Hôm ấy, một nhà thừa sai Công giáo gặp một cậu bé người Ả Rập trên đường từ trường về nhà. Nhà truyền giáo vui vẻ hỏi:
- Sao, hôm nay con học thêm được gì về sách Coran?
Mắt cậu bé sáng lên và mau mắn đọc thuộc lòng những câu trích từ sách Coran và sách thánh của các tín đồ Hồi Giáo. Nhà truyền giáo nói thêm:
- Bây giờ, con thử viết những lời đó trên đất để cha có thể hiểu được dễ dàng hơn và học mau thuộc hơn không?
Cậu bé đáp:
- Thưa Cha, không được! Lời Thánh phải được viết trong trí và ghi khắc trong lòng chứ không thể viết trên đất được.
Câu trả lời đơn thành của cậu bé mang một ý nghĩa rất sâu xa, và nói lên lòng tin của cậu về giá trị của lời Thánh.
*
Lắm khi chúng ta sử dụng lời nói một cách bừa bãi vì thấy rằng chúng vô hại. Dù chúng ta có ý thức hay không? Lời nói luôn dẫn đến thực tế. Khi chúng ta để cho cơn giận bùng lên thành những lời nói bạo động thì những lời nói cũng sẽ tạo ra một phản ứng bạo động nơi người khác.
“Lòng đầy miệng mới nói ra” (Mt 12, 34). Chúa Giêsu đã tuyên bố điều đó dựa trên chính cuộc sống của Ngài. “Hiền lành và khiêm nhường trong lòng”, tâm hồn Chúa Giêsu được lấp đầy bằng những tâm tình yêu thương, cảm thông, tha thứ. Do đó, những lời nói của Ngài chỉ có thể là những lời nói của hòa bình, của cảm thông, của tha thứ.
Kitô giáo chính là đạo của Lời, Lời chính là Con Thiên Chúa nhập thể, đấng chính là Lời của Thiên Chúa ngỏ với con người. Giáo hội là cộng đồng những kẻ nghe, tin nhận Lời Ngài và đem ra thực hành trong cuộc sống. Lời của Ngài là lương thực hằng ngày trong cuộc sống, Lời của Ngài là ý lực sống của họ.
Sống đạo là để cho Lời của Ngài thấm nhập tâm hồn.
Sống đạo là để cho Lời của Ngài tuôn trào ra cửa miệng và thấm nhuần môi trường sống.
*
Lạy Chúa, thay cho những lời gian dối đang tràn ngập xã hội, xin cho con chỉ biết nói những lời chân thật.
Thay cho những lời hận thù đố kỵ, xin cho con chỉ biết nói lời hòa bình yêu thương.
Thay cho những lời phê bình, kết án, xin cho con chỉ biết nói những lời cảm thông tha thứ.
Thay cho những lời bi quan thất vọng, xin cho con chỉ biết nói những lời lạc quan tin tưởng.
Lạy Chúa, xin cho tâm hồn con luôn rộng mở để đón nhận và thấm nhuần Lời Chúa trong cuộc sống con. Amen.
Một đêm kia, khi vị mục sư đóng cửa nhà nhờ ông gặp một đứa bé đang ngủ ở hàng ghế sau cùng. Ông đánh thức cậu ta dậy và xin lỗi vì ông phải đóng cửa nhà thờ. Cậu bé liền cắt nghĩa. Đêm nay cậu không có chỗ nào để trú ngụ và mong được lưu lại trong nhà thờ. Vị mục sư trả lời là ông hy vọng cậu bé hiểu giùm ông, vì ngủ trong nhà thờ thật không hay. Thế là ông mời cậu tạm vào phòng tiếp tân chờ ông gọi điện thoại cho hai trung tâm cư trú trong thành phố, hãy gắng kiếm một chỗ cho cậu bé qua đêm. Rủi thay đêm đó không có trung tâm nào còn chỗ trống cả. Vị mục sư liền xin lỗi cậu. Cậu ta biết mình phải ra đi và đã lầm lũi bước vào bóng đêm.
Về nhà, ông ngồi vào chiếc ghế bành êm ấm cầm Thánh kinh lên đọc đoạn dành riêng cho ngày hôm ấy. Đó là bài dụ ngôn “Người Samaritanô nhân hậu”. Bỗng dưng vị mục sư nhận thấy cậu bé giống hệt như người đàn ông bị thương tích trong dụ ngôn trên, cậu đang cần sự giúp đỡ. Ông cũng nhận ra mình giống vị Thượng tế kia bước qua một bên mà chẳng giúp gì cho cậu bé.
