể do bộ sách ấy "nhạy nhọ cảm" ,đụng chạm này nọ... cho nên người có điều kiện upload cũng không dám thực hiện vì sợ không phải đầu cũng phải tai...! Tuy nhiên, với từ khóa Châm vũ Nguyễn văn Tần, rốt cuộc tôi cũng đã kiếm được một tài liệu quốc gia để làm cơ sở chứng minh cho những phát biểu trên kia của mình!

    Xin mọi người hãy đọc tài liệu sau đây của tác giả Lê Thanh Tùng, thuộc Bộ Giáo dục và đào tạo, Đại học sư phạm TP HCM:

    ___
    Dùng tây trị tây

    Ở trang thứ 16 cuốn sách kể trên đã cho chúng ta biết về sự kiện đẫm máu Shimabara (1637-1638):

    ___ Năm 1637, Masuda Shiro Tokisada cầm đầu nông dân, võ sĩ và một số tín đồ Thiên Chúa giáo nổi dậy chiếm lâu đài Hara Arima. Chính quyền Mạc phủ huy động hai mươi vạn quân giết sạch hai vạn người, kể cả mười bảy vạn phụ nữ và trẻ em.

    Hình như trong một đề tài trả lời bạn Tuan Anh, tôi đã kể rằng Bùi tiên sư sinh vô cùng thán phục về cách chính quyền Nhật bản cứa cổ bốn vạn người Công Giáo trong một ngày đêm khiến cho đạo Công Giáo kể như tuyệt diệt ở Nhật! Tôi cũng không rõ tiên sư Bùi ấy đã căn cứ vào tài liệu lịch sử nào, nhưng nay đọc bài luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thanh Tùng vừa trích dẫn link, tôi thấy số dân Công Giáo Nhật bản vào năm 1582 đã là 150 mươi ngàn. Ba mươi năm sau tức 1612 đã tăng gấp mười lần tức một triệu rưỡi người! Vậy mà chính quyền Mạc phủ Nhật bản đã tàn sát đến nỗi đến thế kỷ thứ 20 số người theo Đạo chỉ còn là một con số không đáng kể!

    Trong sự kiện đẫm máu Shimabara kể trên , cuốn sách Nhật Bản sử lược của Châm Vũ Nguyễn Văn Tần đã cho biết rằng người Hà lan, tức cũng dòng giống Âu Châu đã tích cực giúp đỡ tướng quân Mạc Phủ trong việc tuyệt diệt quân nổi loạn bằng cách cung cấp đầy đủ súng ống đạn dược và khí tài quân sự tiên tiến nhất cho quân sĩ của chính quyền Nhật. Và có thể nói điều này là nguyên nhân lớn nhất để quân Mạc Phủ đại thắng. Cuốn sách của tác giả Lê Thanh Tùng không nói chi tiết về sự kiện Shimabara kể trên, nhưng cũng phải xác nhận bằng một câu như sau:

    ____Ngay cả người Hà Lan, có công giúp chính quyền dẹp loạn ở Shimabara còn được phép buôn bán cũng phải phá bỏ những cơ sở xây dựng bằng đá chắc chắn ở Hirado và chỉ được giữ lại một cơ sở rất nhỏ ở Deshima, gần Nagasaki. Họ không được phép đi lại và hàng năm chỉ có một số tàu nhất định được vào đó mà thôi.

    Chúng ta hãy đọc hết bài luận văn thạc sĩ của tác giả Lê thanh Tùng để thấy rằng trước những hiểm họa xâm lăng của bọn đế quốc thực dân phương Tây, tình trạng của nước Nhật còn khó khăn, còn rối ren hơn nhiều khi thù trong giặc ngoài, nội chiến liên miên. Trong khi đó kẻ thù truyền kiếp ngàn đời của Việt Nam là bọn tung cẩu thì đang trong tình trạng một con linh dương què đang bị đàn chó đốm xâu xé từng mảng thịt! Mấy đám giặc cỏ hầu như chẳng làm suy suyển được một tí nào vị thế của triều đình Huế. Và nước Pháp không hề xa lạ với triều nguyễn, bởi vì phải nói rằng cơ nghiệp của tên vua Gia long mà có được phần lớn cũng là nhờ đức giám mục Bá Đa Lộc đã góp công xây dựng cho ông ta! Những lời của Tả quân Lê văn Duyệt trách mắng vua minh mạng ( xin đọc LSGHCG của LM Bùi đức Sinh , hoặc một số đề tài tôi đã từng trích dẫn những câu nói này) khi được tin vua ra lệnh cấm Đạo đã cho thấy rằng vị Tả quân này là một trong không ít người nhận thấy rõ việc cấm đạo vừa là bất hiếu với vua cha, vừa là vô ơn, vừa là một sự ngu xuẩn đến nỗi có thể làm mất nước vào tay ngoại bang...