*
Nhìn lại chính mình và tự vấn lương tâm, chúng ta cũng đã từng hành động giống như vị mục sư kia. Sách Châm ngôn có câu: “Vô tư khi người khác đau buồn thì cũng xấu xa như là ăn cắp áo khoác của họ khi trời lạnh, hay đem muối xát vào vết thương của họ”. (Cn 25, 20). Thánh Giacôbê cũng khuyến cáo: “Kẻ nào biết làm điều tốt mà không chịu làm thì mắc tội” (Gc 4,,17). Chúng ta đã từng đọc và nghe Lời Chúa nhưng hạt giống Lời Chúa đã không “Sinh hoa kết quả” trong cuộc sống chúng ta.
Người nghe Lời Chúa mà không đem ra thực hành cũng như “Người xây nhà trên cát” (Lc 6, 49). Cuộc đời này quá ngắn để chúng ta xây dựng khát vọng trường cửu của mình. Cần sáng suốt nhận định những gì chóng qua và những gì có giá trị vĩnh cửu. Hãy lấy Lời Chúa là khuôn vàng thước ngọc cho cuộc sống. Hãy áp dụng Lời Chúa vào mọi cảnh huống của đời ta: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho”. (Mt 6, 33).
*
Lạy Chúa, con phải bôn ba tìm kiếm lương thực mỗi ngày, nhưng xin Chúa đừng để con mất định hướng cho cuộc sống, giam hãm những khát vọng của con trong vòng cương tỏa của những giá trị chóng qua.
Xin Lời Chúa là ánh sáng soi tỏ bước chân con, và làm đổi mới tâm hồn con.
Xin cho con luôn sống theo Lời Chúa, để mỗi ngày con càng nên giống Chúa hơn. Amen.
Có một tu sĩ mà người ta đồn thổi là thánh thiện, được đặc ân xuất thần và nhìn thấy Chúa. Tiếng đồn ngày càng lan rộng khiến Đức Giáo Hoàng phải lưu ý và sai thánh Philipphê Nêri lúc đó đang sống trong một tu viện ở ngoại ô thành phố Rôma đến nơi điều tra.
Đang khi thánh nhân đi đường thì trời mưa to, nước ngập đoạn đường ngài đi qua, và khi đến được tu viện nơi có tu sĩ được đồn thổi là thánh thiện nhất, thánh nhân đã bị ướt đến tận đầu gối. Thánh nhân cho gọi vị tu sĩ thánh thiện đến để ngài gặp. Vừa nhìn thấy tu sĩ bước vào, thánh nhân đã ra lệnh ngay:
- Hãy quỳ xuống và cởi giày cho ta.
Vị tu sĩ này đứng im, mắt ngước lên trần nhà, không trả lời mà còn có thái độ khinh khinh người vừa ra lệnh cho mình.
Thánh Philipphê Nêri không cần hỏi thêm câu nào nữa, ngài lập tức ra về và trình lại cho Đức Giáo Hoàng:
- Thưa Đức Thánh Cha, một người mà thái độ tự kiêu như vậy thì không thể nào là một vị thánh được.
*
Con người có thể đoán xét lầm lẫn về nhau, nhưng Thiên Chúa chắc chắn không thể nhầm lẫn được. Chúng ta hãy xét lại đời sống của mình dựa vào lời khuyên của thánh Phêrô sau đây: “Anh em hãy từ bỏ mọi thứ gian ác, mọi điều xảo trá, giả hình và ghen tương cùng mọi lời nói xấu dèm pha. Như trẻ thơ, anh em hãy khao khát sữa tinh tuyền là Lời Chúa, nhờ đó anh em sẽ lớn lên để hưởng ơn cứu độ, nếu anh em đã nghiệm thấy Chúa tốt lành”. (1 Pr 2, 1-2).
Thiên Chúa không vội vàng, Ngài rất kiên trì và nhân hậu, chậm nổi giận và không hay kết án, Ngài “Không muốn kẻ tội lỗi phải chết, nhưng muốn họ ăn năn sám hối và được sống".
Phần chúng ta, không phải vì Thiên Chúa im lặng, chờ đợi mà chúng ta lại lạm dụng lòng nhân từ của Ngài và sống giả nhân giả nghĩa. Sự thánh thiện của môn đệ Chúa cần phải thể hiện qua những việc tốt lành: “Cây tốt phải sinh hoa quả tốt” (Mt 7, 17).
Thánh thiện không phải là bỏ thì giờ ra để cầu nguyện suốt ngày, không phải thức giấc hàng đêm để đánh tội hãm mình, cũng chẳng phải viết bất cứ cuốn sách đạo đức vĩ đạo nào, mà thánh thiện chính là sống một đời sống Kitô hữu gương mẫu.
Thánh thiện không có nghĩa là bắt chước một vị thánh lừng dang nào đó, nhưng thánh thiện có nghĩa là bắt chước những con người bình thường sống trong những thời buổi bình thường, là bắt chước những người biết cười biết khóc như chúng ta, là bắt chước những người đã từng phạm tội và đã chạy đến tòa cáo giải như chúng ta. Nếu có gì khác thường chính là ở chỗ các vị không bao giơ ngưng “Cố gắng sống theo Tin Mừng mỗi ngày”.
Vì thế, sự thánh thiện là một điều ai cũng có thể đạt được, không vượt quá tầm tay của chúng ta, cũng chẳng phải vượt quá khả năng của con người. Chỉ cần một chút cố gắng mỗi ngày: “Ai bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát”.
*
Lạy Chúa, xin thương giúp con sám hối và canh tân đời sống mình theo gương mẫu thánh thiện của Chúa, để mỗi ngày con được lớn lên trong tình yêu Chúa và hết lòng phục vụ anh chị em con.
Một vị thánh không phải là người không bao giờ vấp ngã, đó là người biết chỗi dậy và tiếp tục đi tới sau mỗi lần vấp ngã. Xin cho con luôn biết cố gắng mỗi ngày để con được bền đỗ trong ơn nghĩa Chúa đến trót đời con. Amen.
Cựu Tổng thống Nam Hàn, ông Roh Tae Woo đã khóc sướt mướt trên màn ảnh truyền hình quốc gia. Ông đã công khai thú nhận rằng, trong suốt nhiệm kỳ tổng thống của ông từ năm 1988-1993 ông đã tham lam công quỹ đến 645 triệu đô la. Ông nói trong nghẹn ngào: “Tôi cảm thấy vô cùng xấu hổ khi ra trước mặt quý vị, tôi sẽ nhận tất cả mọi trách nhiệm của tôi, tôi sãn sàng chịu mọi hình phạt”.
Đây không phải là lần đầu tiên một cựu tổng thống Nam Hàn công khai thú tội trước mặt mọi người. Năm 1989 tức là sau một năm ông Roh Tae Woo được bầu làm tổng thống, một người bạn thân và là vị tiền nhiệm của ông là Chun Do Hwan cũng đã ra trước công chúng để xin thú tội tham nhũng của mình. Với sự ưng thuận của chính phủ, ông này đã vào chùa tu tỉnh trong một năm trước khi trở về cuộc sống bình thường.
Nhìn nhận và xưng thú tội lỗi của mình trước mặt mọi người xem ra không phải là chuyện bình thường đối với một nhà chính trị. Dù sao ông Roh Tae Woo cũng đáng được ca tụng như một người có liêm sỉ, phải có đủ liêm sỉ mới dám nhận tội và công khai nhận tội.
*
Chúa Giêsu dường như cũng đề cao sự liêm sỉ của một người thu thuế. Vào thời đó, thu thuế là một nghề bỉ ổi, cấu kết với ngoại bang để bóc lột đồng bào của mình. Những người Do Thái khác nhìn họ với đôi mắt khinh bỉ, nhưng Chúa Giêsu không nhìn người bằng đôi mắt ấy. Ngài kết thân với những người thu thuế, những cô gái điếm, nói chung, với những người tội lỗi vốn bị xã hội ruồng rẫy và đẩy ra bên lề.
Dĩ nhiên thái độ của Chúa Giêsu không hề là một biện minh hay có ý khuyến khích cho tình trạng ấy. Ngài không bao giờ đề cao nghề thu thuế hay đĩ điếm, Ngài đến với họ là thể hiện tình thương, lòng nhân từ của Thiên Chúa và nhờ đó cải hóa họ.