    Nước Nhật với sự phản loạn của các lãnh chúa và một số lớn tín đồ đạo Công Giáo khi bị chính quyền cấm đạo, cũng không thể làm cho nước Nhật bị Pháp, Mỹ, Nga... hay Hà lan đô hộ! Sức mạnh quân sự của Thái lan vào thế kỷ 18 thậm chí đến thế kỷ 20 cũng không hơn nổi Việt Nam từng bị đô hộ. Thế nhưng dù khó khăn hơn gấp bội, chính quyền Nhật đã khôn khéo để giữ vững được độc lập và rảnh tay, tự do để thành một siêu cường chỉ trong vòng hơn 50 năm. Sau trận Rạch Gầm Xoài mút, người Thái mỗi khi nghe đến tên Quang Trung Nguyễn Huệ trẻ thì có thể chết ngất mà già thì có thể đột quỵ...

    Thế nhưng với sức mạnh quân sự xấp sỉ bằng không khi so sánh với tây phương, vương triều Thái lan vẫn giữ được độc lập cho quê hương xứ sở của mình.

    Còn tiếp tục dài dài...




    thay đổi nội dung bởi: teenvnlabido, 24-10-2016 lúc 10:52 PM

  15. Được cám ơn bởi:


  16. #9
    cat's Avatar

    Tham gia ngày: Jun 2012
    Tên Thánh: Maria
    Giới tính: Nữ
    Đến từ: VN
    Quốc gia: Vietnam
    Bài gởi: 273
    Cám ơn
    469
    Được cám ơn 593 lần trong 173 bài viết

    Default @ Tuan Anh

    Trích Nguyên văn bởi Tuan Anh View Post
    Cảm ơn bạn!! Bài viết hay như này mà không ai vào đọc là sao nhỉ? ...
    Lời của Bạn Tuan Anh đúng được phân nửa, là "bài viết hay"; nhưng "không ai vào đọc" là chưa đúng. Có thể nói "không nhiều người đọc" hay chính xác hơn là ít người đọc hết mà đa số chỉ đọc một phần hoặc đọc qua loa... đó là suy nghĩ chủ quan của chị cat không biết có đúng không nữa (suy bụng ta ra bụng người ấy mà)
    mà lâu nay sao ít thấy bạn
    teen vào diễn đàn, không chừng bạn ấy cũng bị lỗ đen cuốn mất rồi !!!
    Chữ ký của cat
    "Chúng tôi không làm những điều to lớn, mà chỉ những việc nhỏ bé với hết lòng mến Chúa."
    (Teresa Calcutta)

  17. #10
    Titanic's Avatar

    Tham gia ngày: Dec 2008
    Giới tính: Nam
    Bài gởi: 227
    Cám ơn
    3,727
    Được cám ơn 1,294 lần trong 216 bài viết

    Default

    kiến thưc giáo lý cơ bản của bạn teen còn yếu lắm Cat ơi! nên có viết hay phát biểu dài bao nhiêu cũng chỉ làm màu với dọa người yếu tim thôi

  18. Được cám ơn bởi:


+ Trả lời chủ đề + Gửi chủ đề mới

Quyền hạn của bạn

  • Bạn không được gửi bài mới
  • Bạn không được gửi bài trả lời
  • Bạn không được gửi kèm file
  • Bạn không được sửa bài

Diễn Đàn Thánh Ca Việt Nam - Email: ThanhCaVN@yahoo.com