Qua những người thu thuế, các cô gái điếm, Chúa Giêsu cũng muốn mạc khải cho con người một chân lý: Trước mặt Thiên Chúa, tất cả mọi người đều là tội nhân. Do đó, thái độ cơ bản nhất của con người phải là khiêm nhường và sám hối.
Chúa Giêsu đã đề cao thái độ đúng đắn của người thu thuế và lên án thái độ tự cao tự đại của người biệt phái. Người biệt phái kể lể công đức của mình trước mặt Chúa, bản kê khai ấy không có chút gì là man trá, người biệt phái quả thật đã có nhiều công đức. tuy nhiên, Chúa Giêsu lên án thái độ ấy là bởi vì người biệt phái tưởng mình không cần đến lòng thương xót của Thiên Chúa nữa, người biệt phái chối bỏ Thiên Chúa chính lúc ông kê khai công đức của mình vì ông cho rằng mình có thể làm được mọi sự kể cả công đức mà không cần có ơn Chúa.
Chúa Giêsu đã đề cao thái độ thành tâm của người thu thuế, vì ông sám hối thật lòng, ông chỉ dám đứng ở cuối đền thờ, không dám ngước mắt nhìn lên, ông ý thức một cách sâu xa rằng con người chỉ là tội nhân cần được Ngài xót thương và tha thứ: “Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn kẻ khiêm nhường” (1 Pr 5,5b).
Đó cũng phải là thái độ cơ bản của người tín hữu Kitô, người tín hữu thiết yếu phải nhận ra mối tương quan giữa mình và Thiên Chúa. Trong nhiệm cục cứu rỗi, tất cả là nhưng không, sự cao cả của con người chính là nhận ra được tính nhưng không ấy của ơn Chúa. Thánh Phaolô đã nhận ra điều này khi ngài viết: “Tôi có là gì cũng là nhờ ơn Thiên Chúa” (1Cr 15,10). Có cảm nhận được tính nhưng không ấy của ơn Chúa, con người mới có thể sống trong tâm tình cảm mến tri ân đối với Ngài.
*
Lạy Chúa, con là kẻ tội lỗi yếu hèn, xin thương nâng đỡ con. Trên hết mọi sự, xin cho con luôn biết thành tâm sám hối để đón nhận ơn Chúa, và sau khi đã cố gắng tập sống theo ý Chúa, xin cho con biết thốt lên: “ Lạy Chúa, con chỉ là đầy tớ vô dụng”. Amen.
Vào một đêm kia, có đôi vợ chồng mới cưới đi về vùng quê nghỉ mát thì bị mắc một trận mưa rào dữ dội. Không thể đi xa hơn, họ để xe hơi lại bên đường và đi bộ về hướng một căn nhà hắt ra ánh đèn lù mù. Khi họ bước vào thì một cặp vợ chồng già ra cửa đón tiếp. Người thanh niên trình bày tình trạng khó khăn và khẩn khoản:
- Ông bà có thể cho chúng cháu trú ngụ đến sáng được không? Nằm trên sàn nhà hay ghế bành cũng được.
Bà chủ nhà mau mắn lên tiếng:
- Được chứ, các cháu cứ thu xếp đồ đạc trong xe vào nhà, chúng tôi vừa có một căn phòng trống.
Sáng hôm sau, đôi tân hôn dậy sớm và chuẩn bị ra đi. Vì không muốn quấy rầy chủ nhà, họ lặng lẽ ra đi để lại 10 đôla trên chiếc tủ, rồi nhón chân xuống cầu thang. Khi mở cánh cửa thông qua phòng khách, họ bỡ ngỡ nhìn thấy hai vợ chồng già đang ngủ trên chiếc ghế dựa. họ đã nhường cho đôi bạn trẻ căn phòng ngủ duy nhất của mình.
*
Chắc chúng ta đã nhiều lần nghe nói con người không thể phạm tội vì yêu thương, nhưng không yêu thương là đã phạm tội rồi. Thật vậy, trong ngày phán xét chung, những người bị nghiêm phạt không phải là những kẻ làm điều gian ác mà thôi, nhưng còn bị phạt những kẻ thấy điều tốt mà bỏ qua không làm.
“Vì xưa Ta đói các ngươi không cho ăn, Ta khát các ngươi không cho uống. Ta là khách lạ, các ngươi không tiếp rước.Ta trần truồng các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm nom”. (Mt. 25, 42).
Đó là số phận đau khổ của người sống dửng dưng, không quan tâm đến ai khác ngoài cái tôi của mình, ngoài tiền bạc và tham vọng cá nhân. Người dửng dưng thờ ơ đó có thể là bất cứ ai, là người giàu keo kiệt hay anh nhà nghèo bủn xỉn. Mỗi người trong chúng ta đều có thể là người dửng dưng khi để cho tính lười biếng, ích kỷ xâm chiếm cuộc sống.
Khi suy tôn Chúa Giêsu là Vua, chúng ta hãy nhiệt tâm sống quảng đại, yêu thương. Vì Chúa là Vua Tình yêu, và chỉ có những ai thực hành yêu thương mới được sống trong vương quốc của Người.
*
Lạy Chúa, xin giúp con biết hổ thẹn vì sự thờ ơ, dửng dưng, lười biếng, ích kỷ của con.
Xin cho con biết sống bác ái chân thành và nhiệt thành phục vụ anh chị em con, để con được Chúa thương đón nhận vào Vương quốc Tình yêu của Ngài. Amen.
Sau cuộc chiến Nam Bắc phân tranh ở Mỹ, có một du khách đến thăm nghĩa trang quân đội ở Nashville và ở đây ông gặp một người đang trồng hoa trên một ngôi mộ. Du khách hỏi ông:
- Con ông chôn ở đây à?
- Không.
- Một thân nhân chăng?
- Không.
- Vậy tại sao ông lại trồng hoa trên ngôi mộ này?
Người đàn ông giải thích:
- Khi chiến tranh bùng nổ tôi đang ở Illinois và bị gọi nhập ngũ. Vì tôi nghèo không có tiền để mướn người thay thế, nên buộc phải vào lính. Sau khi chuẩn bị hành trang, tôi chào tạm biệt vợ con. Chính lúc đó, một người bạn thân đến nói với tôi:
- Anh có gia đình đông con, nếu anh nhập ngũ, vợ anh sẽ không thể mưu sinh. Vậy tôi sẽ thay thế chỗ của anh.
Tôi vô cùng sung sướng và hết lòng biết ơn anh bạn tốt bụng này.
Trong trận đánh Chikamenga người bạn này bị thương rất nặng và sau đó anh chết ở Nashville. Người ta chôn cất anh tại đây.
Khi nhận được tin này, tôi vô cùng đau đớn, tâm trí tôi không thể yên ổn ngày nào tôi chưa đến thăm viếng và trang hoàng ngôi mộ anh.
Nói xong, người đàn ông cắm trên nấm mộ anh bạn một thanh gỗ ghi hàng chữ rất cảm động: “Anh đã chết cho tôi”.
*
Biết ơn và thể hiện lòng biết ơn là nghĩa vụ hàng đầu trong cuộc sống. Bởi vì chúng ta không tự mình mà có, không tự mình mà nên người. Chúng ta không thể sống hạnh phúc mà không nhờ người khác. Tất cả những gì chúng ta có, tất cả những gì chúng ta làm được, tất cả những gì chúng ta hưởng dùng đều tùy thuộc hoàn toàn vào người khác. Thế nên, cuộc sống là một chuỗi những ân huệ nối tiếp nhau. Những ân huệ này đan xen với những ân huệ khác. Thậm chí khi chúng ta nhắm mắt xuôi tay thì những người còn sống vẫn tiếp tục ban ân huệ cho chúng ta.
Nếu sống là lãnh nhận thì chúng ta sẽ là con người như thế nào nếu không hề biết nói hai tiếng “Cám ơn”, hoặc chẳng bao giờ bày tỏ lòng biết ơn? Người ta gọi những kẻ không hề biết ơn người khác là “Đồ vô ơn”. Thật không có lời rủa xả nào thậm tệ hơn. Có quá đáng không khi nói rằng người vô ơn còn tệ hơn thú vật? Bởi vì khi ném cho con chó cục xương nó cũng biết vẫy đuôi cám ơn, còn người vô ơn khi nhận ân huệ chỉ biết trố mắt nhìn và…câm lặng! Ngạn ngữ Thổ Nhĩ Kỳ có câu: “Nếu con vật biết ơn sao con người lại không?”
Một người có tư cách thực sự là một người có lòng biết ơn. Một người có nhân cách là người biết cách thể hiện lòng biết ơn. Biết ơn không những là thể hiện của tư cách làm người, mà còn là thể hiện của niềm tin: Niềm tin vào Thiên Chúa là Cha yêu thương chăm sóc hết mọi loài, là cội nguồn của mọi sự. Niềm tin vào tình người luôn biết sống quảng đại trao ban. Vì thế, lòng biết ơn chính là những bông hoa rực rỡ tô điểm cho cuộc sống con người. Một tiếng nói “Cám ơn” với tất cả chân thành, một cử chỉ biết ơn sâu xa với người làm ơn cho mình sẽ làm cho chúng ta nên người hơn, và thể hiện niềm tin sâu sắc hơn.
Chúa Giêsu chính là mẫu mực cho con người về lòng biết ơn. Cả cuộc sống của Ngài là một “Bài ca tạ ơn” liên lỉ dâng lên Thiên Chúa:
- Ngài tạ ơn Chúa Cha trước khi cho Lazarô sống lại.
- Ngài tạ ơn Chúa Cha khi làm phép lạ cho bánh và cá hóa nhiều.
- Ngài tạ ơn Chúa Cha khi lập Bí tích Thánh Thể. Kể từ đó, mỗi Thánh lễ mà Giáo Hội cử hành được gọi là Thánh lễ Tạ Ơn.
Trong hầu hết các thư của ngài, Thánh Phaolô đều khuyên các tín hữu dâng lời tạ ơn Chúa: “Anh em hãy vui mừng cảm tạ Chúa Cha, đã làm cho anh em xứng đáng chung hưởng phần gia nghiệp của các thánh trong cõi đầy ánh sáng”. (Cl 1, 12). Chính Ngài cũng luôn tạ ơn Chúa: “Tôi hằng cảm tạ Thiên Chúa của tôi vì anh em, về ân huệ Người đã ban cho anh em nơi Đức Giêsu Kitô” (1 Cr 1,4). Ngài cũng ghi nhận và cám ơn tất cả những ai đã hỗ trợ ngài trong công tác rao giảng Tin Mừng: “Quà anh em tặng cho tôi đó, chẳng khác nào hương thơm, lễ vật đẹp lòng Thiên Chúa và được Người chấp nhận”. (Pl 4,10). Đúng như ngạn ngữ Anh có nói: “Cho người biết ơn là cho vay”. Thật vậy, lòng biết ơn là một đức tính rất quý. Biết ơn không bao giờ thừa, đến nỗi La Bruyère đã xác quyết mạnh mẽ rằng: "Trên đời không có thái quá nào đẹp bằng biết ơn thái quá”.
*
Lạy Chúa, con là không và Chúa là tất cả. Suốt đời con ngụp lặn trong đại dương ân huệ Chúa.
Con không thể hiện hữu mà không có Chúa, con cũng không thể sống mà không cần đến anh em. Xin cho con luôn sống trong tâm tình biết ơn.
Trước hết, là tạ ơn Chúa, đã dựng nên con, yêu thương con và mãi mãi quan phòng cho đời con.
Sau nữa là cảm ơn mọi người, cách này hay cách khác đã, đang và sẽ làm cho đời con tươi đẹp và hạnh phúc hơn.
Xin cho con luôn sống đúng tư cách làm người là luôn sống có tình có nghĩa, luôn biết thể hiện lòng biết ơn, luôn trân trọng những ân huệ mà Chúa và anh em đã làm cho đời con. Amen.
Một thiếu niên 16 tuổi đã dạy cho cả thế giới một bài học về phần thưởng lớn lao của sự phục vụ vô vị lợi.
Tại một ngôi làng, tất cả mọi người đều làm công việc đánh cá. Để phòng ngừa những trường hợp bất trắc có thể xảy ra, dân làng đã thành lập một đội cấp cứu tự nguyện, luôn luôn túc trực để ra khơi bất cứ lúc nào.
Một chiều nọ, sóng to gió lớn nổi lên, mây đen vần vũ che kín cả một vùng biển, khiến cho một chiếc ghe đánh cá lạc hướng không thể vào bờ. Nhận được tín hiệu cấp cứu ông đội trưởng đội cấp cứu đã báo động và tụ tập toàn thể dân làng, đội cấp cứu tự nguyện đã xuống thuyền ra khơi giữa tiếng hoan hô cổ vũ của dân làng.
Một tiếng đồng hồ sau, chiếc ghe của đội cấp cứu xuất hiện xuyên qua lớp sương mù giữa tiếng hoan hô reo hò của dân làng. Vừa lên bờ, đoàn người tự nguyện nằm lăn trên bãi biển, họ cho biết vẫn còn một người đánh cá bị xem là mất tích. Dù chỉ là một người, dân làng cũng không thể nào trở về nhà, thế là ông đội trưởng quyết định ra khơi một lần nữa và lần này ông xin thêm một người tự nguyện nữa. Giữa lúc mọi người đang chần chừ do dự thì một cậu bé 16 tuổi tiến lên. Người mẹ đứng bên cạnh kéo vội con lại và nài nỉ.
- Con ơi, đừng đi, cha con đã thiệt mạng trong một cuộc đắm tàu cách đây 10 năm, và anh con vừa mất tích trên biển chỉ mới cách đây 3 tuần, mẹ chỉ còn lại có một mình con!
Nhưng người con lại van xin:
- Mẹ ạ, nếu con không đi thì ai sẽ thay con, con phải làm bổn phận của con, tiếng gọi phục vụ đã đến, chúng ta cần phải đáp lại.
Nói xong, cậu bé hôn mẹ, đi theo đoàn người cấp cứu tự nguyện và mất hút trong đêm đen dày đặc.
Một giờ qua đi như hàng thế kỷ đối với bà mẹ đang đứng ngóng chờ trên bãi biển. Cuối cùng, chiến ghe cấp cứu đã đâm qua lớp sương mù và tiến vào bờ. Viên đội trưởng đưa tay làm loa hỏi người thiếu niên:
- Có tìm được người mất tích không?
Người thiếu niên trả lời với tất cả xúc động:
- Chúng tôi đã tìm được anh ta, xin hãy báo cho mẹ tôi biết rằng: người ấy chính là anh trai tôi.
*
Người thiếu niên không chỉ cứu vớt được một mạng người, cậu còn gặp lại được chính người anh thân yêu của mình. Nếu có một bài học mà người ta có thể rút ra từ tấm gương trên đây của người thiếu niên thì bài học đó hẳn phải là: “Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân”.
Đó là sứ điệp chạy xuyên suốt Tin mừng của Chúa Giêsu. Qua cuộc sống và cái chết của Ngài, Chúa Giêsu không chỉ mạc khải cho chúng ta Tình yêu của Thiên Chúa đối vối con người, Ngài còn tỏ bày cho chúng ta chân lý về con người. Chân lý đó là:
“Con người chỉ tìm lại bản thân và đạt được một nhân cách sung mãn bằng cách hiến thân vô vị lợi mà thôi”.
Nói cách khác, giá trị đích thực của con người hệ tại ở lòng quảng đại và sự hy sinh. Con người càng trưởng thành hơn, càng nên người hơn trong mức độ họ biết xả thân hy sinh cho người khác. Đó là chân lý không được con người thời đại quan tâm. Quan hệ giữa người với người trên nguyên tắc “Ăn miếng trả miếng”, "Mạnh được yếu thua”. Người ta nói nhiều đến hai chữ “Tranh đấu” mà quên đi hai chữ “Phục vụ”. Người ta nhấn mạnh đến quyền lợi cá nhân mà không màng đến quyền lợi kẻ khác.
Rốt cục, con người có được tất cả, nhưng lại đánh mất chính mình: “Được lời cả thế gian mà mất đi linh hồn nào được ích gì?”. Mục đích của cuộc sống là gì? Hạnh phúc đích thực là gì? Sự trưởng thành đích thực là gì nếu không phải là tìm gặp lại chính mình trong hy sinh phục vụ và sống cho tha nhân.
Lạy Chúa, xin ban thêm niềm tin cho con, để con tìm được ý nghĩa của cuộc sống xuyên qua những công việc độc điệu hằng ngày.
Xin cho con biết sẵn lòng hy sinh âm thầm cho người thân và mọi người xung quanh con vì lòng yêu mến Chúa. Amen.